Bùi Dương Lịch - một nhà Nghệ Tĩnh học xuất sắc

  24/02/2017

Bùi Dương Lịch là một nhà Nghệ Tĩnh học xuất sắc. Ông có tên tự là Tồn Thành, hiệu là Thạch Phủ và Tồn Trai, người làng Yên Hội, xã Yên Đồng, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An, nay thuộc xã Châu Phong, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh vào năm Cảnh Hưng thứ 18 (1757) và mất năm 1828.

Tác phẩm của ông gồm Bùi gia huấn hài (2 quyển), Nghệ An phong thổ ký (1 quyển), Nghệ An chí (1 quyển), Nghệ An ký (2 quyển), Lê Quý Dật sử (1 quyển), Bùi Tồn Trai liên văn (1 quyển), An Toàn Hoàng giáp Bùi Tồn Trai tiên sinh tập biểu (1 quyển), Lê triều thổ địa chí (1 quyển), Yên Hội Thôn Chí (1 quyển), Ốc lậu thoại thi văn tập (1 quyển) và đã dịch ra tiếng Việt: Bùi gia huấn hài (bản dịch của Trần Lê Nhân), Ốc lậu thi thoại văn (bản dịch của Đỗ Ngọc Toại), Lê Quý Dật sử (bản dịch của Phạm Văn Thắm), Nghệ An ký (bản dịch của Nguyễn Thị Thảo ), An Hội thôn chí (bản dịch của Hoàng Văn Lâu), Thơ Bùi Dương Lịch (Võ Hồng Huy dịch). Chừng đó tác phẩm cũng hiểu được tấm lòng của Bùi Dương Lịch với xứ Nghệ. "Nói chung, vì là người "chuyên tâm dạy học và đi du lãm khắp nơi trong xứ Nghệ, nên ông biết nhiều hiểu sâu về mảnh đất này", lại giữ chân Đốc học một tỉnh, cho nên Bùi Dương Lịch có hoàn cảnh, điều kiện đến tận các địa phương để điều tra sưu tầm. Tác giả lại vốn “có kinh nghiệm biên soạn địa chí" (Nguyễn Thị Thảo, tr. 17). Xuống dưới, chúng tôi cố gắng hiểu ông qua Nghệ An ký và Yên Hội thôn chí.

1. Nghệ An  gồm hai quyển. Quyển một có hai chương Thiên chí và Địa chíThiên chí nói về giới phận: Thiên dã (cõi đất theo thiên văn) và Thiên chí (khí hậu). Địa chí có 5 phần: Cương vực, Điều lý (mạch đất), Núi non (85 địa danh và sông suối, 31 địa danh và 12 địa danh cửa biển). Quyển hai có một chương Nhân chí chia ra hai phần: phần Đại cương gồm 2 mục: khí chất (tâm tình và thể chất con người), sinh lý (đời sống kinh tế). Và phần Nhân vật có 3 phần: Cổ đế (Việt Thường Thị và Mai Hắc Đế), Văn nhân (150 Nho sĩ có tên tuổi) và Võ tướng (31 người nổi tiếng).
Khi chép về Trời (thiên chí), ông nói tới cõi trời và khí trời. Ví như, khi nói đến khí trời, Bùi Dương Lịch nhận xét: trời Nghệ An khí hậu ôn hoà, tuy đã vào tiết tháng 10 vẫn ấm áp như thường. Trong khoảng tháng 8 và tháng 9 trời hay mưa dầm và có gió mùa Đông Bắc. Ông nói đến mưa rươi và bão rươi vào thời kỳ rươi đẻ. Dân biển hiểu rằng: "Con ơi nghe lấy lời cha. Mồng năm tháng chín ắt là bão rươi" (Xem Nghệ An tr. 29)
Khi viết về đất, Bùi Dương Lịch đã làm rõ về cương vực của xứ Nghệ bằng những tư liệu rất xác đáng về lịch sử (từ tr 33 đến tr 47). Ông đã chỉ ra: Tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Bắc giáp Thanh Hoá, phía Tây giáp Ai Lao, phía Đông giáp biển. Nam Bắc và Tây Đông cách nhau hơn 500 dặm. Đây là đất của An Dương Vương, đất Việt Thường thời cổ. Viết về mạch sông núi, Bùi Dương Lịch nêu rõ từng dòng sông, ngọn núi trên đất Nghệ An. Ví như sông Lam, sông La, sông Ngàn Phố …, núi Thiên Nhẫn, núi Hạc, núi Sắt, núi Mộ Dạ, núi Mồng Gà, núi Hoà Bảng, núi Đại Huệ, núi Giăng Màn, núi Yên Ngựa … Mỗi dòng sông, ngọn núi, Bùi Dương Lịch đã cho biết lý lịch khá rõ ràng và thậm chí có cả những bài thơ vịnh. Xin đơn cử “Núi Ngọc Tượng (Voi ngọc), ở xã Lương Trường, huyện Thanh Chương. Mạch từ núi Động Chủ lại, đến đây đột xuất nổi lên, như dáng một con voi thò vòi xuống sông, bên cạnh vòi có một đống đất nhỏ, hoa cỏ tươi tốt, tục gọi là sọt cỏ (thảo quỹ). Khe Minh chạy vòng quanh soi dọi. Nước triều sông Lam đến quãng này thì xuống (người dân địa phương gọi là núi Nguộc - tr 117)”. Hoặc “đèo Ngang”(Hoành Sơn) ở xã Hoàng Lễ, huyện Kỳ Hoa và là núi đứng trấn trong huyện. Một dải từ phía Tây lại, chặn ngang đường biển, cây cối um tùm, ngày trước là nơi xung yếu giữa Giao Châu và Chiêm Thành. Thành dải lũy ngăn hiểm trở, kiên cố có thể dựa được. Hiệp trấn Bùi Huy Bích người huyện Thanh Trì đi trong mưa ở núi Phú Nghĩa có làm thơ rằng:
Thuỷ tín Hoa nam biên ải tráng
Bất tri khống ách kỷ trùng quan
Liên không thương mãng hồn lâm tụ
Bạt địa ta nga tận thạch san (sơn)
U điểu sầu viên thuỷ phục quản
Độc khê nguy đắng chỉ như nhàn
Vũ trung cảnh tượng nan miêu xứ
Noãn kiệu đê ngang vân vũ gian.
Dịch thơ:
Vẫn nghe Hoan Diễn đất oai hùng
Nào biết gian quan gấp mấy trùng
Núi đá nguy nga đầy mặt đất
Rừng cây mờ mịt ngất tầng không
Chim sầu vượn náu ai e ngại?
Dốc đứng khe sâu, chẳng lạ lùng
Cảnh tượng trong mưa khôn xiết tả?
Mặc mưa chiếc kiệu vẫn ung dung”
(Đỗ Ngọc Toại dịch) (tr 86)
Rồi đến cả bãi Sò, gò Điệp, gò Lạc …; suối Bò Đái, suối Hiêu Hiêu, khe Nước Nóng, khe Nước Lạnh, khe Bông (Mộc miên khê), khe Độ Liêu; hồ Mai, hồ Nước Biển …; Cửa Hội, Cửa Lò, Cửa Xá, Cửa Vạn Phần, Cửa Hiền … Mỗi miền quê ông từng sống, từng đi qua đều được lưu bút lại một cách tỉ mỉ, tường tận và đã trở thành những tư liệu quý cho hậu thế.
Quyển hai, ông viết về khí chất, con người Nghệ An mà cụ thể là nhân danh học (Athroponymic). Như ta biết, địa danh học và nhân danh học thuộc bộ môn khoa học là danh xưng học (onomasiologie).
Khó có thể tìm được một nhận xét tuyệt vời như Bùi Dương Lịch: "Thổ âm người Nghệ An đục và nặng (trọc)", nhưng đều có thể bắt chước tiếng khác được, vì rằng nặng thuộc âm cung mà âm cung thì thuộc hành Thổ, hành Thổ thì không phải chính ngôi (ngôi cố định) và không thành tính (tính cố định) đều có thể nhờ ở bốn hành khác mà vượng lên, cho nên hiện ra âm thanh cũng thế … Văn chương người Nghệ An phần nhiều mạnh mà cứng cỏi, ít bóng bẩy (hoa lệ). Vì rằng văn chương là tiếng của lòng, khí chất (con người) như thế nên phát ra lời văn cũng như thế. Bởi vì khí chất như thế nên không chuộng những sự hoa lệ (bề ngoài) và ít lấy văn chương để tự phụ" (tr. 215). Tiếp đến, ông nêu những nghề nghiệp ở Nghệ An và viết về các văn nhân: Bạch Liêu, Hồ Tông Thốc, Nguyễn Biểu, Dương Chất Trung, Nguyễn Thiên Chương, Cao Quýnh, Phan Phúc Cẩn, Phan Dư Khánh, … gồm 150 nho sĩ, võ tướng có 31 người nổi tiếng như: Đặng Tất, Đặng Dung, Nguyễn Xí, Phan Công Tích …
"Binh lính Nghệ An ngày xưa gọi là thắng binh, khéo dùng thì đủ để trở nên vô địch trong thiên hạ. Xét ra cũng không phải họ dũng mạnh quả cảm hơn người, mà chỉ vì họ quen sự cần cù, gian khổ, sợ lệ tục luật pháp, thân với người trên và liều chết, vì bậc trưởng, chỉ có thế thôi. Triều Lê khi sáng nghiệp và trung hưng, đều dùng sức quan Nghệ An, rất có hiệu quả. Thời gần đây, triều đình thấy xứ ấy đất xấu, dân nghèo, không bắt xuất của, chỉ bắt xuất lực và đối xử hết sức tươm tất" (tr. 217)
Chung quy lại, Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch là bức tranh toàn cảnh về một vùng quê, xứ sở - xứ Nghệ.
2. Cư dân Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng thuộc khu vực văn hoá lúa nước. Đông Nam Á là khu vực thống nhất trong sự đa dạng. Những đơn vị như làng, dòng họ, gia tộc … là cực kỳ quan trọng trong khu vực này. Nghệ Tĩnh cũng nổi tiếng nhiều dòng họ, làng … ở cả Nghệ An và Hà Tĩnh. Điều này chắc hẳn ai cũng hiểu. Yên Hội thôn chí của Bùi Dương Lịch là những thông tin về một làng, thôn chính quê hương tác giả. Theo Nguyễn Khắc Viện: "Từ lâu đời, làng đã là nơi lưu truyền ngôn ngữ và văn hoá dân gian, nền tảng của ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Một số làng là trung tâm văn hoá của một vùng (di tích lịch sử lớn, lễ hội lớn, các hình thức diễn xướng tiêu biểu như quan họ, chèo, rối nước, tuồng …). Đối với người Việt, làng là một ý niệm sâu sắc và thiêng liêng, là tượng trưng của quê cha đất tổ. Làng là nơi thừa nhận địa vị, thành công và danh vọng của mỗi người. Ngày xưa, dù đi đâu, ở đâu người ta vẫn tìm về làng, như về cội nguồn, để được sống giữa họ hàng, làng mạc, để cuối cùng được chôn ở làng quê, bên cạnh tổ tiên" (tr.168). Yên Hội thôn chí bao gồm các phần: 1. Nhưỡng địa chí (các mạch đất, núi, sông, đất đai sông núi), 2. Nhân vật chí (ông ghi chép 32 nhân vật nổi tiếng, trong đó có tác giả), 3. Sản nghiệp chí (sản vật, nghề nghiệp địa phương), 4. Từ tự chí (các công trình đền miếu, tế lễ, các bài văn tế), 5. Công chính chí (chế độ quân đội, các loại thuế), 6. Dân tục chí (quy định trong làng xã và phong tục tập quán), 7. Âm dương hợp đức thuyết (đền thờ Thành hoàng địa phương và gắn với quan điểm triết học của tác giả) và 8. Bùi gia phả (ghi gia phả họ Bùi ở thôn Yên Hội từ thuỷ tổ đến tác giả là đời thứ 7).
Theo tác giả, thôn Yên Hội xưa là làng Quần Hội và đời vua Lê Thần Tông Uyên hoàng đế (1635 - 1643) là thôn Yên Hội. Thôn Yên Hội thuộc xã Yên Toàn, tổng Yên Việt Hạ, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (Phủ Đức Quang nay đổi là Đức Thọ, tổng Yên Việt hạ nay đổi là tổng Việt Yên, Yên Toàn nay đổi là Yên Đồng) (tr.18). Những hình sông thế núi, lễ nghi phong tục, truyền thống tốt đẹp của một ngôi làng bé nhỏ đã sản sinh biết bao nhân tài như Bùi Văn Thảo, Mai Bá Lý, Phạm Tiến Đức, Bùi Dương Lịch… Làng Yên Hội - quê hương của tác giả đã bao chứa nhiều tư liệu phong phú về nhiều mặt và chính đó, là nguồn cảm xúc, là nơi tác giả gửi gắn tình yêu của mình, thể hiện tấm lòng của mình với quê cha đất tổ.
Viết về Bùi Dương Lịch, đã xuất hiện hàng loạt tác giả: Hoàng Xuân Hãn, Thái Kim Đỉnh, Nguyễn Thị Thảo, Chương Thâu, Trần Văn Giàu, Trần Văn Giáp… Xét từ góc độ địa phương học, bằng những đánh giá vừa nêu, theo quan điểm của chúng tôi, Bùi Dương Lịch xứng đáng là nhà Nghệ Tĩnh học xuất sắc. Những tư liệu và nhận xét của Bùi Dương Lịch qua các công trình của ông để lại hiện đang còn nguyên giá trị. Thiết nghĩ, với Bùi Dương Lịch, nên tổ chức Hội thảo khoa học riêng để có dịp đánh giá, nhận xét về nhiều phương diện, nhiều mặt giá trị trong những công trình của ông.
1. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký (Nguyễn Thị Thảo dịch và chú) - Nxb KHXH - H - 1993.
2. Bùi Dương Lịch, Yên Hội thôn chí (Nguyễn Thanh Hà dịch và giới thiệu), Sở VHTT Hà Tĩnh, 2000.
3. Nguyễn Khắc Viện, Từ điển xã hội học, Nxb TG - H - 1994

Tin liên quan:

Văn bia Bùi Dương Lịch

Đôi điều nói thêm về thơ chữ hán của Bùi Dương Lịch

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 6
  • 86
  • 4,653,870