Biết thêm một áng văn hào sảng của vua Lý Thái Tổ về công tích vị Thái tổ họ Bùi

  24/01/2017

Image result for lý thái tổSinh ra tại hương Cổ Pháp (nay là xã Đình Bảng, Bắc Ninh), vua Lý Thái tổ là người sáng nghiệp nhà Lý, định đô đất Thăng Long, mở nền thái bình thịnh trị cho một vương triều. Ngoài “Chiếu dời đô” sâu sắc, bất hủ, mới đây TS. Mai Hồng đã dịch một áng văn hào sảng của vua Lý Thái Tổ viết cho vị đại thần Bùi Quang Dũng. Đó là bản sao của cụ Nguyễn Tiến Đoàn – nhà hán học ở xã Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình khi nghiên cứu ngọc phả "Bùi gia lịch thế sự trạng" của dòng họ Bùi, Thái Bình.

Bài ngự chế bia ký về công tích vị Thái tổ họ Bùi của Hoàng đế Thái Tổ triều Lý

Trẫm cho rằng công cuộc mở nền dựng nước dù là chủ trương của bậc nhân quân, song việc dẹp loạn binh phần lớn trông cậy vào sự nỗ lực của các tướng soái tài ba. Từ xưa đến nay đều như thế. Đó là lý và cũng là thế vậy.

Tuy nhiên ở vào thời thái bình thịnh trị, bổn phận làm người bề tôi tốt thì dễ. Nhưng nếu ở vào cái thế cục bế tắc điên đảo, mà làm kẻ trung thần mới khó. Huống chi ở vào tình thế khó khăn mà tìm được trung thần lại càng khó. Tìm được bậc trung thần mà người đó lại biết bảo toàn sinh mệnh mình thì lại càng khó hơn nhiều.

Tỷ như chuyện vị quan: Đặc tiến khai quốc thiên sách thượng tướng, Minh Triết phu tử, Trinh quốc công Bùi Quang Dũng triều Đinh thuở trước.

Một trang gia phả của họ Bùi

Mỗ (chữ dùng của vua Lý Thái Tổ với Bùi Quang Dũng) vốn thuộc dòng giống Tiên Rồng đất Việt, là nòi hổ tướng trời Nam, là khí thiêng của đất trời hun đúc, bẩm thụ tính tinh anh của núi sông. Văn tài võ lược siêu quần, uy nghi xuất chúng. Thuở nhỏ nổi danh bởi đức tính khiêm cung hiếu đễ, tông tộc ai cũng cho rằng, Mỗ ắt sẽ là người phi phàm. Đến tuổi trưởng thành, hiên ngang khảng khái ham đọc sách lạ (kỳ thư), làng xóm biết ngay Mỗ là người có chí lớn. Ban đầu hai sứ quân Ngô, Kiều (Ngô Xương Xí và Kiều Công Hãn) từng triệu mấy lần, Mỗ đều lấy cớ là con nhà nông, chỉ biết việc đồng áng mà không tường thế sự, kiên quyết không theo. Khắp châu quận ai cũng nể phục tiết tháo ấy.

 

Sau về với Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp mười hai sứ quân. Đó là duyên kỳ ngộ phượng đậu cành ngô, rồng mây tế ngộ, cưỡi gió rẽ sóng khúc nào chim ưng dương cánh mà kình ngạc mất tăm.

Oai hổ đánh đông dẹp bắc, mà cáo cày tan tác dấu chân. Thiên hạ đều ngợi ca là bậc anh hùng hào kiệt. Khi Đinh Tiên Hoàng thống nhất giang sơn một mối, bước lên chín bậc cửu trùng lấy Mỗ từ chức Anh Dực tướng quân sung vào Điện tiền Chỉ huy sứ, kiêm thiêm sự; triều nghi rực rỡ, công huân lẫy lừng. Thế rồi bọn giặc bể ở Kỳ Bố lại khởi loạn, Mỗ lại được sung chức Trấn đông tiết độ sứ. Mỗi khi Mỗ tới thì giặc biển liền tan. Trẫm lại cho thăng lên Đặc tiến Khai quốc Thiên sách Thượng tướng, tiến tước Tĩnh an hầu. Kế đó ban sách tặng phong tiên phụ của Mỗ là Khải tá hầu, tiên mẫu là Khải tá hầu phu nhân.

Image result for lý thái tổ

Tượng vua Lý Thái Tổ

Chiếu Vua ban tăng thêm vẻ sáng thơm nêu rõ sự sủng ái của quốc gia là rất mực vậy. Đây chẳng phải bởi con có huân công oanh liệt mà cha mẹ được vẻ vang? Lại bởi vì Mỗ có công lao lớn, nên trẫm ban thái ấp lưu làm nơi ở thuộc đất Hàm Châu. Đó là cái điềm hợp cát của người hiền ở vào đất tốt, thì mệnh trời sẽ được bền lâu mãi mãi. Há chẳng phải người lấy đất để bền chắc móng nền mà chính là đất lấy người để đất nổi danh? Chiến công lẫm liệt, huân danh lẫy lừng của Mỗ như vậy đã hiển hiện ra trước tai mắt mọi người ai ai cũng thấy. Kịp khi Lê Đại Hành cướp ngôi, Đinh Điền Nguyễn Bặc mật đưa thư tới báo, Mỗ biến sắc tức tốc đề binh lên đường, tới nơi thì hai người đều đã tử tiết. Mỗ liệu sức mình đơn độc khó bề chống chọi, bèn lui vào động Trinh Thạch tự thủ, ôm nỗi niềm cô trung, đợi thời mưu sự về sau. Tinh thần trung dũng quả cảm ấy của Mỗ thực đã biểu lộ cái tầm nhìn xa rộng của Mỗ về thế gian này. May thay trẫm được trời rủ lòng thương mến, lấy khoan dung để thay bạo ngược, lặng lẽ thuận tình, hành sự chí công, vỗ về trăm họ. Chiếu thư mời gọi ba lần mà Mỗ vẫn chưa chịu về triều, trẫm rất lấy làm ái hộ đức tính kiên trung ấy lại càng đáng khen cho khí tiết thanh cao của con người ấy. Bấy giờ có giặc lại nổi loạn ở cửa biển Kỳ Bố rất ngông cuồng tàn bạo, trẫm đã ba phen khiển tướng chinh phạt mà chưa dẹp yên được. Đến khi sai Nguyễn Uy đem quân đi đánh thì vẫn còn nghe câu nói từ miệng giặc: "Hễ ông Dũng đến là tự nhiên kinh". Lúc Nguyễn Uy đến, giặc chẳng màng để tâm, chỉ có điều chúng cần biết viên tướng đem quân tới là ai thôi. Tướng Uy lên tiếng: Khâm sai Chinh đông Đại tướng Nguyễn Uy. Giặc liền hát câu vè:

 

"Uy đến chẳng đáng sợ

Dũng đến tự nhiên kinh".

Trên đường dừng lại nghe trẻ chăn trâu hát câu đồng dao:

"Uy mặc Uy chẳng sợ chi

Có ông Dũng đến vậy thì mới kinh".

Trẫm lại biết thêm về uy đức của Mỗ vốn nổi danh ở miền duyên hải (hải quốc) vậy. Trẫm bèn sai Nguyễn Uy thảo thư đưa vào động nói rõ sự thực còn dặn thêm Uy: Hãy tìm lời dụ Mỗ. Mãi tới lúc ấy Mỗ mới chịu nghe lời trẫm về triều. Trẫm vội lấy lễ khách bậc thầy để tiếp đãi với bái hiệu là Minh Triết phu tử. Nhân đó Mỗ liền tiến cử người con trai của mình là Bùi Quang Anh cho trẫm. Trẫm lấy nguyên chức như ngày trước mà phong tặng: Anh Dực tướng quân trấn đông Tiết độ sứ, phái đi trấn thủ miền đất Kỳ Bố lại sai đình thần tiễn Mỗ trở lại ấp Hàm Châu. Đường về Hàm Châu ngày ấy Mỗ cùng người con trai của mình là Bùi Quang Anh đồng hành. Vừa về đến nơi thì giặc đã tự tới đầu hàng. Thấy rõ uy đức của Mỗ đến như thế, trẫm càng tăng lòng hâm mộ.

Tới nay Mỗ ở tuổi thọ 97 bị đốc bệnh từ tháng trước, trẫm lệnh đình thần chăm lo thuốc thang trị liệu, viết thư ân cần thăm hỏi, lại cũng không quên hỏi han về việc hậu sự. Mỗ có lời đáp rằng: "Trong câu sấm Thập Bát Tử (tức là chữ Lý) xã tắc truyền gia thì thần thích nhất chữ "bát", lại dặn thêm: "Ngày sau nếu triều đình hữu sự thì trẫm có thể sai khiến sử dụng đứa cháu của Mỗ". Lời nói ấy cứ âm vang mãi bên tai trẫm; đinh ninh mãi trong tim trẫm. Trẫm nghĩ cử chỉ ấy của Mỗ chính là một tấm gương để cho các tôi thần của trẫm soi chung vậy. Tới ngày 12 tháng 6 đình thần dâng tấu rằng: "Họ trông thấy phương đông nam có ngôi sao rơi, lặn tắt". Qua ngày rằm bỗng có tờ điệp cáo phó tới: "Khai quốc Thiên sách thượng tướng Tĩnh an hầu Minh Triết phu tử Bùi tướng công triều Đinh ngày trước tạ thế!". Trẫm bùi ngùi than thở: Trời vừa mới thương họ Lý ta mà sao vội cướp đi một triết nhân vậy. Nhân đó trong triều giảm bớt bữa ăn, bớt vui chơi. Trẫm lệnh cho đình thần thay trẫm lo việc tang lễ, sắm cỗ quan đồng quách ngọc; ban gấm vóc mỗi loại ba súc, vàng 50 lượng, bạc 500 lượng, cùng với điếu văn để trợ giúp lễ nghi tang tế.

Trẫm ban thêm chế sách tặng Mỗ là Trinh Quốc công; lại gia phong mỹ tự dựa trên đức độ bình sinh của Mỗ: "Cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng". Và ban tên thuỵ: Cương Chính tướng công. Lại truy phong cho tiên khảo (cha) của Mỗ là Khải tá công, tiên mẫu (mẹ) là Khải Tá công phu nhân. Để biểu dương tấm lòng của Mỗ và cũng là để bộc bạch tấm lòng chuộng hiền của trẫm vậy.

Ô hô ! Mỗ hiếu trung vẹn cả hai đường.

Tiết nghĩa song toàn hai chữ.

Đó quả là điều hiếm thấy, hiếm nghe bậc nhất từ cổ chí kim ở thế gian này. Trẫm mong cho tính danh của Mỗ sẽ bất tử; hơn nữa nó là tấm gương cho các thế hệ bề tôi của trẫm mãi về sau soi vào. Cầu mong trời đất hãy chứng giám cho đức tính trung liệt của Mỗ, giúp cho con cháu nhà họ Bùi này đời đời luôn có anh tài xuất hiện, để giúp đỡ Vua nước Nam ta, bảo vệ giữ gìn nước Nam ta, cứu giúp dân chúng nước Nam ta.

Đó chính là điều trông đợi sâu xa nhất của quả nhân vậy.

Ngày 12 tháng 8 nhuận năm Thuận Thiên thứ 9 (1018) Ngự chế, Thái sư Khuông Việt (thần) Lý Pháp Chân vâng mệnh chép, thợ khắc đá Phạm Công Thắng vâng mệnh khắc bia.

TS. Mai Hồng dịch

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 13
  • 1977
  • 1,843,137