Bùi Bị – danh tướng Lam Sơn

  16/02/2017

Khởi nghĩa Lam Sơn 

Bùi Bị người xã Hào Lương, huyện Lương Giang (nay là vùng đất thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). Ông xuất thân từ một nghĩa sĩ bình thường, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi theo con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Với ý chí quật cường, lòng dũng cảm, tham gia nhiều trận đánh cùng các tướng sĩ lập được nhiều chiến công vang dội. Tuy nhiên, chưa rõ được năm sinh, năm mất của ông, nhưng công lao của ông đã chói ngời sử sách, mãi mãi được các thế hệ ngưỡng mộ và trường tồn cùng lịch sử dân tộc.

 ... Năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi tại vùng rừng núi Lam Sơn – Thọ Xuân cùng toàn thể nghĩa quân Lam Sơn phất cao cờ nghĩa đánh đuổi giặc Minh cứu nước, ông sắp đặt màng lưới, đón mời hào kiệt, lấy ít đánh nhiều, cử các tướng đem quân đối địch với giặc Ngô. Giặc cậy quân đông, thế mạnh ép quân ta phải chạy từ xứ Mường Một đến đất Trịnh Cao giáp giới Ai Lao mới đóng quân trú lại. Quân lính khổ cực, đói rét, người ngựa đều khốn khổ. Sau sự kiện “Lê Lai đổi áo cứu vua”, quân Minh nhầm tưởng đã bắt được chúa Lam Sơn mới nới lỏng vòng vây, nhờ vậy tình thế mới hòa hoãn, quân tướng mới được tạm yên. Tháng tư ngày mồng bốn, Lê Lợi đem quân về Lam Sơn, sai các tướng đem vàng bạc, châu báu đút lót bọn tướng giặc để cầu hòa, do vậy mới có thời gian nghỉ ngơi, nuôi quân, dưỡng sức.
    Tháng tư, năm 1425, sau khi đánh tan viện binh của giặc do Lý An đem từ Tây Đô vào cứu viện, Lê Lợi chủ trương đem quân tiến thẳng về Tây Đô. Các tướng Lưu Nhân Chú, Bùi Bị, Lê Quan và Lê Nanh được lệnh đem 2.000 quân ra các lộ Trường An, Thiên Trường, Tân Hưng, Kiến Xương triệt đường về của bọn Lý An, Phương Chính và chia quân đi gấp theo đường tắt đánh úp thành Tây Đô (nay ở địa phận hai xã Vĩnh Tiến – Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc) chém được hơn 500 tên giặc, bắt sống được rất nhiều. Trước tình thế đó, quân Minh phải đóng chặt cửa thành cố giữ. Vì thế, dân cư ngoài thành được phủ dụ đã tranh nhau đến cửa quân xin liều chết đánh giặc. Từ đây mảnh đất rộng lớn từ Thanh Hóa trở vào Nam đã thuộc về Lam Sơn. Chiến công của các tướng sĩ trong đó có Bùi Bị có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển và những chiến công vang dội của Lam Sơn tiếp đó.
    ... Tháng tám năm Bính Ngọ (1426), Lê Lợi quyết định tổng tiến công ra Bắc tiến tới giải phóng đất nước. Nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Bắc theo 3 đạo, đạo thứ 2 do Bùi Bị, Đỗ Khuyển đem 2.000 quân và một thớt voi đánh ra các xứ Khoái Châu, Bắc Giang, Lạng Giang để chặn viện binh từ Lưỡng Quảng tới. Đinh Lễ, Nguyễn Xí thì đem tinh binh tiến sau để khuyếch trương thanh thế. Quân ta đi đến đâu không mảy may xâm phạm của dân, chợ búa không thay đổi hàng quán. Vì thế, các lộ ở Đông Đô và các xứ phiên trấn chỗ nào cũng vui mừng, tranh nhau mang trâu, dê, cơm, rượu đến khao quân lính và đều hưởng ứng vây đánh các thành giặc. Quân Minh chỉ còn ngồi cố thủ để chờ viện binh mà thôi.
    Ngày 22, Lê Lợi tiến quân đến tây Phù Liệt (thuộc vùng đất huyện Thanh Trì – Hà Nội ngày nay). Ngày 23, sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị mang thủy quân gồm hơn trăm chiếc thuyền ngược dòng sông Đại Lũng ra cửa sông Hát rồi thuận dòng xuôi xuống bến Đông Bộ Đầu sông Lô (nay là sông Hồng); Đinh Lễ đem hơn 20.000 quân bộ bí mật tiến đến cầu Tây Dương. Lê Lợi tự mình dẫn binh tướng đến cửa nam ngoại thành Đại La để đánh thành Đông Quan (Hà Nội). Tất cả lực lượng của địch phải co về cố thủ trong thành Đông Quan. Cuộc vây hãm thành Đông Quan của quân ta được bố trí như sau:
    Các tướng Bùi Bị, Lê Nguyễn, Lê Chửng vây hãm cửa Tây.
    Các tướng Đinh Lễ, Lê Sát, Nguyễn Lý và Nguyễn Chích vây hãm cửa Đông.
    Tướng Phạm Vấn vây hãm cửa Nam.
    Lý Triện và Lê Văn An vây hãm cửa Bắc.
    Cuộc vây hãm này đã đẩy tướng giặc Vương Thông vào thế cùng quẫn, chỉ còn một con đường duy nhất là chờ viện binh đến cứu.
    Cuối năm Đình Mùi (1427), sau khi các đạo viện binh của Mộc Thạnh, Liễu Thăng bị đánh tan tành; ngày 16 tháng 12 lũ tướng giặc là Vương Thông, Mã Anh, Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ, Phương Chính... đưa hết lũ ngụy quan lớn nhỏ và tất cả dân ta trước bị giặc bắt vào thành nay đều đem trả hết lại cho ta và xin được đem quân trở về Bắc.
    Để thiết lập mối bang giao hữu hảo, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã tổ chức Hội thề Đông Quan, tức là lễ tiếp nhận sự đầu hàng dưới một dạng thức đặc biệt: Vương Thông phải sang  tận đại bản doanh Bồ Đề (nay là Gia Lâm) của Lê Lợi để thề là sẽ rút quân khỏi nước ta. Tham dự Hội thề Đông Quan, về phía bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn ngoài Lê Lợi còn có một số tướng lĩnh như Trần Nguyễn Hãn, Lưu Nhân Chú, Phạm Văn Xảo, Bùi Bị... cùng nhiều tướng lĩnh khác.
    Bùi Bị là một tướng tài xứng đáng với niềm tin cậy của Lê Lợi và của bộ chỉ huy Lam Sơn; vừa tỏ được oai phong của một vị tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc, vừa tỏ được tư thế hiên ngang của những người đại diện cho cả một dân tộc bất khuất, lại cũng vừa tỏ được thiện chí thực sự muốn tránh họa binh đao lâu đài cho cả hai nước.
    Năm 1428 khi đất nước sạch bóng quân thù, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, triều đình nhà Lê định công ban thưởng cho các tướng lĩnh lập được nhiều công lao, Bùi Bị được ban quốc tính họ Lê. Ông là một trong 14 vị công thần khai quốc được ban tước Huyện Hầu. Sau không rõ ông mất năm nào nhưng có lẽ chắc chắn phải mất trước năm 1453 vì năm ấy triều đình truy tặng tước vị cho một số công thần khai quốc, thì ông cùng Đinh Lễ và Lý Triện cũng được hưởng lệ này.

Mạnh Hà - Ban NCBS lịch sử

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 4
  • 505
  • 3,437,399