Bia lập trại Sĩ Lâm tại xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định

  04/02/2017

Tháng 6 năm 2003, chúng tôi đi khảo sát thực tế tại xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Xã Nghĩa Lâm nằm ở phía Đông Nam của tỉnh, cách thành phố Nam Định 48 km. Sau khi gặp gỡ và làm việc với các đồng chí Ủy ban nhân dân xã, chúng tôi được dẫn xuống đền thờ của Tam Đăng Hoàng giáp Phạm Văn Nghị.

Đền thờ nằm ngay dưới chân cầu bắc qua con mương nho nhỏ, gần bến xe Quỹ Nhất. Đền thờ dựng từ lâu đời, nay mới được trùng tu sửa chữa lại khang trang sạch đẹp. Cùng nằm trong quần thể di tích, phía bên trái của đền có một gian thờ thành hoàng làng. Xuôi xuống phía dưới đền khoảng 200m có đền thờ của dòng họ Phạm. Ở xã Nghĩa Lâm có nhiều dòng họ sinh sống nhưng đông nhất là dòng họ Bùi, dòng họ Phạm, mỗi dòng họ đều có đền thờ tổ của mình.

Chúng tôi được tiếp chuyện bác coi đền Phạm Văn Đẩu – cháu đời thứ 6 của cụ Phạm Văn Nghị. Bác đã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu quý báu còn truyền trong dân gian về việc Phạm Văn Nghị khẩn hoang lập ấp cũng như công lao của ông đánh giặc giữ nước. Tuy nhiên, thật đáng tiếc, trải qua nhiều biến đổi thăng trầm, con cháu đời sau không còn giữ được những tư liệu như lệ bạ, sắc phong… ngoài một tấm bia lập trại được đặt trong đền thờ của ông.

Bia được đặt trên bệ xi măng cao 0,5m, nằm phía bên trái điện thờ. Bia hai mặt, khổ 115 x 65cm. Trán bia được trang trí hình chim phượng đang sải cánh rất tinh xảo. Điểm nổi bật là ở mặt chính diện ngay phần đầu trong lòng bia chạm khắc họa tiết hình mặt nguyệt.

Bia còn được giữ nguyên vẹn, chữ khắc rõ nét ở cả hai mặt bia. Mặt chính bia (mặt 1) khắc 12 dòng (dòng 15 chữ), tổng số 139 chữ. Mặt sau bia (mặt 2) khắc 20 dòng (dòng 21 chữ) tổng số là 259 chữ. Bia được khắc vào ngày 26 tháng 3 năm Nhâm Thân niên hiệu Tự Đức thứ 25 (1872) và tác giả của bài văn bia này là Hoàng giáp Tiến sĩ, Hàn Lâm viện Thị giảng Học sĩ, Thương biện Nam Định, Hải Phòng Phạm Văn Nghị.

Nội dung mặt 1 của bia ghi lại việc thành lập trại Sĩ Lâm (nay thuộc xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Trại được lập vào năm Nhân Tý niên hiệu Tự Đức thứ 5 (1852). Trước đây, ông tổng đốc Nam Định là Nguyễn Điển đã cho phép và ký giấy mở đầu công việc khai hoang lập ấp. Sau này, Phạm Văn Nghị cùng với anh trai mình là Phạm Văn Thanh – hiệu Phác Trai tiên sinh và cùng với 14 sĩ phu ở các nơi Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam… đứng ra tiếp tục công việc chiêu mộ dân nghèo về đây khai hoang lập nên trại Sĩ Lâm. Sau khi khẩn hoang lập trại họ được miễn sưu thuế trong vòng 23 năm. Họ đặt ra các điều ước, ghi chép lệ bạ trên bia đặt tại bản trại, lập đền thờ để con cháu ngày sau đời đời không được quên đi nguồn cội. Mặt thứ hai chủ yếu ghi lại đầy đủ tên, chức tước, quê quán 16 người có công đóng góp tài lực cho việc khẩn hoang lập trại Sĩ Lâm và nêu ra một khoản trong điều ước của trại quy định việc thờ cúng sau này đối với những người có công đó.

Tóm lại, nội dung của bia đã cung cấp cho chúng ta những thông tin sơ bộ ban đầu về việc khẩn hoang lập nên trại Sĩ lâm. Tuy việc khẩn hoang lập trại trên quy mô nhỏ nhưng có thể coi đó là một thành tựu trong quá trình khẩn hoang cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Bên cạnh đó, nội dung bia cung cấp cho chúng ta hiểu biết thêm về các chính sách điền địa của triều Nguyễn, tiêu biểu là dưới triều vua Tự Đức (1848-1883). Triều Nguyễn quy định việc miễn thuế cho những người đi khẩn hoang trong khoảng thời gian là 23 năm.

Quan sát bản danh sách những người có công đóng góp tài lực cho việc khẩn hoang ta thấy 16 người đó điều là những quan chức, sĩ phu có tiền có của. Phải chăng nó thể hiện một xu hướng của giai đoạn này là xu hướng khẩn hoang tư nhân ?

Không những thế, nội dung của bia đã gợi ý cho chúng ta tìm hiểu thêm về một danh nhân tên tuổi của vùng đất Nam Định, đó chính là Hoàng giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị. Ông không chỉ có công lao trong việc đánh giặc giữ nước, không chỉ nổi tiếng trên phương diện thơ văn mà ông còn đóng góp công lao trong công cuộc khẩn hoang lập ấp giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.

Sau đây chúng tôi xin công bố toàn bộ văn bia.

Phiên âm: (Mặt 1)

SĨ LÂM TRẠI BI KÝ

Sĩ Lâm trại nãi hoàng triều Tự Đức Nhâm Tí ngũ niên sở lập dã. Cố Tổng đốc Nguyễn công húy Điển khai chi. Gia huynh Phác Trai chủ chi. Dư dữ cử nhân, tú tài, học sinh thành chi. Kỳ thủy đản cung tạp thảo, thư như thuế lệ. Nhị thập tam niên, Đinh Tỵ cải trưng hòa điền, nhân nhi tục khẩn. Đông tây giới kệ, điền số, khẩu phần, cập chư điều ước cụ tại bản trại. Lệ bạ tiên chí chi bi, tha nhật khả tức kỳ địa lập từ kỳ bất vong bản.

Tự Đức Nhâm Thân nhị thập ngũ niên tam nguyệt nhị thập lục nhật.

Tứ đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ, Thương biện Nam Định, Hải Phòng Phạm Nghĩa Trai tiên sinh soạn.

(Mặt 2)

Sĩ Lâm trại điều ước nội nhất khoản, đương thứ xuất tài lực thập lục viên nhân, bách tuế hậu tự vu miếu. Các thiết bài vị hậu vọng giả, diệc các thiết phụ vị thế thế vạn tử tôn vô biến.

Nhất đương thứ xuất tài lực thập lục viên nhân:

Trại trưởng Phạm Văn Thanh - Phác Trai tiên sinh, Đại An huyện Tam Đăng xã nhân.

Nhị giáp Tiến sĩ, Hàn Lâm viện Thị giảng Học sĩ, Nam Định, Thương biện Hải Phòng Phạm Nghĩa Trai tiên sinh, Đại An huyện, Tam Đăng xã.

Tú tài Bùi Văn Nhã, Vụ Bản huyện, Dương Lợi xã.

Tú tài Nguyễn Hữu Lợi, Đại An huyện, Phúc Chỉ xã.

An Bình phủ, tri phủ Nguyễn Huy Khanh, Đường Hào huyện, Lương Đường xã.

Tú tài Nguyễn Huy Phan, Vụ Bản huyện, Trình Xuyên xã.

Hàm lâm điển bạ, chánh bát phẩm chánh ngạch, Tú tài Nguyễn Ích Thưởng, Vụ Bản huyện, Bách Cốc xã.

Nhập khóa Phan Như Khuê, Vụ Bản huyện, Quả Linh xã.

Quản viên phụ Đinh Trịnh Mẫn, An Khánh huyện, An Phú xã.

Nguyên Diễn Châu phủ Tri phủ Vũ Huy Tường, Nam Chân huyện, Tây Lạc xã.

Diễn Châu phủ Tri phủ Lưu Khắc Nhất, Thanh Liêm huyện, Từ Ô xã.

Cai tổng Trần Tuấn Khâm, An Khánh huyện, Quyết Trung xã.

Tú tài Nguyễn Như Khuê, Đại An huyện, Cổ Liêu xã.

Giám sinh Vũ Danh Viêm, Nam Chân huyện, Thị Liêu xã.

Tú tài Vũ Đức Mậu, Gia Viễn huyện, Bãi Trữ xã.

Dịch nghĩa: (Mặt 1)

BÀI KÝ TRÊN BIA Ở TRẠI SĨ LÂM

Trại Sĩ Lâm được thành lập năm Nhâm Tí, niên hiệu Tự Đức năm thứ 5 (1852). Cố Tổng đốc họ Nguyễn huý là Điển đã cho mở mang lập trại. Anh trai tôi là Phác Trai đứng ra chủ trì, tôi cùng với các cử nhân, tú tài, học sinh hoàn thành việc lập trại Sĩ Lâm.

Ban đầu việc nộp thuế được tính như đối với vùng đất hoang nhiều cỏ dại lầy trũng. Vào năm Đinh Tị, niên hiệu Tự Đức 23 (1870), mới đổi sang đánh thuế ruộng lúa, nhân đó mà tiếp tục khai khẩn mở mang thêm. Mốc giới đông, tây, số nhân khẩu và các điều ước bản trại đã có đầy đủ. Điều lệ trước tiên được khắc trên bia, sau này phải lập đền thờ thần ngay trên mảnh đất này cho con cháu muôn đời không quên đi nguồn cội. 

Ngày 26 tháng 3 năm Nhâm Thân niên hiệu Tự Đức thứ 25 (1872).

Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Hàn Lâm viện Thị giảng, giữ chức Thương biện Nam Định, Hải Phòng Phạm Nghĩa Trai tiên sinh soạn văn bia.

(Mặt 2)

Một khoản trong điều ước của trại Sĩ Lâm ghi rằng: 16 người đóng góp tài lực, sau khi mất đi được đặt bài vị thờ hậu trong miếu. Việc phụ thờ con cháu đời đời không được thay đổi.

16 người đóng góp tài lực gồm:

Trại trưởng Phạm Văn Thanh hiệu là Phác Trai tiên sinh, người xã Tam Đăng, huyện Đại An.

Nhị giáp Tiến sĩ, Hàn Lâm viện Thị giảng Học sĩ, giữ chức Thương biện Nam Định, Hải Phòng Phạm Nghĩa Trai tiên sinh, người xã Tam Đăng, huyện Đại An.

Tú tài Bùi Văn Nhã, người xã Đương Lợi, huyện Phúc Chỉ.

Tri phủ phủ An Bình Nguyễn Huy Khanh, người xã Lương Đường, huyện Đường Hào.

Tú tài Nguyễn Huy Phan, người xã Trình Xuyên, huyện Vụ Bản.

Hàn lâm điển bạ, chánh bát phẩm chánh ngạch, tú tài Nguyễn Ích Thưởng, người xã Bách Cốc, huyện Vụ Bản.

Bát khóa Phan Như Khuê, người xã Quả Linh, huyện Vụ Bản.

Quản viên phụ Đình Trịnh Mẫn, người xã An Phú, huyện An Khánh.

Nguyên Tri phủ phủ Diễn Châu Vũ Huy Tường, người xã Tây Lạc, huyện Nam Chân.

Tri phủ phủ Diễn Châu Lưu Khắc Nhất, người xã Từ Ô, huyện Thanh Liêm.

Cai tổng Trần Tuấn Khâm, người xã Quyết Trung, huyện An Khánh.

Tú tài Nguyễn Như Khuê, người xã Cổ Liêu, huyện Đại An.

Giám sinh Vũ Danh Viêm, người xã Thị Liêu, huyện Nam Chân.

Tú tài Vũ Đức Mậu, người xã Bát Trữ, huyện Gia Viễn.

Thông báo Hán Nôm học 2003, tr.43-48

NGUYỄN THỊ BÌNH (Theo Đại học KHXH và Nhân văn, Hà Nội)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 8
  • 17019
  • 4,331,240