255 NĂM LĂNG MỘ BÙI NGUYỄN THÁI VÀ GIA TỘC HỌ BÙI PHƯỜNG ĐẠI PHÚC, BẮC NINH

  04/02/2017

Bắc Ninh là tỉnh có truyền thống văn hiến: về khoa bảng có tới hơn 500 vị tiến sỹ, hàng ngàn vị cử nhân, tú tài. Về di tích lịch sử văn hoá có hàng ngàn di tích các loại. Những di tích đó có đủ các loại hình như:di tích khảo cổ, di tích lịch sử cách mạng, di tích kiến trúc nghệ thuật và di tích lưu niệm các danh nhân văn hoá, các nhà khoa bảng, các lãnh tụ cách mạng tiền bối.

Những di tích lịch sử văn hoá đó đều là các di sản quý báu phản ánh về lịch sử lâu đời và truyền thống văn hiến của quê hương, đất nước và dòng họ. Từ xưa đến nay nó đã được các thế hệ nối tiếp nhau gìn giữ, bảo vệ và phát huy tác dụng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc.

Lăng đá Bùi Nguyễn Thái (quận công thời Lê) xã Đại Phúc (nay là phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) được xếp hạng di tích Kiến trúc - Nghệ thuật theo Quyết định sô 28/BVH ngày 28 tháng 1 năm 1988

Theo thần phả hàng tổng tại văn chỉ tổng Đỗ Xá, huyện Vũ Giàng, làng Đại Vũ (Kinh Bắc xưa kia), bia ký tại lăng Bùi Nguyễn Thái và gia phả họ Bùi phường Đại Phúc thì Tổ ông Bùi Nguyễn Thái (1665 – 1747) là một vị công thần dưới triệu đại nhà Lê, chức Tổng Thái giám thoan - trung hầu quận công, trải qua các triều đại vua: Lê Hy Tông (1676 - 1704), Lê Dụ Tông I (1705 - 1719), Lê Dụ Tông II (1720 - 1729), Lê Duy Tông (1730 - 1732), Lê Thuần Tông (1735 - 1740), Lê Hiển Tông (1740 - 1786).

Tổ bà Trịnh Thị Lai được vua phong ẤM CẨM NHÂN.

Lăng tẩm của Đức tổ Thoan trung hầu, quận công Bùi Nguyên Thái được đặt trên núi Vũ Sơn, xóm 1 làng Đại Vũ xưa, nay là phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Lăng được làm hoàn toàn bằng đá, phía trước là bãi Ấn Thiêng, gần chùa Linh Sơn (còn gọi là chùa Cao). Phía trước mộ có một ngai thờ bằng đá kê ở trên mặt sập, sập cũng được làm bằng đá, trên khắc hoa văn, được dùng làm sập thờ. Trước sập có một hương án. Phía trước hai bên hương án có 2 đẳng tế, xung quanh hương án đều có hoa văn tinh sảo; ở giữa hương án có khắc 3 chữ nho PHỤNG SỰ HINH.

Hai bên hương án có khắc 2 câu đối bằng chữ nho

Câu bên hữu:           CAN TỰ THẠCH KIM THUỶ BẤT HỦ

Câu bên tả:              TỨ THỜI HƯƠNG HOẢ DIỆU VÔ CÙNG

Phía trước hương án ở 2 bên có 2 ông tượng vũ sĩ bằng đá cao 1,3m, một ông cầm chuỳ, một ông cầm gươm và 2 ngựa đá cũng cao 1,3m. Hai tượng vũ sĩ có tên Hùng Tài và Dũng Lược. Hai ngựa đá có tên Tiệp Vân và Tiệp Vân Vu.

Trong lăng tẩm có một tấm văn bia ghi: Từ Sơn phủ, Vũ Giàng huyện, Đại Vũ xã vạn thế phụng sự Hậu thần bi ký do triều đại nhà Lê và dân Đại Vũ khắc đá lưu giữ tại lăng tẩm. Mặt trước tấm bia có ghi đầy đủ chức tước của Đức tổ Bùi Nguyễn Thái trong triều đình nhà Lê được phong tước Hầu và Tổ bà là Trịnh Thị Lai được nhà vua phong Ấm Cẩn nhân và công lao của Tổ ông, tổ bà đối với triều đình nhà Lê cũng như với dân làng Đại Vũ xưa.

Nội dung tấm bia tại lăng mộ:

HẬU THẦN BI KÝ

Phủ Từ Sơn, huyện Vũ Giang, xã Đại Vũ làm bài ký bia hậu thần thờ cúng muôn đời.

Thường nghe nói: Bia để khắc công ghi đức, là đã có từ xưa vậy. Cho nên người có công đức với dân thì dân tỏ lòng mến mộ, không phải từ áo hoa vua ban, từ lộng lẫy châu ngọc, những thứ ấy sao đủ làm sáng công nhiều tỏ đức tốt được. Cả xã mọi người trên dưới kính cẩn phô bày: Ở đội tiền trí trong phủ Vua, đội tuỳ hầu bên phủ chúa đã giữ các chức: Tri huấn sắc nội giám quan, Tri thái y viện, Thiêm tri nội thư tả lại phiên, đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, đó là quan thái giám Thoan trung hầu.

Ông là người phong lưu trong trắng, khoan hồng độ lượng, hợp hiểu biết rộng lớn với ý trời mà mọi nghĩ suy gắn bó, dồn khí tiết trong sáng vào cuộc đời nên mọi việc đều theo. Vàng tía khoác lên mình là điều hiển vinh trong nước, thanh bạch bền lòng là phúc khánh ở nhà. Ý chí hiên ngang to lớn, phong cách trung hậu tốt lành. Thật rạng rỡ hơn cả áo hoa lộng lẫy. 

Giờ đây, lấy lời khen trong làng xã mà thấy sự hưởng thái ấp sùng vinh, lấy tôi quý nơi triều phủ mà nghĩ đến cảnh nhà tranh dân mọn. Để dạy bảo, đặt hai mươi điều răn tật xấu làm ngay thẳng lòng dân, cho cấy ruộng, có vài trăm mẫu không thu tô làm thư giãn dân làng.

Vậy thì có thể khiến từ ngõ hẻm quẩn quanh đến xóm làng phú quý đều tươi vui hớn hở, mọi sinh dân thoả lòng với môi trường đầy thóc lúa, tạo nên cảnh an nhàn nơi quê hương vui hội tụ, những cái đó đều do quý hầu đem đến.

Vả lại quý hầu phu nhân là Trịnh Thị Lai, tính vốn trinh nhàn, đức gồm hiếu kính, lấy điều nhân để hoà thuận họ hàng, đem điều nghĩa để huệ ân thôn xóm, người người đều kính mộ, ai cũng gần gũi mừng vui. Trong làng từ cụ già đến em nhỏ đều nói: Người có đức lớn được hưởng phúc dầy, người có công to được nhiều đền đáp. Thật là chí lý.

Trong ấp ta từ đầu đến chân mọi người đều chịu công đức của quý hầu. Núi có nghìn trùng, sông có muôn khoảnh, không thể lấy tầm trượng để nói, sao ta chẳng nghĩ để đáp đền lại lấy mảy may. Vì thế trên dưới một lời hiệp bầu quý hầu và lệnh chính thất làm hậu thần. Lâu dài về sau, tuế thời hương lửa phụng thờ theo nghi lễ. Dẫu ba xuân tấc cỏ đền đáp không bờ, mà nghĩ đến câu “cho mận trả quỳnh” cũng vậy. Đó là để bộc bạch tấm lòng tin như thế. Quý hầu lại ân huệ cho, nào ruộng nào tiền giúp đỡ lúc ngặt nghèo kể sao cho xiết. Hội lại những điều tu chỉnh bảo ban của quý hầu khắc lên bia thần để lưu truyền lâu dài.

Thiết nghĩ ân huệ của quý hầu bao phủ, bia miệng người đời còn nói, sao bằng gửi trên bia đá. Nghĩ đến lòng từ khoáng đãng, cõi lớn khoan hồng, nhẹ nhàng nói ra miệng, thầm lặng khắc trên bia, sao bằng đục chạm nơi vũ triện xây dựng ở quy phu, nêu yết trước tai mắt mọi người, để tỏ ân huệ của quý hầu là trọng hậu, và đền đáp của thôn xóm là chí thành. Cũng như cả hai đều nói lên cái vô cùng lớn lao là như vậy. Vì thế khắc vào bia Hậu thần quan hai vị:

Thoan trung hầu Bùi Nguyễn Thái, Thái giám

Trịnh Thị Lai phong ấm Cẩn nhân

Hoàng triều niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 15, năm Đinh Mão, tháng ba, ngày lành lập lời bầu.

Theo dòng lịch sử

Dòng họ Bùi làng Đại Vũ, huyện Vũ Giàng, phủ Từ Sơn trong triều hậu Lê (Lê trung hưng) gồm có:

1.         Triều liệt đại phu thị nội văn chức, kiêm Chi thị nội thư tả, Lại phiên Thống Chánh sứ, Tư thông Chánh sứ phong tặng trung trinh Đại phu tử, Trung sung Bùi Tướng công tự Tích hành, thuỵ Tích, đức tiên sinh Thoan trung hầu Bùi Nguyễn Thái;

2.         Công bộ viên ngoại lang Giám tử Bùi tướng công thuỵ Điện bàn tiên sinh;

3.         Giám dụ văn phong Nam thuỵ Quế sơn tiên sinh;

4.         Ngự sử đài chức Khang Bùi tướng công Trung nghị tiên sinh;

5.         Giám sinh Bùi quý công thuỵ Đức tảo tiên sinh;

6.         Quan viên tử nho sinh Bùi quý công thuỵ Thần cẩn;

Kế tiếp triều đại vua Lê chúa Trịnh, đức tổ Bùi Nguyễn Thái cùng tổ bà Trịnh Thị Lai và các thân đệ được sắc phong:

1.      Tổ ông được sắc phong Thoan trung hầu, tổ bà được sắc phong Ấm Cẩn nhân;

2.      Thân đệ Lê triều sắc phong huyện thừa Bùi Nguyễn Bảo tự Phúc Chinh

3.      Thân đệ Lê triều sắc phong Bách bộ hầu Bùi Hữu Định;

4.      Thân đệ Lê triều sắc phong Giảng hầu Bùi tướng công tự Hải Chung, thuỵ Phúc Đức;

5.      Lê triều sắc phong Cai hợp kiêm bản xã chủ trương Bùi quý công huý Loát

Tiếp bước tổ tiên mình, họ Bùi làng Đại Vũ gồm con cháu chắt chút chít của đức tổ họ Bùi đã đỗ đạt và đã có công lao với đất nước, thiết thực trong làng quê của mình và đền đáp công ơn của tổ tiên.

1.      Bùi quý công huý Đoan tự Trung Trinh, thuỵ Trung Xuân, đỗ Tú tài (theo gia phả). Em trai là Bùi quý công huý Thuyên, Thượng thư bách bộ (cửu phẩm). Đến đời chắt của cụ là Bùi Văn Cẩn, năm 1945 đi theo cách mạng từ nhỏ, là Thường vụ tỉnh uỷ tỉnh Bắc Thái;

2.      Bùi quý công huý Đảng đỗ Cửu phẩm văn giai. Con trai cụ là Bùi Huấn Hố là huyện đội trưởng huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh;

3.      Bùi quý công huý Đạt, cửu phẩm văn giai, là Đại biểu Hội đồng nhân dân khoá 2 – 1948

4.      Bùi Kim Lang, Bí thư chi bộ kiêm Chủ tịch uỷ ban kháng chiến xã Đại Tráng 1952 – 1954 (hy sinh năm 1954);

5.      Bùi Văn Vượng (Bùi Lê Tuyên) Bí thư chi bộ Đảng, Chủ tịch UBND xã Đại Tráng 1954 – 1957, 1960 – 1968;

6.      Bùi Văn Dần, chủ tịch UBND xã Đại Phúc 1954 – 1956;

7.      Bùi Mạnh Hiệp, Chủ tịch UBND xã Đại Phúc 1965 – 1967;

Những người dòng họ Bùi đỗ đạt từ 1975 đến 2008

  1. Bùi Đức Liễn, hoạ sĩ;
  2. Bùi Văn Tuân, Bác sĩ;
  3. Bùi Đức Huy, Kiến trúc sư;
  4. Bùi Chí Trung, Kiến trúc sư;
  5. Bùi Dũng Thắng, Kiến trúc sư;
  6. Bùi Đức Quân, Cử nhân kinh tế;
  7. Bùi Tuấn Long, Kỹ sư xây dựng;
  8. Bùi Thanh Hằng, Đại học an ninh;
  9. Bùi Đức Hưởng, đại học;
  10. Bùi Thị Biển, đại học ngoại ngữ;
  11. Bùi Quang Thanh, Đại học an ninh;
  12. Bùi Đoàn Ngọc Ánh, đại học ngoại thương,
  13. Bùi Linh Chi, đại học nông nghiệp;

Năm 2007, dòng họ lập Quỹ khuyến học mang tên Quận công Bùi Nguyễn Thái. Từ năm thành lập đến nay, Ban khuyến học đã khen thưởng từng năm như sau:

2007 có 35 học sinh được khen thưởng: 8 học sinh giỏi, 27 học sinh tiên tiến, 2 đại học;

2008 có 45 học sinh được khen thưởng: 19 học sinh giỏi, 26 học sinh tiên tiến, 1 đại học;

- 2009 có 47 học sinh được khen thưởng: 20 học sinh giỏi, 27 học sinh tiên tiến, 1 thi đại học.

Ngoài ra Hội Khuyến học đã tổ chức cho các cháu đi tham quan như: vào viếng lăng Bác, thăm nhà sàn của Bác, vào thăm Văn miếu Quốc tử giám.

 (Theo gia phả dòng họ do anh  Bùi Văn Vượng (tức Bùi Lê Tuyên) cùng các cụ trong làng dịch từ cuốn thần phả hàng tổng tại văn chỉ để lại)

BÙI ĐỨC TÂN

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 8
  • 292
  • 2,067,371