BÙI CÔNG TÀI - "BẢN THỔ THẦN QUAN" THỜI HÙNG VƯƠNG THỨ 18

  05/03/2017

"Vào cuối đời Hùng, thế nước trở nên suy yếu. Hùng Vương muốn nhường ngôi cho con rể là Tản Viên, nhưng Tản Viên từ chối. Thục Vương nghe tin, bèn đem quân sang xâm lược. Trường Công, trấn thủ ở trang Tông Chất, quận Sơn Nam, gia thần ở đó có 9 họ, chia làm 8 giáp. 

Chín họ lúc đó là: Phạm, Lê, Đặng, Bùi, Đỗ, Nguyễn, Hoàng, Trịnh, Trương đều theo làm gia thần thủ túc, cộng được 289 người đều khoẻ mạnh, ông cử trong ấp ba người tài giỏi, khoẻ mạnh đứng ra cai quản mọi người, ba người đó là: Nguyễn Công Minh, Bùi Công Tài, Đặng Công Cán (sau này ba ông mất đều được phong làm bản thổ thần quan, có lập miếu thờ theo giới hạng)."

Đình làng Đa Chất (Phú Xuyên, Hà Nội) - ngôi đình nghìn năm tuổi nằm giữa Thủ đô, thờ Trung Thành Đại Vương Thượng Đẳng phúc thần, người có công giúp vua Hùng Duệ Vương dẹp giặc cứu nước

Qua bài viết "Tín ngưỡng thờ Trung Thành Phổ Tế Đại vương ở huyện Phú Xuyên, Hà Tây" của tác giả Vũ Quang Dũng, ta có thể có thêm cơ sở tìm hiểu về cụ viễn tổ Bùi Công Tài - người được phong làm Bản thổ thần quan từ thời Hùng Vương
Sinh Bạch Hạc, thác Ba Lương - đó là câu truyền ngôn của người dân Đa Chất thuộc xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây, nơi thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương làm Thành hoàng làng. Sách Đại Nam nhất thống chí - tỉnh Hà Nội chép rằng: Đền thần Trung Thành ở xã Đa Chất, huyện Phú Xuyên. Tương truyền, thần Trung Thành trước là thuỷ thần ở ngã ba Bạch Hạc. Đời Lý Thái Tông cầu đảo thường linh ứng được tặng hai chữ “Trung Thành”, nay các xã Bất Nạo, Đường Xuyên, Lương Xá, Thần Quy, Yên Quái, Văn Trai,... thuộc bản huyện và các xã Đông Lỗ, Thanh Hội,... thuộc huyện Sơn Minh(1) có đền thờ.

Ở bài viết này, chúng tôi tìm hiểu về sự tích, tín ngưỡng thờ thần Trung Thành Phổ Tế đại vương ở một số làng thuộc huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây.

Đình làng Đa Chất được ghi lại trong những tài liệu hiếm hoi còn được lưu giữ xưa kia là một công trình văn hóa đồ sộ

1. Quê hương và sự nghiệp của Trung Thành Phổ Tế đại vương

1.1. Về quê hương và phụ mẫu

Theo thần tích của một số làng ở huyện Phú Xuyên: quê nội của thần ở trang Cửu Giang, huyện An Lão, phủ Kinh Môn thuộc đất Ái Châu, thân phụ của thần là người họ Đào, tên húy là Bột (Đào Bột), gia đình danh giá nối đời làm quan trong triều. Ở thời Hùng Duệ Vương, ông làm quan tới chức Thiếu phó, rồi làm chủ bộ Hoan Châu, do có công dẹp loạn ở Hải Dương, nên được phong làm Bộ chủ quận Hải Dương. Đào công lấy người vợ thứ nhất là Phạm Thị Điểm, người cùng bản huyện, vốn dòng thi lễ, tính cách đoan trang, nết na dịu hiền, sau đó mất sớm. Ông bèn lấy bà Nguyễn Thị Hương (19 tuổi) là con của huyện lệnh huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, xứ Sơn Nam. Vợ chồng sống rất hạnh phúc, ít lâu sau, vợ chồng sinh được 5 người con trai, đặt tên là: Cự Công, Lân Công, Trưởng Công, Khanh Công, Quý Công(1). Vị thứ ba (Trưởng Công) chính là thần Trung Thành Phổ Tế đại vương, được một số làng ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng thờ làm Thành hoàng làng.

Mái đình làng Đa Chất cong vút giữa trời xanh sau bao năm tháng biến cố của dân tộc

1.2. Thân thế sự nghiệp

Trung Thành Phổ Tế đại vương sinh ra trong một gia đình quyền quý thời Hùng Duệ Vương, năm anh em của ngài đều thông minh, khôi ngô, văn võ tinh thông, có phép hô phong, hoán vũ, mọi người cho là các vị thiên thánh giáng trần.

Vì có tài đức thấu đến triều đình, nhà vua bèn xuống chiếu mời 5 anh em vào triều hỏi rằng: Các người quê quán ở đâu?

Theo người dân nơi đây, những cột, kèo của đình làng Đa Chất trải qua nhiều thế kỷ vẫn còn gần như nguyên vẹn

Năm anh em thưa rằng: Chúng thần vốn cùng một bọc, là con vị quân trưởng ở bộ Hải Dương tên là Đào Bột. Nhà vua tỏ ý vui mừng, bèn thử tài nghệ của 5 anh em, rồi phong:

- Cự Công làm Đông Long thái sư

- Lân Công làm Tây Long thái phó

Trưởng Công làm Nam Long Trưởng lệnh, quyền Trưởng Trung Hoa tể quốc làm Thổ lệnh thống quản đương đầu 50 Thuỷ thần.

Khanh Công làm Bắc Long Thái Bảo thống quản Long Chu - Thạch Khanh tướng quân.

Quý Công là Thiếu Long, Trưởng long đài chánh ngự

Lại tặng trưởng bộ Đào công là Thân phụ làm Đại vương.

Cụ từ Nguyễn Văn Đoán là người duy nhất trông coi đình làng Đa Chất

Hồi ấy, thiên hạ đại hạn, lúa má, hoa màu khô héo, nhà vua sai năm vị long hầu đem năm đạo quân đi kinh lý ở ngũ phương để cầu mưa. Từ khi các vị long hầu cầu mưa trị thuỷ, mùa màng được tốt tươi, dân chúng mạnh khoẻ không xảy ra ốm đau bệnh dịch. Nhà vua lệnh cho năm anh em long hầu đi nhậm năm phương, kiêm trông nom các dải sông biển để giúp dân, trị quốc.

Ban thờ chính thờ Thượng Đẳng Trung Thành Đại Vương

Lúc đó:

Người thứ nhất là Cự Công, giữ thành thuộc quận Hải Dương lập Hồng Giang Tam Kỳ. Sau đất ấy đều là gia thần sở tại thờ phụng.

Người thứ hai là Hồng Công, chủ quản ở đạo Sơn Tây tới Đào Giang, Đà Giang, Chiểu Giang ngã ba Hợp Phái, tục gọi là gềnh Ba Châu. Sau đó dân ở vùng ấy lập đền thờ.

Người thứ ba là Trường Công, trấn ở thành quận Sơn Nam lập tại trang Tông Chất(1), huyện Phù Vân, phủ Thường Tín, cung thứ bảy ngự tại trán con rồng ở Tô Giang, Du Giang, Lương Giang ngã ba Hợp Phái thế lưỡng long tranh châu; địa hình quý cách, nơi sông nước giao nhau, không có núi ngự, là đất linh thiêng, chính trán con rồng đất, chính hướng quý đinh, rồng nước cùng chầu ở chính diện, phượng hoàng vỗ cánh ở hai bên nên Trưởng Công, lập cung thành tại đó.

Người thứ tư là Thạch Khanh Công, lập hành cung tại thành Kinh Bắc ở Vũ Giang, cung ngự ở chính cục đầu con loan.

Người thứ năm là Quý Lân Công, lập hành cung tại Hải Khẩu thuộc Vạn Giang, quận Giao Chỉ, đất Nam Chân cung ngự tại đầu con lân.

Các ông đi đến đâu, thấy địa thế tiên quán là nơi quý địa bèn truyền quân sĩ và nhân dân xây dựng hành cung và mở tiệc khao thưởng linh đình.

Chuông đồng cổ không rõ niên đại có trong đình Đa Chất

Như vậy, Trưởng Công (Trường Công) Trung Thành thống lĩnh thiên hạ, nắm giữ các đạo đông, tây, nam, bắc; lập hành cung trên thế đất hữu tình, là rốn của rồng vàng, kim tinh điểm huyệt, phía trước có tam thai làm án che.

Vào cuối đời Hùng, thế nước trở nên suy yếu. Hùng Vương muốn nhường ngôi cho con rể là Tản Viên, nhưng Tản Viên từ chối. Thục Vương nghe tin, bèn đem quân sang xâm lược. Trường Công, trấn thủ ở trang Tông Chất, quận Sơn Nam, gia thần ở đó có 9 họ, chia làm 8 giáp. Chín họ lúc đó là: Phạm, Lê, Đặng, Bùi, Đỗ, Nguyễn, Hoàng, Trịnh, Trương đều theo làm gia thần thủ túc, cộng được 289 người đều khoẻ mạnh, ông cử trong ấp ba người tài giỏi, khoẻ mạnh đứng ra cai quản mọi người, ba người đó là: Nguyễn Công Minh, Bùi Công Tài, Đặng Công Cán (sau này ba ông mất đều được phong làm bản thổ thần quan, có lập miếu thờ theo giới hạng).

Rồng đá cổ trước cửa đình

Từ đó người dân ở trang Tông Chất đều được dựa vào đại đức của Trường Công. Nhà nước miễn binh lương trong quận. Người dân Tông Chất tiếng tăm được lừng lẫy, nhà nhà sung sướng, dân làng phong thịnh, vườn ao ruộng đất đầy đủ, công đức của ông như núi cao biển rộng, lòng nhân hậu như trời đất vô cùng.

Ngôi đình ba nóc nổi tiếng khắp vùng. Tòa trong hậu cung chiều rộng 9m, chiều dọc: 8m.

2. Tên gọi và tín ngưỡng thờ thần

2.1. Tên gọi

Trung Thành Phổ Tế đại vương được nhân dân vùng châu thổ sông Hồng, từ ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì - Phú Thọ) đến ngã ba Lương (Phú Xuyên - Hà Tây) và một số vùng phụ cận (Hà Nam, Hưng Yên,...) thờ làm Thành hoàng làng. Khảo sát trên thư tịch (chữ Hán và chữ Quốc ngữ) về thần tích, thần sắc của 153 làng, xã cũ ở huyện Phú Xuyên(1), thì có 28/153 thôn, làng thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương.

Ban thờ Thượng Đẳng Trung Thành Đại Vương

Tổng Khai Thái có thôn Hạ thuộc xã Vĩnh Xuân

Tổng Lương Xá có các làng: Phú Nhiêu (Bất Nạo), Văn Trai.

Tổng Mỹ Lâm có các thôn, làng: thôn Ứng Thiên thuộc làng Ứng Hoà, Cổ Chế, Thao Chính (làng Dền), Phong Triều, Phú Mỹ, Ứng Hoà, Phúc Lâm.

Tổng Thịnh Đức Thượng có các làng: Chuyên Mỹ Hạ, Đồng Vinh (Đồng Bông).

Tổng Thường Xuyên có các làng: thôn Thượng làng Thường Xuyên, Ba Lai, Cầu Đông (Kiều Đông), Cổ Trai, Đa Chất (Tông Chất), Thường Xuyên Thái, thôn Trung thuộc làng Ba Lai.

Tổng Tri Chỉ có làng Tri Chỉ (làng Chể).

Tổng Tri Thuỷ có các làng: Bái Đô, Tri Thủy (làng Bìn), Nhân Sơn (làng Khoi), Kim Quy, Mai Trang (làng Mũ), Thành Lập (làng Sộp), Thần Quy (làng Tè), Vĩnh Ninh.

Về tên gọi, chúng tôi thấy Trung Thành Phổ Tế đại vương được người dân Phú Xuyên thờ phụng với những thần hiệu khác nhau:

- Thổ Lệnh Trưởng được các thôn, làng: thôn Hạ (Vĩnh Xuân), (Q4O 18/II, 5 - VTT(2)), Thao Chính (Q4O 18/II, 80 - VTT), Phong Triều (AE.a2/42 - VHN(1)), Phú Mỹ (AE.a2/42 - VHN), Chuyên Mỹ Hạ( Q4O 18/II, 44 - VTT), Đồng Vinh (Đông Bông), (Q4O 18/II, 46 - VTT), thôn Thượng (Thường Xuyên), (AE.a2/44 - VHN), Cổ Trai (Q4O 18/II, 32 - VTT), Đa Chất (AE.a2/44 - VHN), Tri Chỉ (AE.a2/46 - VHN), Kim Quy (AE.a2/47 - VHN), Thành Lập (AE.a2/47 - VHN) ghi làm thần hiệu;

- Trưởng Công được các làng: Cầu Đông (Q4O 18/II, 28 - VTT), Tri Thuỷ (AE.a2/47 - VHN), Nhân Sơn (AE.a2/47 – VHN, Q4O 18/II, 22 - VTT), Vĩnh Ninh (AE.a2/46 - VHN) ghi làm thần hiệu;

- Trung Thành đại vương được các thôn, làng: thôn Ứng Thiên (AE.a2/3 - VHN), Ứng Hoà (Q4O 18/II, 81 - VTT), Phúc Lâm (AE.a2/47 - VHN), Bái Đô (AE.a2/47 - VHN, Q418/II, 17 - VTT), Thần Quy (AE.a2/47 - VHN) ghi làm thần hiệu;

- Trung Thành Phổ (Phả) Tế đại vương được các làng: Văn Trai (Q4O 18/II, 63 - VTT), Mai Trang (Q4O 18/II, 20 - VTT), Cổ Chế (Q4O 18/II, 87 - VTT) ghi làm thần hiệu;

- Trưởng Lịnh (Lệnh) được làng Phú Nhiêu (AE.a2/41 - VHN, Q4O 18/II, 22 - VTT) ghi làm thần hiệu;

- Lương Trưởng được các làng: Ba Lai (Q4O 18/II, 27 - VTT), Thường Xuyên Thái (Q4O 18/II, 25 - VTT), thôn Trung thuộc làng Ba Lai (Q4O 18/II, 27 - VTT) ghi làm thần hiệu.

Những đường nét cổ xưa của đình Đa Chất vẫn còn được lưu giữ gần như nguyên vẹn. Đến nay vẫn chưa ai xác định được số tuổi chính xác của đình Đa Chất. 

2.2. Phong tục thờ cúng và kiêng kỵ

Phong tục thờ cúng Trung Thành Phổ Tế đại vương qua các lễ hội ở tổng Thường Xuyên cũ(2) được thể hiện như sau:

Hằng năm vào ngày mồng 9 tháng 8 âm lịch, các làng Ba Lai, Đa Chất, Cầu Đông, Cầu Đoài, Thường Xuyên Thượng, Ba Lai, Cổ Trai tưởng niệm ngài. Các làng nói trên rước bài vị xuống làng Đa Chất hội lễ giao hiếu, chứ không ăn uống gì cả, và trai gái các làng ấy vẫn lấy được nhau(1). Theo phong tục, làng Cổ Trai kết nghĩa với làng Thường Xuyên, Thái Lai và Đa Chất - nơi hoá của Trung Thành Phổ Tế đại vương. Vì vậy, vào sáng ngày mồng 9 tháng 8, kiệu thánh được rước từ đình Cổ Trai qua đình Thường Xuyên, tiếp xuống đình Thái Lai, sau đó kiệu thánh của ba làng cùng rước xuống đình Đa Chất. Tại đây, bốn làng lần lượt cử đoàn tế của làng vào tế Thành hoàng làng làng Đa Chất. Khi tế xong, ngày mồng 10, làng Cổ Trai tổ chức rước kiệu thánh từ đình Đa Chất về đình Cổ Trai, để ngày 11 làm lễ tế chính tại đây.(2)

Đình Đa Chất là một trong những đình làng hiếm hoi có tuổi đời đến hơn ngàn năm ở Hà Nội

Qua khảo sát, điền dã, chúng tôi thấy các làng thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương, ngày sinh, ngày hoá cũng có sự khác nhau:

Ví dụ:

- Các làng: Cổ Trai, Đa Chất, (xã Đại Xuyên), ngày sinh 12 tháng 2; ngày hoá 10 tháng 6 năm Đinh Mão (?);

- Làng Phú Nhiêu (xã Quang Trung), ngày sinh 12 tháng 2; ngày hoá 10 tháng 6.

- Làng Văn Trai (xã Vân Hoàng), ngày sinh 12 tháng 2 năm Đinh Mão (?); ngày hoá 12 tháng 8;

- Làng Cổ Chế (xã Phúc Tiến), ngày sinh 12 tháng 6; ngày hoá 12 tháng 2;

- Làng Tri Thuỷ (xã Tri Thuỷ), ngày sinh 6 tháng 2 năm Đinh Mão (?); ngày hoá 10 tháng 6...

Cuối của bản thần tích làng Phú Nhiêu có ghi những kiêng kỵ, ngày sinh, ngày hoá của Ngài:

Trong năm những ngày sinh, ngày hoá, cũng như ngày khánh hạ, các tiết, gồm tên huý, sắc phục hành lễ đều cấm.

Tên huý: Trưởng, Lệnh, Thổ, Trung, Thành kỵ ba ngày; phụ mẫu tên: Bột, Hương cùng màu vàng, tía sắc phục đều cấm.

- Ngày sinh: 12 tháng 2: Lễ nghênh thần từ miếu thờ ngoài Tam Giang, về hội đồng sở, đường bộ nghênh giá, đường thuỷ ba chiếc thuyền rồng về đến trước cửa, tổ chức hành lễ: gồm chai nghi, mâm xôi, oản quả, lợn màu đen, rượu. Tổ chức ca hát, đánh cờ, đánh vật, kéo dài 10 ngày mới nghỉ.

- Ngày hoá: 10 tháng 6: Hành lễ: chai, bàn, trà, oản quả, bánh tròn màu trắng (bánh dày), xôi, cơm rượu, lợn, kim ngân, đẳng vật.

- Khánh hạ ngày 10 tháng 8: Hành lễ: chai, bàn, xôi, rượu, ca hát ba ngày, có trâu, lợn cũng được.

- Khánh hạ 15 tháng 8: Hành lễ: chai, bàn, xôi rượu, ca hát ba ngày.

- Khánh hạ 15 tháng 3: Hành lễ nghênh thần hai chiếc thuyền rồng đi theo đường thuỷ đến Hội đồng tế sở, ca hát, đánh vật, chai bàn, gà, xôi, thịt, kéo dài ba ngày.

- Khánh hạ 10 tháng Giêng: Hành lễ chai, bàn, lợn, xôi, rượu, ca hát ba ngày.

- Khánh hạ 12 tháng 5: Hành lễ tại cung miếu: có thuyền rồng nghênh hạ, chai, bàn, trâu, lợn, xôi, rượu, bánh tròn màu trắng (bánh dày), ca hát vui chơi 10 ngày lễ tạ.

- Khánh hạ 10 tháng 1: Hành lễ xôi, rượu, ca hát một ngày.

- Khánh hạ 25 tháng 10: Hành lễ: lợn, xôi, rượu, ca hát ba ngày.

- Xuân thu nhị kỳ tại cung miếu, ngày hoá: 15 tháng 3 và 15 tháng 8: Hành lễ tam sinh, ca xướng ba ngày.

*

*     *

Có thể nói, tục thờ cúng Thành hoàng làng là một tín ngưỡng xưa, rất phổ biến ở nông thôn Việt Nam. Mỗi làng thờ một vị hoặc nhiều vị thần bảo hộ cho thôn, làng, ấp, trang... Thành hoàng có thể là Thiên thần, có thể là Nhân thần do có công khai dân lập ấp, vốn là những anh hùng võ tướng có công, một viên quan xuất sắc,... và thường được ghi tiểu sử, công trạng trong các cuốn thần tích, thần phả (ngọc phả).Vì vậy, Thành hoàng làng là vị thần ngự trị trong lòng người dân từ nhiều thế kỷ nay, việc thờ Thành hoàng làng trở thành lệ tục, thể hiện sự thành tâm của cộng đồng đối với thần thánh, đồng thời là cơ hội để những người xa quê có dịp trở về gặp mặt bà con họ hàng, do vậy, mái đình và con người nơi đây có sự gắn bó mật thiết.

V.Q.D

(Theo: Thông báo văn hoá dân gian 2005, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)


(*) Viện Nghiên cứu văn hóa

(1) Nay là huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây.

(1) Thần tích làng Phú Nhiêu, xã Bất Nạo, tổng Lương Xá, huyện Phú Xuyên (ký hiệu AE.a2/41, Viện Nghiên cứu Hán Nôm), do các cụ Trần Huy Đĩnh, Vũ Quang Liễn dịch, tài liệu lưu tại Ban Quản lý di tích Hà Tây.

(1) Tông Chất, tên gọi xuất hiện muộn nhất vào khoảng thời Hậu Lê, sau đổi thành xã Đa Chất thuộc tổng Đường Xuyên (Thường Xuyên), huyện Phú Xuyên; nay là thôn Đa Chất thuộc xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên.

(1) Theo: Ngô Vi Liễn (1928), Nomenclature des communes du Tonkin: Classées par cantons, phủ, huyện ou châu et par provinces, Imprimerie Mac-Dinh-Tu, Hanoi. Huyện Phú Xuyên gồm 10 tổng: Gia Cầu, Hoàng Trung, Khai Thái, Lương Xá, Mỹ Lâm, Thịnh Đức Hạ, Thịnh Đức Thượng, Thường Xuyên, Tri Chỉ, Tri Thuỷ. Ở đây, chúng tôi chỉ khảo sát các thôn, làng, xã của huyện Phú Xuyên cũ (trước năm 1945). Một số thôn, làng, xã cũ thuộc huyện Thượng Phúc và phủ Thường Tín sáp nhập về huyện Phú Xuyên, chúng tôi sẽ khảo sát vào một chuyên đề khác.

(2) Ký hiệu tài liệu được lưu trữ tại Viện Thông tin Khoa học xã hội (VTT).

(1) Ký hiệu tài liệu được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VHN).

(2) Theo Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra (các tổng trấn xã danh bị lãm, Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981. Tổng Đường Xuyên (Thường Xuyên) có 9 xã, thôn: thôn Thượng thuộc xã Đường Xuyên, thôn Cổ Trai thuộc xã Đường Xuyên, thôn Cầu Đông thuộc xã Đường Xuyên, thôn Cầu Đoài thuộc xã Đường Xuyên, thôn Thái thuộc xã Đường Xuyên, Vân Hoàng, Tông Chất, Thượng An, Từ Điều.

(1) Thần tích - Thần sắc làng Ba Lai, tổng Thường Xuyên, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông, soạn năm 1938, 4 trang chữ Quốc ngữ, lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội, ký hiệu Q4O18/II, 27.

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 9
  • 8952
  • 3,809,462