BÙI HUY TÙNG, NHÀ VĂN HOÁ ĐÁNG TRỌNG CỦA HÀ NỘI

  06/03/2017

Bùi Huy Tùng (1794 – 1862). Ông hiệu là Như Trai, tự là Tú Lĩnh. Ông hiếu học, quảng bá song không thành đạt về khoa cử. Dường như ở một kỳ thi Hương, ông chỉ vào đến Tam trường. Được bạn bè tiến cử, ông có vào Huế làm một chức vụ về văn thư ở phủ của Kiến An quận vương (con trai của Gia Long). Song chỉ một thời gian ngắn, ông cáo quan, về lại ngõ Phất Lộc mở trường dạy học. Được bà vợ tần tảo đảm đang buôn bán giỏi nên gia tư cũng khá giả. Song không như nhiều nhà có của mà keo kiệt, hai ông bà luôn làm những việc từ thiện công đức.

Ông là một nhà từ thiện nổi tiếng của Hà Nội nửa đầu thế kỷ XIX, quê ở ngõ Phất Lộc, sinh năm Giáp Dần - 1794, mất năm Nhâm Tuất - 1862.

Nguyên ngõ Phất Lộc ở Hà Nội gồm bốn nhánh thông ra bốn phố: Trần Nhật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Lương Ngọc Quyến và Hàng Mắm. “Phất Lộc” vốn không phải là tên khu vực này. Theo đơn vị hành chính đời Tự Đức (1848 - 1883) thì đây là đất của giáp Tiên Hạ thuộc thôn Dũng Thọ, phường Hà Khẩu, huyện Thọ Xương. Phất Lộc chính ra là tên một làng ở huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình, nay là xã Thái Giang, huyện Thái Thụy. Vào thế kỷ XVIII, có người dân làng này, họ Bùi, đến Thăng Long ngụ tại đây để theo học trường Quốc Tử Giám rồi ở luôn tại đó. Sau đấy, con cháu và người làng cũng theo lên, dần dần thành ra một ngõ mà đa số toàn là dân làng Phất Lộc. Nay trong ngõ hiện còn có ngôi nhà thờ họ Bùi, mang biển số nhà 30 diện mạo như hiện nay là có từ năm Mậu Dần đời Tự Đức (năm 1878). Đây là một họ lớn, con cháu làm ăn phát đạt, kể cả làm quan.

Theo gia phả họ Bùi thì ông tổ đầu tiên lên Thăng Long là Bùi Mạo, vào học trường Giám năm Đinh Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh (năm 1717). Cụ thuộc thế hệ thứ 11, tính từ thủy tổ ở Thái Bình.

Đến thế hệ thứ 14 có một nhân vật nổi tiếng về văn hoá, đặc biệt là về lễ nghi và công việc từ thiện. Đó là Bùi Huy Tùng (1794 – 1862). Ông hiệu là Như Trai, tự là Tú Lĩnh. Ông hiếu học, quảng bá song không thành đạt về khoa cử. Dường như ở một kỳ thi Hương, ông chỉ vào đến Tam trường. Được bạn bè tiến cử, ông có vào Huế làm một chức vụ về văn thư ở phủ của Kiến An quận vương (con trai của Gia Long). Song chỉ một thời gian ngắn, ông cáo quan, về lại ngõ Phất Lộc mở trường dạy học. Được bà vợ tần tảo đảm đang buôn bán giỏi nên gia tư cũng khá giả. Song không như nhiều nhà có của mà keo kiệt, hai ông bà luôn làm những việc từ thiện công đức.

Đặc biệt đối với các di tích lịch sử thì ông bà có đóng góp quan trọng. Xin nêu hai di tích lớn.

Thứ nhất, là Văn chỉ huyện Thọ Xương. Nguyên ngày trước trong việc thờ phụng các vị sáng lập ra Nho giáo thì ở cấp tỉnh có văn miếu tức tòa nhà xây dựng quy mô; còn ở cấp phủ, huyện và ở làng thì có văn chỉ, tức là một khuôn viên (phần lớn ở giữa đồng) gồm một cái nền lát gạch lộ thiên, bên trên xây những bệ gạch, đặt bát hương, mỗi năm “Xuân Thu nhị kỳ”, thường vào ngày Đinh của tháng Hai và tháng Tám, hội Tư văn hang phủ, hàng huyện (hoặc hàng xã) tới làm lễ cùng Khổng Tử và các vị khoa bảng của địa phương.

Riêng huyện Thọ Xương tới đời Nguyễn vẫn là huyện quan trọng của tỉnh Hà Nội nên các nhà nho đã thay thế văn chỉ lộ thiên bằng những tòa nhà hẳn hoi, không to bằng văn miếu song cũng đủ hậu cung, đại bái, tả vu, hữu vu... vì ngoài Khổng Tử, Tứ phối, nơi đây còn thờ các vị tiên hiền, tức các nhà khoa bảng người gốc Thọ Xương (Thọ Xương tiên hiền từ vũ - đền thờ tiên hiền huyện Thọ Xương). Nay Văn chỉ Thọ Xương đang xuống cấp, ở sâu trong ngõ Văn chỉ, chỗ số nhà 222 phố Bạch Mai rẽ vào. Tuy vậy, ở đó vẫn còn một tấm bia ghi lại sự việc xây dựng tòa đền này dựng vào niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (Mậu Tuất, 1838). Tác giả bài văn bia là nhà văn hóa lớn đương thời - Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý, người đời quen gọi là ông Nghè Đông Tác (vì quê ở làng Đông Tác tức phường Trung Tự ngày nay). Tên bia là “Thọ Xương tiên hiền từ vũ bi”.

Trong bài văn bia tác giả thuật lại quá trình tạo dựng văn chỉ, trong đó nêu cao công đức của ông Bùi Huy Tùng: “Xưa kia đã có đền thờ, nhưng trải qua cơn biến loạn (...) đền cũ không còn.

Năm Nhâm Thìn - 1832, bọn thân sĩ chúng ta cảm kích nhớ tới đạo đức phẩm chất các vị tiên hiền, nên bàn cách khiến cho được lưu truyền mãi, tham khảo quy chế phụng thờ, ghi thành ước lệ.

Qua năm Bính Thân - 1836, các thân sĩ đem ý định đó bàn với vị Tiến sĩ khoa Bính Tuất (năm 1826), người thôn Tự Tháp là Vũ Hoán Phủ (Vũ Tông Phan) rồi chọn nơi làm đền thờ ở phường Hồng Mai, phía Nam huyện. Đền chính xây toà gạch, mặt hướng về phương Đông. Năm gian bái dường, nhà bên tả và bên hữu đều lợp ngói, cột phía ngoài và tường xung quanh đều xây gạch. Khoảng giữa trồng hoa, lại đặt thêm ruộng tế và ao tất cả 8 mẫu 7 sào 10 thước.

Quy chế trăm ngàn năm, chỉ có vài năm mà hoàn thành. Ôi! Việc tốt đẹp của danh giáo được mở ra rồi chăng? Nếu không, sao lại hưng thịnh được như vậy.

Ngay từ ban đầu khi thân sĩ ta đề xướng ra thì ông Bùi Huy Tùng, người Hà Khẩu thuộc bản huyện đã vui lòng xuất của nhà hàng ngàn quan đưa cúng vào đó, lại tự mình trông nom mọi việc từ đầu đến cuối.

Thế mới biết rằng những việc rất lớn, rất tốt trong vũ trụ, chỉ sợ không chịu làm thôi. Nếu làm thì không có gì khó. Bởi vì đã hợp lẽ trời thì thần minh không hề ngăn cản việc hoàn thành” (1).

Không rõ giá trị của hàng ngàn quan tiền mà ông Tú Lĩnh đã bỏ ra để góp phần tu tạo di tích so với thời đó là bao nhiêu, chỉ biết bậc đại nho Nguyễn Văn Lý đã đưa tên tuổi và ca ngợi công đức của ông vào trong bia thì hẳn là rất lớn, không chỉ về vật chất mà còn cả về tinh thần.

Thứ hai, ông Tú Lĩnh còn đứng ra cáng đáng việc tu bổ chính ngôi đình Phất Lộc, nay là số nhà 46A trong ngõ. Đền đó do ba giáp Nguyên Thượng, Nguyên Trung, Nguyên Hạ của chính dân Phất Lộc lập ra, nên gọi là đền Tam Nguyên. Đền có từ giữa thế kỷ XVIII, đến giữa thế kỷ XIX thì hư hỏng. Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng đã đứng ra làm lại ngôi đền. Công việc xong xuôi cả ba giáp lập bia nhờ Tiến sĩ Vũ Tông Phan viết cho bài văn bia”Trùng tân Tam Nguyên từ bi ký” trong đó có đoạn: Ba giáp ta vốn người xã Phất Lộc huyện Đông Quan, phủ Thái Bình, tỉnh Nam Định, từ mấy đời trước bói quẻ dời đến đây, thấy đất này quả là đẹp bèn dựng nhà ngụ lại: vào năm Giáp Thân đời Cảnh Hưng (năm 1764)  lại xây từ vũ làm nơi tế lễ.

Nơi thờ cũng của ấp lâu nay đã hư nát. Ba giáp nhiều lần muốn tu sửa, nhưng sức lực với nguyện vọng trái ngược nhau, đành phó mặc, biết làm sao được! Ngày gần đây họp bàn, có người Giáp Thượng là Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng và vợ hiền là Cao Thị Tính, vốn dĩ vui làm việc thiện, nghe tỏ sự tình, nhân đó cũng có lời bày tỏ phân minh; tiếp theo lời lại vui vẻ xuất tiền riêng ra xây lại mới mẻ, to lớn hơn xưa. Công việc thật không lường! Tháng Hai, mùa xuân năm Mậu Thân (năm 1848) bói quẻ khởi công, đến tháng Mười mùa đông mới xong. Nhà mái khang trang, khí sắc hơn xưa gấp bội, ấy là nhờ có phúc ấm thần linh truyền lại, nhưng ví thử không có người thành thâm, liệu được như vậy chăng? Bèn cho khắc vào bia đã để lưu truyền” (1).

Lại một bậc đại nho khác ca ngợi công đức, việc làm từ thiện của Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng.

Ngoài ra, Tú Lĩnh còn góp công của tu bổ một số di tích khác như đình Xã Đàn, đình Văn Quán (nay thuộc phường Văn Mỗ, quận Hà Đông), đình Kim Bài (nay thuộc thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội) ... Thật là một tấm gương trong sáng vô tư.

Cũng phải kể đến một đóng góp đáng kể của ông Bùi Tú Lĩnh với việc nghiên cứu các cửa ô Hà Nội là bài văn bia ông soạn cho đình Thanh Hà, nay là số 10 Ngõ Gạch, có tên là Trùng tu Thanh Hà đình vũ bi ký. Qua bài văn bia này ta được biết, cửa ô Quang Chưởng đến năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Long (năm 1817) được làm lại, để mở rộng đường cái quan nên xén vào đình làng Thanh Hà, do vậy đình phải chuyển đến chỗ ngày nay (10 Ngõ Gạch), ban đầu bằng tre gỗ lợp lá, năm Nhâm Ngọ - 1822 lợp ngói, năm Canh Tý - 1840 làm mới lại.

Ngoài ra, Tú Lĩnh còn biên soạn nhiều sách, tổ chức khắc in. Đó là những ấn phẩm hoặc là trích lục nhưng sách cổ, hoặc là hiệu chỉnh các bản in trước đây hoặc là những bộ sách do ông tự biên. Có thể nêu một số:

1. Tuyển trích:

Âm chất văn (trích các đoạn văn trong các sách cũ khuyên làm việc thiện).

2. Hiệu chỉnh :

Ngũ luân ký (khúc ngâm và bài ký về năm đạo luân thường).

Khuyết lý hợp toản (kể chuyện về Khổng Tử).

Cức vi khuyến giới đoạt mệnh lục hợp biên, gồm: Văn xương Đế quân quá cáchvà Thái vi tiên quân công quá cách (nói về cách tu dưỡng bản thân theo Văn Xương và Thái Vi).

3. Tự biên:

Tứ lễ lược tập (tóm lược bốn lễ quan, hôn, tang, tế).

Tú Lĩnh tôn ông lục tuần song thọ thi tập (gồm trên 200 bài thơ, 105 câu đối mừng Tú Lĩnh thọ 60 tuổi của bạn bè và của cả chính ông).

Thọ Xương huyện triệu tự lệ (Điều lệ thờ tiên hiền ở huyện Thọ Xương).

Tất cả các sách trên, đều được cho “khắc in” ở nhà sách đặt tại Như Nguyệt đường do ông chú là Bùi Huy Đoàn sáng lập đặt tại Văn chỉ Thọ Xương.

Tóm lại, Bùi Huy Tùng đúng là một người Hà Nội (dù gốc Thái Bình) với nghĩa là một người giữ lễ nghi, trọng nhân nghĩa, khoan hòa, chuộng việc thiện tức là ý thức cộng động cao. Vì thế mà các đại nho Hà Nội rất quý trọng. Và tuy không là ông nghè, ông cử nhưng các con ông nối chí cha cũng đều thành những người có ích cho đời: con cả là Bùi Huy Tuyên, đỗ Cử nhân khoa Tân Sửu đời Thiệu Trị (năm 1841), con thứ hai là Huy Luyện dạy học, con thứ ba là Huy Thiều là cư sĩ, con thứ tư là Huy Tảo, làm thuốc cứu người.

VĂN CHỈ THỌ XƯƠNG

PSG-TS. Nguyễn Minh Tường

Văn chỉ Thọ Xương ngày nay toạ lạc ở khoảng giữa phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Từ đầu phố Bạch Mai – Ô Cầu Dền – đi xuôi về phía Chợ Mơ đến số nhà 222, rẽ vào chừng 50 mét thì tới Văn chỉ Thọ Xương.

Vào đầu thế kỷ XIX, niên hiệu Gia Long thứ 4 (1805) triều Nguyễn đổi tên là hai huyện sở tại của cố đô Thăng Long là Vĩnh Xương và Quảng Đức thành Thọ Xương và Vĩnh Thuận. Nhìn trên bản đồ, đất nội thành Hà Nội cũ, gồm 4 quận là: Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa, thì về đại thể, hai Quận Ha Bà Trưng và Hoàn Kiếm thuộc huyện Thọ Xương còn hai Quận Ba Đình, Đống Đa thuộc huyện Vĩnh Thuận. Như vậy, Văn Chỉ Thọ Xương chính là Văn Chủ của huyện Thọ Xương xưa.

Văn Chỉ, nguyên nghĩa là “nền văn”. Xưa kia ở các làng xã nước ta, thường đắp một nền cao, xây ban thờ bằng gạch, làm chỗ tế lễ các vị tiên thánh, tiên hiền của Đạo Nho. Ngày nay, nhiều làng cổ vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã... vẫn còn những Văn chỉ, tức “nền văn” ấy. Thường thường, Văn chỉ lộ thiên và kiến trúc khá sơ sài. Chỉ có một số ít Văn chỉ được xây dựng tương đối quy mô, chẳng khác gì một tòa đền miếu như: Văn chỉ Thọ Xương (hoặc Văn chỉ Bát Tràng thuộc Gia Lâm). Do đó, có tài liệu gọi đây là Văn từ Thọ Xương. Song cái tên Văn Chỉ Thọ Xương đã quá quen thuộc rồi, chẳng nên thay đổi nữa.

Theo tấm bia Thọ Xương tiên hiền từ vũ bi ký (Bài ký trên bia đền thờ tiên hiền huyện Thọ Xương) do Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý soạn vào năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) thì Văn Chỉ Thọ Xương được các vị thân sĩ bản huyện như: Tiến sĩ Vũ Tông Phan, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý, Tiến sĩ Lê Duy Trung, Phó bảng Nguyễn Văn Siêu... cùng với cụ Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng đứng ra xây dựng trong năm 1836. Theo văn bia nói trên, quy mô kiến trúc của Văn chỉ Thọ Xương ngày bấy giờ khá bề thế: “Đền chính xây toàn gạch, mặt hướng về phương Đông. Năm gian bái đường, nhà bên tả và bên hữu đều lợp ngói, cột phía ngoài và tường xung quanh nền gạch, khoảng giữa trồng hoa. Lại đặt thêm ruộng tế và ao tất cả 8 mẫu 7 sào 10 thước. Chỉ cắt một mẫu làm khu đền thờ, còn bao nhiêu giao cho người trong phường để hằng năm thu hoa lợi vào tế lễ mùa xuân và mùa thu”.

Từ đó đến nay, vật đổi sao dời, “một mẫu” 3600m2 Văn Chỉ Thọ Xương ngày ấy, giờ chỉ còn lại chưa nổi một sào (360m2). Vào năm 1979, trong sách Đường phố Hà Nội hai tác giả Nguyễn Vinh Phúc và Trần Huy Bá cho biết: Hiện còn bảng “tiên hiền” ghi tên họ những nhà nho đạo cao đức trọng là người ở huyện Thọ Xương hoặc di cư tới như: Vũ Thạnh, Phạm Đình Hổ, Phạm Quý Thích, Nguyễn Văn Siêu...” nhưng đến nghiên cứu thực địa Văn Chỉ Thọ Xương, thật buồn thay, đói chỉ còn là một ngôi nhà trống trơn với 4 bức tường quét vôi trắng...xoá”! Di vật đáng kể còn lại là tấm bia đá vừa nói trên và bức hoành phi “Thiên ý nhân tâm” (Lòng người sánh với lẽ trời), lạc hoản cho biết làm vào năm Giáp Thìn dưới Triều Nguyễn, có thể là năm 1844.

Theo lời kể của người dân địa phương, thì cụ Bùi Huy Tùng là cụ tổ của dòng họ Bùi Huy, nguyên gốc tại Tỉnh Thái Bình, chuyển cư lên ở tại ngõ Phất Lộc, thuộc phường Hàng Buồm, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội có cháu là anh Bùi Huy Nam (tức Kỳ Nam) là cháu đời thứ 4 của cụ Bùi Huy Tùng hiện đang ở đó, anh Bùi Huy Nam cho biết đã một mình cặm cụi cạo tẩy đi lớp vôi “trắng xoá”, để đến nay, hiện rõ trước mắt chúng ta những câu đối, những bức vẽ... vô cùng quý giá của người xưa để lại cho hậu thế.

Có thể nói Văn Chỉ Thọ Xương được xây dựng nên là nhờ tâm sức của nhiều bậc danh sĩ Thăng Long như Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Văn Lý..., song đánh ghi nhận hơn cả là tâm đức của cụ Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng. Theo nhà nghiên cứu Vũ Thế Khôi - hậu duệ của Tiến sĩ Vũ Tông Phan – thì cụ “Tú lĩnh Bùi Huy Tùng là một gương mặt văn hoá Thăng Long, rất nổi tiếng bởi sự đóng góp to lớn về tâm lực và tài sản vào công cuộc chấn hưng văn hoá Thăng Long...” Sách Bùi Thị gia phả ký (Ký hiệu VHV 1337 - Viện Hán Nôm) cho biết: Cụ (Bùi Huy Tùng) xây dựng Văn Chỉ Thọ Xương, trùng tu đền Tam Nguyên giáp Phát Lộc và các ngôi đền ở xã: Đan Nê, Nhuệ Giang, Kim Bài, Văn Quán, Xã Đàn...”.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý trong bài văn bia Thọ Xương tiên hiền từ vũ bi ký cũng hết sức ca ngợi tâm đức to lớn của cụ Tú Linh: “Ngay từ ban đầu, khi thân sĩ ta đề xướng ra (việc xây dựng Văn Chỉ Thọ Xương - TG) thì ông Bùi Huy Tùng người Hà Khẩu thuộc bản huyện đã vui lòng xuất của nhà hàng ngàn (quan tiền - TG) được cúng vào đó, lại tự mình trông nom mọi việc từ đầu đến cuối...”. Chúng bởi công đức lớn lao ấy, sau khi cụ Bùi Huy Tùng mất vào năm 1862, thọ 70 tuổi, cụ đã được đưa vào phối thờ tại Văn Chỉ Thọ Xương. Số tiền hàng nghìn qua cụ Tú Lĩnh công đức để xấy Văn Chỉ là số tài sản rất lớn, nếu như ta biết rằng vào thời bấy giờ giá một con trâu chỉ là 5 quan. Và bản thân vị Trị huyện Thọ Xương lúc ấy là Nguyễn Thế Trường cũng chỉ góp được 10 quan.

Có lẽ cái tâm đức ấy của cụ Tú Lĩnh đã “di truyền” lại cho người cháu đời thứ 4 là anh Bùi Huy Nam. Chính bởi công sức không mệt mỏi của anh Nam, mà 3 đôi câu đối, 2 bức tranh và 1 tấm bia đá nữa đã được “phát lộ” trên tường hậu cung của Văn chỉ Thọ Xương.

Đôi câu đối ở hai bên biểu tiên hiền, phía trên bàn thờ có nội dung như sau:

Thiên niên phong hoá lưu dư địa,

Vạn cổ thanh danh tiếp cố giao.

Tạm dịch:

Nghìn năm phong hoá lưu nền cũ

Muôn thuở thanh danh tiếp đất xưa

Nhà nghiên cứu Vũ Thế Khôi cho biết Tiến sĩ Vũ Tông phan cũng cung tiến đôi câu đối dưới đây vào Văn Chỉ Thọ Xương.

Cửu bang văn nhã truyền tiên tiến,

Cổ đạo nghi hình định hậu sinh.

Tạm dịch:

Văn nhà nước xưa tiền bối dựng

Uy nghi đạo cổ hậu sinh truyền

Đặc biệt, trên trường hậu cung có 2 bức tranh khổ lớn: 2m x 2m, vẽ hình thanh vân (mây xanh) bay lượng. đấy là do người xưa coi việc đi thi lập công danh là “bình bộ thanh vân” (Nhẹ bước thanh vân).

Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái viết.

Bảy năm một hội thanh vân,

Anh tài náo nức dần dần mới ra.

Trong truyện Kiền, Nguyễn Du cũng viết:

Kim từ nhẹ bước thanh vân,

Nỗi nàng càng nghĩ xa gần cùng thương.

Ở trên bờ tường phía bên trái (theo hướng đền), có tấm bia đá nhở cỡ 30cm x 30cm, ghi lợi lời người xưa dặn dò con cháu, nội dung như sau: “Một ngôi nhà, lâu năm sinh ra rêu, chim chóc ăn quả tha đến, lâu dần sẽ sinh ra loài cây ký sinh. Vả lại, gạch và cây là loại tương hợp, lại thêm mưa móc, cây phát triển, rễ đâm xuyên gạch ngói, thành ra hư hỏng. Con cháu ta trong văn hội Thọ Xương, nếu nhìn thấy việc ấy, khi sửa sang việc tế tự thì mau cắt bỏ đi. Đó là lời dặn dò thiết thực.” Mới hay, người xưa cẩn thận và lo xa biết nhường nào!

Vào khoảng từ năm 1836 trở đi đến đầu thế kẻ XX, Văn chỉ Thọ Xương, không chỉ là nơi thờ phụng các bậc tiên thánh, tiên hiền của Đạo Nho, mà nó còn giữ vị trí như một trung tâm truyền bá văn hoá của cố đô Thăng Long. Tại đây, cụ Bùi Huy Đoàn, chú ruột cụ Bùi Huy Tùng, từng đặt trụ sở nhà in Như Nguyệt Đường. Sau này, chính cụ Tú lĩnh Bùi Huy Tùng lại tiếp bước người trước phụ trách nhà in này. Hơn nữa, địa điểm Văn Chỉ Thọ Xương cũng là trụ sở của Văn Hội Thọ Xương được thành lập vào năm Nhâm Thìn - 1832 do Tiến sĩ Vũ Tông Phan làm Hội trưởng và cụ Bùi Huy Tùng làm Phó Hội trưởng.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Thế Khôi, thì một số di vật quý của Văn chỉ Thọ Xương như: “Bảng tiên hiền” đang được cất trong kho của Đền Ngọc Sơn và Khánh đá được lưu giữ tại kho Văn Miếu Hà Nội.

Thiết nghĩ, UBND Thành phố và ngành Văn hóa Thông tin Hà Nội, cần sớm cho chuyển những di vật nói trên về đúng với vị trí của nó: Văn chỉ Thọ Xương. Và từ nay đến năm 2010, cần đầu tư kinh phí thích đáng để tu bổ nâng cấp công trình văn hoá lịch sử Văn Chỉ Thọ Xương. Nhân dân Hà Nội nói chung và các nhà sử học Thủ đô nói riêng hằng mong muốn trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng một công trình văn hoá, tiêu biểu cho sự tôn vinh đạo học, tinh thần hiếu học của mảnh đất văn hiến này.

 

 


(1) Bản dịch của sách Vũ Tông Phan - Tuyển tập thơ văn,  Trung tâm Văn hoá Đông Tây, 2000.

(1) Bản dịch của sách Vũ Tông Phan - Tuyển tập thơ văn,  Trung tâm Văn hoá Đông Tây, 2000.

 

NGUYỄN VINH PHÚC

Tin liên quan:

Bùi Huy Tùng (1794 - 1862)

THẤY GÌ QUA VIỆC TU BỔ VÀ TÔN TẠO DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN CHỈ THỌ XƯƠNG

VĂN CHỈ THỌ XƯƠNG - MỘT DI TÍCH CẦN ĐƯỢC BẢO TỒN

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 7
  • 1609
  • 3,343,578