Bùi Huy Nhượng và công trình kênh Bàu Láng

  11/03/2017

Trong một tập tư liệu viết bằng tiếng Pháp của Hội Dân gian Đông Dương, lập năm 1937, lưu tại Thư viện Quốc gia, bản mang mã số FQ4018/69 là bản "LỊCH SỬ VỀ NGÀI: BÙI HUY NHƯỢNG" do thầy Nguyễn Văn Tường, giáo viên trường Thanh Đàm, Nam Đàn tường thuật khi "Trả lời câu hỏi theo phiếu phỏng vấn của Hội Dân gian Đông Dương" về đền miếu và công tích của các vị thần được dân làng phụng tự; có nội dung như sau: Ở làng Phú Thọ, tổng Xuân Khoa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có đền Đức Ông thờ Ngài Bùi Huy Nhượng, một nhân thần. Ngài sinh ngày 13 tháng 4 năm Quý Vị (1523) và mất ngày 15 tháng 10 năm Đinh Hợi (1587).

1. Trong một tập tư liệu viết bằng tiếng Pháp của Hội Dân gian Đông Dương, lập năm 1937, lưu tại Thư viện Quốc gia, bản mang mã số FQ4018/69 là bản "LỊCH SỬ VỀ NGÀI: BÙI HUY NHƯỢNG" do thầy Nguyễn Văn Tường, giáo viên trường Thanh Đàm, Nam Đàn tường thuật khi "Trả lời câu hỏi theo phiếu phỏng vấn của Hội Dân gian Đông Dương" về đền miếu và công tích của các vị thần được dân làng phụng tự; có nội dung như sau: Ở làng Phú Thọ, tổng Xuân Khoa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có đền Đức Ông thờ Ngài Bùi Huy Nhượng, một nhân thần. Ngài sinh ngày 13 tháng 4 năm Quý Vị (1523) và mất ngày 15 tháng 10 năm Đinh Hợi (1587). Ngài sai đào một kênh để dẫn nước cho Bàu Láng (ở trong làng Phú Thọ) trên bờ hữu của Lam Giang.

Truyền thuyết về Thần là truyền khẩu.

Bùi Huy Nhượng là con một của Bùi Huy Lâm, có trí thông minh từ sớm. Ở tuổi 24, Ngài đã đỗ Tiến sĩ khóa thi 3 năm 1 lần, năm Bính Ngọ (1546) và được thăng quan ở triều đình năm Canh Tuất (1550). Khi về hưu, Ngài được phong tước “Thái Tử Thiếu Bảo”.

Khi được công bố về hưu, Ngài trở lại quê cha đất tổ. Thấy Bàu Láng là một vùng đất màu mỡ nhưng bị nước ngập sâu vì thế mà không sản xuất được, Bùi Huy Nhượng sai đào 1 con kênh nối Bàu Láng và sông Lam để dẫn lưu. Một số khá đông dân làng thấy đất đai của họ bị con kênh choán mất nên đưa đơn lên quan kiện Ngài. Ngài buồn phiền về cư xử của dân chúng, bỏ làng ra đi với gia đình con cái đến Thanh Chương trong làng Khoa Tràng và ở lại đó đến hết đời. Ngài mất ngày 15 tháng 10 năm Đinh Hợi.

Nhưng dân làng cũ (Phú Thọ) chẳng mấy chốc nhận ra sự bất công của mình, bởi vì khi cái hồ này khô nước đã cho họ 220 mẫu đất phì nhiêu kỳ diệu. Để tỏ lòng biết ơn Ngài và để đền tội, họ xây một ngôi đền để vinh danh vị quan quá cố.

Trước khi thờ Ngài, dân làng không thờ 1 vị thần nào khác.

Làng Khoa Tràng cùng thờ Ngài nhưng không có bất kỳ mối liên hệ nào giữa 2 làng Phú Thọ và Khoa Tràng.

Địa điểm thờ cúng:

a, Đặc tính tự nhiên: Đền được xây dưới chân rặng Thiên Nhẫn bao quanh bằng những lùm cây rậm rạp và gồm 2 ngôi nhà gạch.

b, Người ta thờ thần trong một ngôi đền đặc biệt.

c, Người ta cấm chôn cất ở đó.

d, Ngoài mục đích là nơi thờ cúng Thần, đền không có mục đích gì khác.

Các ngày lễ và hội:

a, Liên quan đến đời sống của Thần: Ngày lễ làm vào ngày mất của Ngài (ngày 15 tháng 10).

b, Liên quan đến canh tác.

c, Khi có dịch bệnh, người ta cũng tổ chức lễ.

Các lễ vật:

a, Lễ vật gồm trầu cau, rượu, gạo nếp và lợn.

b, Kinh phí mua lễ vật do dân làng đóng góp, xôi và thịt lợn phải thật chín.

c, Sau lễ, một phần lễ vật được ăn ngay tại chỗ, một phần chia cho người dự lễ. Các chức sắc và bô lão được phần thủ và cổ lợn.

Các phục tế:

- Số lượng là 4 người.

- Chủ tế phủ phục và quỳ trước bàn thờ, các bồi tế dâng rượu và trầu lên bàn thờ và đọc văn tế.

- Các phục tế không phải tuân theo một kiêng cữ gì cả.

- Các phục tế mặc áo dài thụng.

2. Cũng trong tư liệu nói trên, bản mang mã số 4018/ML là bản kê các vị Linh thần được tôn thờ ở huyện Thanh Chương, trong đó có Ngài Bùi Công Nhượng thờ ở đền Đức Thánh Thái Bảo.

Hai bản mang hai mã số, cùng nói về một nhân vật lịch sử, do hai ký giả chấp bút đã rất trùng khớp với nhau, điều đó nói lên tính nhất quán của nhân vật và sự tích.                                                             

3. Các mục 1&2 nói trên là tư liệu được dịch từ tiếng Pháp, tên tuổi Ngài còn được lưu trong Thư tịch Hán Nôm. Trong Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919) của Đào Tam Tỉnh, Thư viện Nghệ An in năm 2000, Bổ di Danh mục Tiến sĩ, ở trang 215, có mục từ: 1, Bùi Duy Nhượng: Xã Hương Trường, huyện Thanh Chương, Đậu Tiến sĩ khoa Bính Ngọ - Nguyên Hòa (1546) (Theo Đông Yên nhị huyện khoa phổ).

Và còn có cả trong "Bản sao theo nguyên văn lưu tại Quốc sử quán", vào năm Giáp Dần, Duy Tân (1914) của Nguyễn Văn Giá, Tri Lễ, về Danh sách 11 vị Tiến sĩ của Nghệ An đậu Khoa Bính Ngọ Nguyên Hòa (1546), là thời kỳ mở đầu sự nghiệp Trung Hưng, mọi việc còn bị xáo trộn bởi chiến tranh nên chưa kịp lưu vào khoa phổ và khắc vào bia. Trong đó có: 1. Bùi Duy Nhượng, Lương Trường, Bích Triều, làm quan đến chức Thiếu Bảo(1).

Tên tuổi công tích, sự nghiệp của Ngài lớn lao là vậy, song vì điều kiện lịch sử, đền thờ Ngài, cũng như nhiều đền thờ Thành Hoàng ở các làng xã khác, nay không tồn tại. Gần đây, đền thờ các vị Thánh Thần từng có công "Hộ quốc cứu dân", trong đó,  phần lớn các đền thờ các vị nhân thần, là nhân vật lịch sử, là Thành Hoàng làng, là Tiên tổ của một dòng họ, đã được trùng tu tôn tạo, dân làng tôn vinh, nhà nước ghi nhận, bằng nhiều hình thức thỏa đáng. Tuy nhiên, đối với Ngài Bùi Huy Nhượng, cũng như nhiều vị khác, vì nhiều lẽ mà chẳng những đền miếu không còn vết tích, mà điều quan ngại hơn là công tích của họ đã bị lãng quên, bởi sử sách ngày nay còn bỏ sót, chưa ghi đầy đủ. Như "Con sông đào Hữu Biệt" ở Nam Đàn, bấy lâu nhờ có An Tĩnh cổ lục đã dịch ra tiếng mẹ đẻ và ấn hành nên mới biết đó là công tích của Nguyễn Văn Minh, "... Dưới thời Dương Hòa đời vua Lê Hiến Tông (1460-1497)(2), một quan Thượng thư hưu trí tên là Nguyễn Văn Minh đã cho đào một con sông để rút nước cho hồ cạn đi một phần, đó là con sông đào Hữu Biệt, con kênh được nối tiếp và chảy vào sông Lam".

Còn công trình đào kênh Bàu Láng thông với sông Lam, bên hữu ngạn, và người có công đã được làng nước tôn vinh, dựng đền thờ phụng đã từ lâu thì ít người biết đến. Nay nhờ một tư liệu cổ vừa khai thác được mà một trầm tích nhân văn phát lộ. May thay!

Thiết nghĩ, công đức Tiền nhân càng sáng tỏ càng tốt. Tin vui khởi lòng hướng về cội nguồn tri ân Tiên tổ. Tin vui này, hẳn sẽ có nhiều người quan tâm và hy vọng được đón thêm nhiều thông tin mới, bổ ích từ các thức giả, các địa phương, các dòng họ nhằm góp phần làm phong phú thêm cứ liệu về một nhân vật lịch sử.   

Chú thích

(1): Theo chú thích của người dịch cuốn Thanh Chương huyện chí của Bùi Dương Lịch, bản dịch của Bùi Văn Chất, Nxb NA, 2008, tr.50.

(2): Theo Niên biểu Việt Nam, đời vua Lê Hiến Tông (1498 - 1504) chỉ dùng một niên hiệu

Cảnh Thống (1489 - 1504). Còn Dương Hòa (1635 - 1643) là một niên hiệu của Lê Thần Tông khi ở ngôi lần thứ nhất (1619 - 1643). E rằng tác giả đã có sự nhầm, nên xin được lưu ý bạn đọc.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Bản dịch tư liệu Hội Dân gian Đông Dương của Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Nghệ An.

2. An Tĩnh cổ lục, Le Breton (bản dịch), Nxb Nghệ An và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2005.

3. Khoa bảng Nghệ An, Đào Tam Tỉnh, Thư viện NA, 2000.

4. Thanh Chương huyện chí, Bùi Dương Lịch (bản dịch của Bùi Văn Chất), Nxb NA, 2008.

                               Bùi Văn Chất  (Sưu tầm và giới  thiệu)

Tin liên quan:

Thông tin bổ sung ( ảnh ) về mộ và miếu thở Thái bảo Tướng công Bùi Huy Nhượng ở Nghệ An

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 6
  • 723
  • 1,613,096