BÙI BẰNG ĐOÀN - TỪ THƯỢNG THƯ, CHÁNH NHẤT TOÀ THƯỢNG THẨM HÀ NỘI ĐẾN TRƯỞNG BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM ĐỘC LẬP TỰ DO

  05/03/2017

Các đại biểu Quốc hội khóa I (từ trái sang phải) Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn, Tôn Đức Thắng. 

Cách mạng tháng Tám thành công trong cả nước. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Một kỷ nguyên mới lịch sử đã được mở ra - kỷ nguyên dân chủ cộng hoà, độc lập tự do. Mọi người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người chủ của một nước độc lập tự do và có nghĩa vụ giữ vững và xây dựng nền dân chủ cộng hòa.

Nhiều vị trí thức, nhân sĩ được Chủ tịch mời tham gia Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (tháng 8 năm 1945), Chính phủ Liên hiệp kháng chiến ngày 2 tháng 3 năm 1946, được nhân dân bầu làm đại biểu Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, hoặc các cương vị quan trọng trong các cơ quan hành chính, văn hoá, giáo dục… của Chính phủ trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn.

Vốn được đào tạo, đỗ thủ khoa trường Hậu bổ, Bùi Bằng Đoàn được bổ nhiệm giữ các chức từ Tri huyện, Tri phủ, Án sát, Tuần phủ đến Thượng thư Bộ Hình và cuối cùng là giữ chức Chánh nhất Toà Thượng thẩm Hà Nội (4/1945 – 8/1945). Tháng 8 năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, cụ Bùi Bằng Đoàn đã trở thành công dân, một trí thức của nước độc lập tự do. Với tài năng, đức độ, cụ Bùi Bằng Đoàn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đảm nhiệm nhiều công việc “hưng lợi, trừ họa cho nước nhà dân tộc”. Trong phiên họp của Chính phủ ngày 14 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng thành lập một Ban cố vấn riêng cho Người gồm 10 vị, trong đó có cụ Bùi Bằng Đoàn.

Nhằm đảm bảo cho bộ máy nhà nước được trong sạch, vững mạnh, làm tròn  trách nhiệm của các cơ quan hành chính, vừa thay mặt cho nhân dân vừa đại diện cho Nhà nước, ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 64/SL thiết lập một Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền nhận các đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra, hội chứng, xem xét các tài liệu giấy tờ của Ủy ban nhân dân hay của cơ quan Chính phủ cần thiết cho công tác giám sát, đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Ủy ban nhân dân hay của Chính phủ đã phạm lỗi. Ngày 31 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 80/SL cử cụ Bùi Bằng Đoàn, Nguyên Chánh án Toà Thượng thẩm Hà Nội giữ chức Trưởng ban và Cù Huy Cận, Bộ trưởng Bộ Canh nông là Ủy viên.

Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngay khi mới ra đời đã bắt tay thực hiện ngay nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc. Muốn kiến thiết phải có một chương trình được nghiên cứu kỹ càng nên cần phải tập hợp nhân tài. Ngày 31 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 78/SL thành lập Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết để nghiên cứu một kế hoạch thiết thực kiến thiết quốc gia và các ngành kinh tế, tài chính, hành chính, xã hội, văn hóa và dự thảo những đề án để trình Chính phủ. Ủy ban gồm 40 vị là những trí thức, nhân sĩ, các bộ trưởng và thứ trưởng, trong đó có Bùi Bằng Đoàn. Ủy ban đặt dưới quyền điều khiển của Chủ tịch Chính phủ.

Việc thành lập Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết trực thuộc Chính phủ đã góp phần động viên và tạo cơ sở pháp lý để các trí thức nhân sĩ yêu nước phát huy trí tuệ và tài năng của mình phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Ủy ban được thành lập trong lúc Chính phủ đã công bố Dự án Hiến pháp do Tiểu ban Hiến pháp của Chính phủ soạn thảo để toàn dân tham gia góp ý. Ủy ban đã nghiên cứu và đã đưa ra một bản dự án Hiến pháp đệ trình với Chính phủ. Tiểu ban Hiến pháp do kỳ họp thứ nhất của Quốc hội thành lập đã dựa trên bản Dự án Hiến pháp của Chính phủ là chủ yếu; đồng thời đối chiếu với bản dự thảo của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết - đã soạn ra Dự án Hiến pháp mới đệ trình Quốc hội.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Chính phủ lâm thời là phải củng cố và tăng cường chính quyền, vì thế phải thực hiện quyền dân chủ cho nhân dân, xúc tiến cuộc bầu cử Quốc hội để quy định Hiến pháp và lập Chính phủ chính thức. Cuộc Tổng tuyển cử được thực hiện thắng lợi ngày 6 tháng 1 năm 1946. Nhân dân cả nước đã bầu được 333 đại biểu. Cụ Bùi Bằng Đoàn ra ứng cử và được nhân dân tỉnh Hà Đông tín nhiệm bầu vào Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Quốc hội họp kỳ thứ nhất tại Hà Nội đã bầu Ban Thường trực Quốc hội do cụ Nguyễn Văn Tố làm Trưởng ban, 2 Phó trưởng ban và 12 Ủy viên chính thức, trong đó có Bùi Bằng Đoàn. Do thực dân Pháp đã trở lại xâm lược Việt Nam nên phải tập trung quyền lực vào cơ quan điều hành quốc gia mạnh mẽ nhằm thống nhất tất cả lực lượng của dân tộc nên Quốc hội đã công nhận và trao quyền bính cho Chính phủ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Bên cạnh Chính phủ, Ban Thường trực Quốc hội có quyền góp ý với Chính phủ, phê bình Chính phủ nếu Chính phủ làm trái lợi ích của quốc gia dân tộc. Nhiều vấn đề đối nội, đối ngoại quan trọng phải được thống nhất và giải quyết nhanh chóng nên nhiều phiên họp thường kỳ hoặc đặc biệt của Chính phủ đều có sự tham dự, góp ý của Trưởng ban Thường trực Quốc hội.

Khối đoàn kết dân tộc được tiếp tục củng cố và mở rộng. Nhiều đoàn thể mới được thành lập, đặc biệt là Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Liên Việt). Một ban vận động thành lập Hội gồm 27 vị trong đó có Bùi Bằng Đoàn. Ngày 29 tháng 5 năm 1946, Hội chính thức tuyên bố thành lập ở Hà Nội.

Trong 8 tháng hoạt động kể từ kỳ họp thứ nhất tháng 3 năm 1946 đến kỳ họp thứ hai tháng 10 cùng năm, Ban Thường trực đã nỗ lực hoạt động giữ vững nguyên tắc dân chủ, cùng Chính phủ đưa nước nhà vượt qua mọi khó khăn, giữ vững chính quyền cách mạng. Kỳ họp thứ hai của Quốc hội đã bầu lại Ban Thường trực gồm 18 vị do cụ Bùi Bằng Đoàn làm Trưởng ban (7 tháng 11 năm 1946) và Cụ luôn luôn ở sát bên cạnh Chính phủ để thực thi các nhiệm vụ mà Quốc hội đã quyết định. Năm 1948, cụ ốm nặng, phải chữa bệnh và đã qua đời ngày 13 tháng 4 năm 1955, hưởng thọ 65 tuổi.

*

* * * *

Thực dân Pháp, đến phát xít Nhật đến xâm lược, biến Việt Nam thành thuộc địa của chúng. Phải đấu tranh để giành lại độc lập và tự do. Song từ giữa thế kỷ XIX đến trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào đó chưa thể thành công được vì mỗi giai cấp trong nước có nguyện vọng, tâm lý và hệ tư tưởng riêng, do vậy, lập trường độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của giai cấp tất không thể giống nhau được. Đó là lẽ thường. Tuy nhiên, như Lê Duẩn đã nói: “ Vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội là lẽ sống còn của dân tộc ta đồng thời là một quy luật tất yếu của sự tiến hoá của xã hội ta; cho nên, muốn đưa Việt Nam tiến lên thì các lực lượng cách mạng và những người Việt Nam yêu nước nhất thiết phải có một lập trường đúng đắn về độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội, tiêu biểu cho nguyện vọng chung của cả dân tộc Việt Nam” (1) mới có thể đưa cuộc đấu tranh của dân tộc đi đến thắng lợi được. Chính học thuyết cách mạng giải phóng và phát triển vì độc lập tự do - nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc đã đáp ứng được khát vọng cao cả của mọi người dân trong các tộc người của khối cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đã có sức thu hút quy tụ được toàn dân, trong đó đáng chú ý là các bậc trí thức, nhân sĩ tiêu biểu như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Phạm Bá Trực, Cao Triều Phát …

Cùng đồng hành với toàn dân tộc, các vị nhân sĩ, trí thức lớn đã quy tụ dưới ngọn cờ dân tộc của Hồ Chí Minh, tích cực, tận tâm, đem hết tài năng của mình để góp phần cùng toàn dân thực hiện nghĩa vụ giữ vững quyền độc lập tự do.

Cụ Bùi Bằng Đoàn từ một vị Thượng thư bộ Hình của triều đình Huế, Chánh án Toàn Thượng thẩm Hà Nội, đã trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập tự do, với tài năng, đức độ của một trí thức lớn đã được nhân dân và Chính phủ tín nhiệm giao nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền. Trong các cương vị được đảm nhiệm, đặc biệt với trách nhiệm Trưởng ban Thường trực Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cụ Bùi đã làm việc một cách tận lực, nghiêm túc, đúng quyền hạn và trách nhiệm, kể cả trong thời gian cuối lúc bị bệnh. Trong mấy năm đau bệnh nặng, “Cụ vẫn luôn luôn cố gắng góp phần vào công việc của Quốc hội, vào công cuộc kháng chiến của toàn dân để giành độc lập và thống nhất cho nước nhà. Cụ đã làm tròn nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân, cho tới lúc cuối cùng” (2) .

Cụ Bùi Bằng Đoàn chỉ gắn bó với Hà Nội trong một thời gian ngắn, nhưng lại là thời điểm mà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ phải giải quyết những nhiệm vụ đối nội, đối ngoại cấp bách, trong hoàn cảnh những khó khăn của chế độ cũ vừa mới được khắc phục bước đầu, trong khi thực dân Pháp với sự giúp sức của các lực lượng phản động trong nước rắp tâm phá hoại để giành lại chính quyền của ta, mong muốn nô dịch đất nước ta một lần nữa. Sự tham gia của cụ Bùi Bằng Đoàn vào Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất không chỉ khẳng định tinh thần dân tộc của một nhân sĩ, một vị cựu Thượng thư, cựu Thẩm phán của chế độ cũ; mà còn góp phần củng cố Nhà nước Việt Nam dân chủ; thể hiện tài năng của Hồ Chí Minh trong việc thu phục, thu hút những nhân sĩ trí thức thuộc các lực lượng yêu nước, kể cả cả một số người cũn đang “lưỡng lự” vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong những năm tháng cách mạng gặp đầy gian khó.

 


(1) Lê Duẩn,  Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1979, tr. 25.

     (2) Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Văn kiện Quốc hội toàn tập, tập I (1945-1960), Nxb. Chính trj quốc gia,  Hà Nội,  2006, tr.  647.

 

PGS. NGND. LÊ MẬU HÃN

Tin liên quan:

Bùi Bằng Đoàn (1889 - 1955)

Bùi Bằng Đoàn – Người trí thức đồng hành cùng dân tộc

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 5
  • 1232
  • 3,486,457