BÙI SĨ TIÊM VÀ BẢN ĐIỀU TRẦN TỪ THĂNG LONG NĂM TÂN HỢI 1731

  06/03/2017

Phần mộ Bùi Sĩ Tiêm tại Đông Kinh, Đông Hưng, Thái Bình 

Bùi Sĩ Tiêm, người làng Kinh Lũ, huyện Đông Quan, nay là xã Đông Kinh, huyện Đông Hưng,tỉnh Thái Bình. Theo Gia phả, ông húy là Bình, tên tự Sĩ Tiêm, tên thụy Bách Trai tiên sinh; sinh giờ Thân, ngày 26 tháng 8 năm Canh Ngọ (1690)
Rước Bằng chứng nhận Di tích Quốc gia Từ đường và Lăng mộ Bùi Sĩ Tiêm tại UBND xã Đông Kinh, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

I. BÙI SĨ TIÊM VÀ XUẤT XỨ CỦA BẢN ĐIỀU TRẦN

Bùi Sĩ Tiêm, người làng Kinh Lũ, huyện Đông Quan, nay là xã Đông Kinh, huyện Đông Hưng,tỉnh Thái Bình. Theo Gia phả, ông húy là Bình, tên tự Sĩ Tiêm, tên thụy Bách Trai tiên sinh; sinh giờ Thân, ngày 26 tháng 8 năm Canh Ngọ (1690). Lúc sinh ra ông, bà mẹ nằm mộng thấy sao trời rực sáng, ánh lửa lóe bừng. Quả nhiên, từ khi sinh ra, Sĩ Tiêm lộ vẻ khôi ngô và dĩnh ngộ, mới 4 tuổi đã ham sách vở nhận biết mặt chữ, 5 tuổi đã tiếp thu lời dạy của gia đình, học Kinh Thi và Kinh Thư, 7 tuổi làm thơ đã có tứ hay, 8 tuổi viết văn đã đúng mẫu mực, 10 tuổi học trường cụ Giám sinh họ Nguyễn, xã Bái Thượng trong huyện. 16 tuổi đến Kinh đô học quan Quốc Tử Giám Tư nghiệp họ Vũ (Thám hoa Vũ Thạnh. Hai kỳ thi năm Ất Dậu và Mậu Tý (năm 1705, 1708), cụ tổ mới đỗ Sảo thông. Khoa Giáp Ngọ, niên hiệu Vĩnh Thịnh đời Vua Lê Dụ Tông (năm 1714) đỗ Hương cống. Năm sau (Ất Mùi, 1715), đỗ Đình nguyên, Hoàng giáp khi ông 26 tuổi. Sau khi thi đỗ, lần lượt trải các chức quan : Hàn lâm viện Hiệu lý, Hiến sát xứ Sơn Tây, Đông các Hiệu thư, Đông các học sĩ, Đốc đồng xứ Thái Nguyên. Đến tháng Bảy năm Vĩnh Khánh thứ hai (Canh Tuất, 1730), thăng chức Hoằng tín đại phu, Thái thường tự Tự Khanh. Như vậy, một nửa các chức vụ của Bùi Sĩ Tiêm gắn bó với đất Thăng Long, và nửa còn lại gắn bó với các địa phương, trong đó có các xứ giữ vị trí rất quan trọng đối với Kinh đô Thăng long thời Lê – Trịnh. Đây là yếu tố rất quan trọng, khiến cho Bùi Sĩ Tiêm tuy chỉ làm quan có 15 năm, song có một vốn sống phong phú và nhiều kinh nghiệm thực tiễn ở cả Kinh đô và các địa phương. Đây cũng là cơ sở để tạo ra phong cách làm việc, tính cách và bản lĩnh của vị quan họ Bùi. Sử cũ ghi lại, ông là người khẳng khái, bộc trực.
Năm Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh thứ ba (năm 1731), khi đang làm Thái thờng Tự Khanh, trước những rối ren, tiêu cực trong các ngành, bộ của nước nhà, Bùi Sĩ Tiêm đã dâng tờ khải gồm 10 điều gửi lên chúa Trịnh. Để hiểu rõ cội nguồn, thực chất, nội dung của bản điều trần này, cần xem xét bối cảnh xã hội Đàng Ngoài và Thăng Long đầu thế kỷ XVIII.
Như nhiều người đã biết, trong khoảng 50 năm từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, xã hội Đàng Ngoài dưới các triều vua : Hy Tông (1676 - 1705), Dụ Tông (1705 - 1729); với sự nắm quyền của các chúa Trịnh Tạc (1657 - 1682), Trịnh Căn (1682 - 1709), Trịnh Cương (1709 - 1729) đã có những bước phát triển nhất định, được coi là thời kỳ “thịnh trị, thái bình” sau thời kỳ “cực thịnh” của chế độ phong kiến dưới thời Vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497), như đánh giá trong sách Lịch triều tạp kỷ :

“Nhà vua (Lê Hy Tông) tuân giữ cơ nghiệp sẵn có, rủ tay áo mà hưởng cuộc thịnh trị, kỷ cương thì chấn hưng, thưởng phạt thì nghiêm túc mà công minh, phần nhiều các công khanh đều xứng đáng với chức vụ, trăm quan kinh giữ phép tắc chế độ, nhân dân được yên nghiệp làm ăn. chính sự trong khoảng niên hiệu Vĩnh Trị (1676- 1680) và Chính Hòa (1680 - 1704) đáng gọi là bậc nhất đời trung hưng” (1).
Hay : 
“Bấy giờ thừa hưởng cơ nghiệp thái bình, không xảy binh đao, trong nước vô sự, triều đình có làm được nhiều việc. Pháp độ được rất đầy đủ, kỷ cương thi hành được hết … Có thể gọi là đời cực thịnh. Khi nói đến cuộc thịnh trị ở thời bấy giờ người ta tất phải kể đến đời vua (Lê Dụ Tông) này” (2)

Tuy nhiên, ngay trong thời kỳ thịnh trị này, chế độ phong kiến dưới thời Lê - Trịnh vẫn tiềm ẩn những bất ổn. Chính bởi thế, nhiều vị quan yêu nước thương dân, có tâm huyết, mong muốn đất nước thật sự thái bình, thịnh trị đã đề nghị chúa Trịnh thực hiện những cải cách, những biện pháp chấn chỉnh. Có thể nêu một số ví dụ điển hình:  Năm Mậu Tuất - 1718, Phó Đô ngự sử Nguyễn Mậu Áng dâng tờ Khải bày tỏ 4 việc:
1. Cấm xa xỉ;
2. Bãi bỏ việc xây dựng, sửa sang các công trình;
3. Bớt các việc du quan có chừng mực;
4.Tinh giảm những cuộc tuần hành (1).
Năm Giáp Thìn - 1724, Đốc trấn Cao Bằng là Nguyễn Trù dâng khải đề nghị cải cách chính sự để lợi cho triều chính và nhân dân. Ông bày tỏ việc lợi nên làm để giữ vững biên cương.

Năm Ất Tỵ - 1725, Tham tụng Nguyễn Công Hãng đề cao đức chính liêm của quan lại, răn kẻ xấu, thương người tốt.

Năm Đinh Mùi - 1727, Quốc lão Chưởng Phủ sự Đặng Đình Tướng dâng sách Thuật cổ quy huấn lục gồm tám thiên để răn thế tử nhà chúa, xa điều xấu, gần kẻ trung...

Năm Canh Tuất - 1730, Lưu thủ Thanh Hoa là Hoàng Bùi Hoàn dâng khải trình bày mười hai điều nên làm ở xứ ấy (2)

Sau khi Trịnh Cương chết (tháng Chín năm Kỷ Dậu, 1729), Trịnh Giang lên ngôi chúa. Giang là kẻ chỉ biết ăn chơi, lại có tính độc đoán, không những không nối được nghiệp của chúa cha mà còn làm nhiều điều bạo ngược, giết hại nhiều công thần tài năng do chúa cha gây dựng, như Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn… Những bất cập, những tiêu cực từ đời Trịnh Cương mới còn là mầm mống đến đây được dịp bộc lộ và bùng phát trong hầu hết các mặt của đời sống, các ngành, bộ của nước nhà.
Để “cứu vãn tình thế”, tháng Năm năm Tân Hợi niên hiệu Vĩnh Khánh (tháng 6 năm 1731), Trịnh Giang ra chỉ dụ cho các thân huân đại thần và bách quan văn võ “cầu lời nói thẳng, bày tỏ những điều thiết thực cốt yếu, để sửa sang chính sự”. Đây là bối cảnh để Bùi Sĩ Tiêm đưa ra bản điều trần gồm mười điều thiết yếu của quốc gia đại sự, vào ngày 26 thỏng Ba năm Vĩnh Khánh thứ ba (02 - 5 - 1731). Bản điều trần này gồm 10 điểm:
1. Gắng tôn phù để tiêu biến tai dị.
2.  Dứt hẳn cầu cạnh để cho đúng tiêu chuẩn;
3. Chăm đời sống của dân để bền mệnh mạch;
4. Thận trọng chính sách dùng binh để bền nanh vuốt;
5. Giảm bớt chức quan để đỡ phiền nhiễu;
6. Bỏ nhũng lại để tắt nạn chài dân;
7. Chẩn chỉnh thể văn để khích lệ người hiền tài;
8. Làm rõ lệ xét xử để cho thanh thỏa việc từ tụng;
9. Liêm phỏng tường tận để phân biệt người hiền, kẻ gian;
10. Phân biệt nòi giống để chặn sự dòm ngó (1).
Có thể nói rằng, mười điều trên đây là đề xuất về một cuộc cải cách toàn diện các mặt của đời sống nước nhà, các mặt hoạt động của Nhà nước. Dưới đây chúng tôi phân tích thêm một số điều thiết yếu của các đề nghị cải cách đó.
II. MỘT SỐ ĐIỀU THIẾT YẾU CỦA BẢN ĐIỀU TRẦN
1. Về việc cắt đặt quan lại, dùng người
Các nội dung này được thể hiện trước hết ở các điều 2 (Dứt hẳn cầu cạnh để cho đúng tiêu chuẩn), Bùi Sĩ Tiêm vạch rõ những bất cập, tiêu cực trong việc “mua quan chức” gắn với tệ nạn hối lộ đang rất phổ biến trong xã hội lúc bấy giờ. Ông vạch rõ “Việc hối lộ làm rất công nhiên. Người được tiến dẫn đề bạt thì quan, tước, lộc trật không ân nào là không được; kẻ cầu giải thoát thì chém, giảo, lưu, đầy không tội nào không tha. Thậm chí việc cai quản binh dân; việc điều bổ từ lại mục, không việc gì là không do thỉnh thác mà được. Sau khi đã được (chức quan) rồi, thì tham lam đục khoét, không gì là không làm. Phàm những việc kiện tụng thẳng hay cong; việc thuyên bổ cao hay thấp; khảo “hạch” được hay hỏng; công lao lâu hay mới, noi theo lẽ công mà làm thì ít, dựa theo của cải mà làm thì nhiều. Rốt cuộc khiến cho triều đình có kẻ khinh nhờn luật lệ; nước nhà có những bọn khinh thường hiến chương. Pháp luật không thi hành được là bởi cớ ấy.
      Trước tình hình ấy, Bùi Sĩ Tiêm đề nghị chúa Trịnh nghiêm cấm thần dân trong nước vô cớ ra vào nơi cung cấm để ton hót với thần thế quan nha. Kẻ nào lén lút làm chuyện hối lộ để thỉnh thác thì chiếu luật trị tội, người ăn của đút cũng phải khép vào luật; ai vâng phép nước thì tùy việc nêu khen, ai nhờn phép nước thì theo lẽ công trị tội, làm như vậy là để “cho cái cửa tà vạy cong queo vĩnh viễn đóng lại, con đường công bằng trong sạch được đi lại thong dong; lệnh thi hành hay cấm chỉ được tuân răm rắp. nêu cao chính lệnh, trị lý thành công thì sự nghiệp thăng bình có thể xây dựng (1). 
   Cùng với việc chống nạn mua bán quyền chức thông qua việc chống hối lộ, Bùi Sĩ Tiêm đề xuất việc “Giảm bớt quan lại để bớt phiền nhiễu” được thể hiện ở điều thứ 5. Ông vạch rõ, đặt quan chia chức đều là vì dân. Bản triều đặt quan theo chế độ cũ; trung gian danh hiệu và số người có hơi khác, tiến cử sử dụng sai trái; dân ít quan nhiều, chẳng khỏi nhũng tệ. Từ đó, ông đề nghị: liệu việc mà bổ quan, xem đất mà chia trị. Đối với lục phiên (sáu cơ] quan do Trịnh Cương lập ra năm Mậu Tuất, 1718) để thâu tóm quyền của các bộ bên vua Lê, Bùi Sĩ Tiêm đề nghị Thị lang sung làm Tri phiên, Đô khoa làm Phó tri, Cấp sự làm Thiêm tri. Như thế thì những viên chức thừa ở trong “phiên” có thể giảm hết mà chính sự không việc gì là không làm được. Đặc biệt, đối với chức Phủ doãn và Thiếu doãn Phụng Thiên (quan đứng đầu cơ quan chính quyền Thăng Long), Bùi Sĩ Tiêm vạch rõ, trước đây,  triều đình phải qua một quá trình chọn lọc rất cẩn thận về tiêu chuẩn học vị (chỉ dùng những quan có học vị Tiến sĩ) và kinh nghiệm làm việc cùng lòng tận tụy với công việc. Theo thống kê của PGS, TS. Bùi Xuân Đính, từ năm Quý Tỵ, 1593 (năm nhà Lê thu phục được Thăng Long từ tay nhà Mạc) đến khoảng cuối những năm 10 của thế kỷ XVIII, triều đình đã cử 15 vị Phủ doãn Phụng Thiên thì chỉ có 1 người không rõ học vị, 1 người đỗ Hương cống, còn lại 13 người là Tiến sĩ (trong đó có một Bảng nhãn). Song trong khoảng 15 năm Bùi Sĩ Tiêm làm quan, các quan Phủ doãn thường chỉ chọn những người ấm tử và trúng trường thi Hương. Việc này làm cho dư luận không phục. Do đó, Bùi Sĩ Tiêm đề nghị, chức Thiếu doãn, Phủ doãn cũng như chức Tham nghị, Hiến sát ở các xứ “có quan hệ đến bộ mặtt và việc điều khiển châu quận”, vì vậy cần phải theo lệ cũ chän dùng Tiến sĩ “để tôn trọng cách đăt quan”. Đề nghị này của Sĩ Tiêm không chỉ vì “để tôn trọng cách đặt quan” mà cốt nằm chọn ra những vị quan có học (học thật, thi thật), có kiến thức và cả nhân cách cao, để quản lý được Thăng Long - nơi tụ hội đủ các thành phần xã hội, tụ hội nhân tài. Ông cũng chỉ rõ tình trạng cử quan lại bừa bãi xảy ra phổ biến với các chức quan khác, cả với các chức quan thấp và lại viên: “gần đây bọn cầu cạnh, chạy chọt rất đông, có người không do khoa trường mà cũng được lạm bổ, có người không theo thứ tự mà được thăng nhanh. Khi điều sở cầu đã được bèn sinh nhũng tệ. Từ đó ông đề nghị, ở trong kinh, bộ Lại tra xét những viên nào không có chân khoa trường, đều nhất thiết phải về, ai đã được thuyên bổ làm chức vụ cũng đình bãi cho về để làm sạch con đường cầu may...Các Lại mục từ Câu kê trở xuống mà tham nhũng rõ ràng thì phải giao xuống cho quan Phụng sai, không cần tra hỏi, chỉ căn cứ vào lời tâu trình mà khép tội, nặng thì xin vào trảm, giảo, nhẹ thì lưu, đồ để răn tệ mọt dân (1).
 2. Coi trọng luật pháp, chấn chỉnh kỷ cương phép nước
Nội dung này được thể hiện ử điều thứ tỏm. Bùi Sĩ Tiêm nêu lên nhữngtiêu cực trong xét xử. Theo ông thì pháp luật đã có đủ điều mục về xửkiện nhưng các quan lại“bỏ cách thức,không theo, khinh nhờn phép nước. Vì vậy, kiện cáo ngày thêm nhiều,gian phi ngày càng lắm, dân ngày càng đi đến cùng khó;người giữ những điều lệ án kiện thì giữ kín bản án, lời án để sách nhiễu người ta về sự gửi gắm, nhờ vả khi thân tra. Lại mục trong ngoài tham lam vòi vĩnh sinh tệ như thế, dân sao kham nổi.
Từ đó, Bùi Sĩ Tiêm đề nghị “nên làm rõ điển chế cũ, tuyên bố thi hành. Như việc khám[duyệt] quan lại, xét công lao thì cho viên nào dạy bảo vỗ về [dân giỏi], bớt được giấy tờ kiện cáo thì lấy làm bậc nhất; viên nào [xử kiện] thích đáng không sai, đòi hỏi không làm phiền nhiễu lấy làm bậc thứ haiCó tạ mà không phạt, làm bậc thứ ba. Như vậy là coi trọng việc khen ngợi về sự công bằng, trong sạch. Đến như thể lệ xử thì kiện tụng phải theo thứ tự, cấm kêu kiện vượt bậc, ba lần xử đều y như nhau, thì cấm đòi xét xử lại một cách càn rỡ. Kẻ nào gửi gắm người trong nội phủ để thỉnh thác, thì tùy nặng nhẹ mà khép tội để răn bọn hào phú cậy của. Kẻ vu cáo [khi kiện cáo] thì khép tội nặng để răn việc hãm hại.. Kẻ thêu dệt đơn kiện thì khép vào tội điêu toa. Việc phạm luật hình không được xử hòa, hoặc bắt ức người ta phải thôi kiện. Vu cáo người ngay [mà xử] tội giảm một bậc [cho bên bị], hoặc giả hứa bồi thường phí tổn để rút đơn về thì việc làm gian trái phép, không thể không cấm. Xử kiện tất phải cho sao chép lời luận [tội] ngay ngày ấy để chặn sự điên đảo, yêu sách gian trá. Khám tù tất phải đến nhà ngục kiểm điểm, xem xét người bị giam, để bỏ cái tệ tự tiện tha tù. Đến như việc sai người không đúng [chức vụ], hoặc móc ngoặc với người hầu mệnh, hoặc chạy chọt chốn quyền môn, mạo tên công sai, đến nơi lại bắt bậy, phao vu, doạ dẫm để lấy tiền tài; người bị hại nếu như đem việc bị ức hiếp ấy kêu lên, thì [kẻ] giả thác công sai lại không cho quan ty tra khám mà lại bắt người [bị hại ấy] về giam đánh, bắt ức họ phải đền bồi.. có người bị khuynh gia bại sản mà không biết kêu vào đâu. Như thế thì đứa cậy quyền cậy thế, để làm rối loạn không cho quan hữu ty làm việc càng không thể không trừng trị nghiêm khắc. Nay nên lấy điển chương cũ có sẵn, ban bố trong ngoài, răn bảo kỹ càng. Lại sai các ty sao chép đem yết thị khiến cho mọi người đều biết điển chương, hiến pháp không thể trái được. [Như thế] thì quan lại noi theo thi hành, quân dân e sợ né tránh, người phạm pháp ngày [càng] ít đi, án kiện dần dần xong hết”. Những nội dung này được Bùi Sĩ Tiêm gọi là “làm rõ lệ xét xử để cho thanh thoả việc từ tụng”(1).
3. Chăm lo đời sống để yên dân 
Lịch sử đã chứng minh, các vị quan tâm huyết với vận nước, mệnh dân khiđưa ra những đề nghị cải cách đều có điều nói về đời sống của dân, bởi “Dân là mệnh mạch của nước” . Điều trần của Bùi Sĩ Tiêm có điều thứ 3 (Chăm đời sống của dân để bền mệnh mạch), liên quan đến nội dung này. 
Nhiều nguồn sử liệu cho biết, vào đầu thế kỷ XVIII, mặc dự nhà Lờ – Trịnh cú nhiều cố gắng “làm được nhiều việc”, song đời sống nụng dõn vẫn rất cơ cực, đẫn đến bỏ đi phiêu tán, lên đến 527 làng xã ((1) Tục biên, sđd, tr. 170, 174, 177, 181.1). Nguyên nhân căn bản là do chính sách xã hội của tập đoàn Lê- Trịnh đối với nông dân làng xã Đàng Ngoài lại không phù hợp với thực tiễn, cả trên bình diện kinh tế và đời sống xã hội.
Chế độ ruộng công xưa nay là nền tảng để duy trì đời sống vốn hạn hẹp của người nông dân làng xã sang đầu thế kỷ XVIII ngày càng bị xâm phạm nghiêm trọng và thu hẹp. Nhà nước lấy ruộng công của làng xã cấp cho các hoàng tử, hoàng thân, các cung tần trong cung vua, phủ chúa làm ruộng huệ lộc hoặc ngụ lộc lâu dài; đồng thời cấp cho quan lại phẩm hàm cao thấp với mức ruộng khác nhau để làm lộc điền. Theo tính toán của nhà sử học Lê Quý Đôn và theo thống kê của cố Giáo sư Trương Hữu Quýnh thì ở đầu thế kỷ XVIII số quan lại dân sự các cấp từ bát phẩm trở lên gồm khoảng 3500 viên. Nếu trung bình mỗi viên quan được cấp 25 mẫu thì số ruộng được huy động vào việc này sẽ lên đến 8-9 vạn mẫu (2) . Ruộng cấp cho binh lính cũng rất lớn (theo ước tính: số nhất binh hồi ấy là 5 vạn người, mỗi người được cấp trung bình 6 mẫu ruộng công, thì chúng ta tính được số ruộng công của các làng bị lấy đi lên đến 30 vạn mẫu (3). Lại thêm nạn chức dịch làng xã chấp chiếm, bán rẻ, thông qua việc “đấu thầu”. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nông dân.
Mấy dẫn liệu trên để thấy tình trạng tư hữu ruộng đất ở làng ngày càng phát triển đã làm thu hẹp thêm diện tích ruộng công làng xã khiến khẩu phần ruộng công chia cho nông dân vốn ít ỏi càng ít hơn. Thậm chí ở nhiều nơi đã triệt tiêu vô số phần ruộng công của người nông dân và biến thành ruộng tư, do nông dân phải cầm cố ruộng để sống qua ngày. Với chế độ đem ruộng công cấp cho quan, cho lính, thành ra nông dân không có gì để sinh nhai (1).  Bên cạnh đó, người nông dân còn khổ vì sưu cao thuế nặng, dù Nhà nước đã có một số cải cách vừa để giảm nhẹ thuế cho dân, vừa để tăng thu ngân sách. Nỗi thống khổ của người nông dân đã được Bùi Sĩ Tiêm chỉ ra một cách rõ rang hơn trong bản điều trần: 
 “. Chia đều ruộng làng, quân bình phú dịch, đều là chính sách lớn để nâng cao đời sống của dân. Triều trước khám đạc ruộng dân để thi hành phép tô, dung, điệu là thiện chính nhân nghĩa. Nhưng dân sinh còn chưa toại là vì ít nhiều chưa được đều, và bọn hào dân làm điều tệ hại. Vả công điền đã cấp cho lính làm lương ăn, áo mặc thì số (ruộng) thừa ra cũng không có bao nhiêu. Vậy mà những kẻ không nộp thuế dung, thuế điệu thì chiếm hầu hết những đám ruộng màu mỡ, còn những người chịu nặng thuế má, diêu dịch chỉ được những đám cằn cỗi, đầu thừa đuôi thẹo. Ruộng tư đã bị nhà phú hào kiêm tính thì sự giàu nghèo đã cách biệt. Thế mà những người ruộng đồng liền khoảnh lại được phú dịch sơ sài, còn con nhà không đất cắm dùi thì lại chịu no nhiều thứ trưng thu. Thuế ruộng không được công bằng là vậy đó. Thêm nữa lại vì Xã trưởng, thôn hào đồng tình làm mất mát, yểm hộ bè đảng, che chở nô bộc, chuyên tính kế ních đầy túi, đến nỗi để thiếu tiền công, mong đến lúc trưng thu để mượn cớ quấy nhiễu dân. Thậm chí bổ tiền ngoại gấp mười số nguyên tang (phải nộp) chuyền tay chia phần để bỏ túi riêng. Tiền công sở dĩ thiếu nhiều, dân hộ sở dĩ nghèo khổ phiêu lưu, thảy đều là bởi cớ ấy”(2).
Chính trong lúc sinh dân cùng khốn như vậy, Bùi Sĩ Tiêm đề nghị nhà chúa thi hành cải cách mong sao cứu vớt dân. Theo ông, mấu chốt của vấn đề trước hết phải coi trọng việc cử tìm người làm xã trưởng – chức viên đứng đầu cấp xã. Ông chỉ rõ : ””Tính kế cho ngày nay chẳng gì bằng chọn kỹ xã trưởng, cốt được người tốt. Trước hết nói rõ điều nghiêm cấm, tiếp đó định lệ thưởng phạt. Ai vâng phép công sẽ được ban ân thăng quan tiến trật, ai mà lộng phép sẽ bị trị tội; nặng chém, nhẹ đày. Thói quấy nhiễu một khi tắt thì phép quân bình mới có thể thi hành. Bấy giờ mới cấm ngặt việc mua bán công điền để trừ cái tệ kiêm tinh. Còn như việc chia cấp công điền thì: Phàm người nào có ruộng tư ở bản quán hoặc biệt quán cứ theo từng loại tra xét kỹ càng, chiếu theo số ruộng về người ấy và con cháu đáng được nhận là bao nhiêu, nếu thừa thì thôi, thiếu thì cấp thêm, cốt khiến cho người dân bình thường có ruộng cày để đóng góp phú dịch. Rồi lại trục tính số lính với số xuất đinh trong xã phải chịu phú dịch, kê rõ thành từng phần, quân cấp ruộng cho cày cấy. Liệu tính đồng ruộng xấu, tốt, chuẩn định số thóc thu hoạch khác nhau để định lệ nộp một nửa thóc. Sau khi thu hoạch xong, người cày ruộng y lệ nộp cho chủ (được phần), ruộng thế gọi là phép trợ canh công điền. Còn như ruộng tư các xã, nên chuẩn định ba hạng nông phu: Nông dân có ruộng trăm mẫu trở lên là thượng nông phu; có ruộng trăm mẫu trở xuống là thứ nông phu; có ruộng năm mươi mẫu trở xuống là hạ nông phu. Sau đó mới hợp tính tất vào số ruộng trong xã. Trước tiên lượng cấp cho những người có ruộng tư: Thượng nông phu (chỉ để lại) mỗi người mười lăm mẫu; thứ nông phu mỗi người mười mẫu; hạ nông phu mỗi người năm mẫu. Nếu kẻ nào số ruộng tư còn thừa nhiều mà con cháu đến tuổi thành đinh (18 tuổi) của họ cha có ruộng, thì chuẩn theo lệ hạ nông phu cấp đủ cho. Còn ruộng của người biệt xã không đếm cấp. Đem số ruộng thừa chiếu tính chia đều cho những người không có ruộng và ít ruộng để cày cấy và cũng lượng định số thóc thu hoạch khác nhau, lấy một phần mười. Trước tiên cho người cày ruộng nộp tô, rồi mới chuẩn cho nộp một nửa (số thóc còn lại cho chủ ruộng) y như lệ cũ. Như thế gọi là phép trợ canh tư điền. Nếu làm được như thế thì dân đều siêng năng nghề nghiệp của mình, nhà nào cũng có lương để dành, tiền tô ruộng chia hạng, tính theo số mẫu mà nộp. Việc cung nộp thuế dung, thuế điệu từ đó sẽ không có người dân nào bị thiếu hoặc trốn tránh nữa. Còn như tiền thuế tô ruộng chia ba hạng, tính theo số mẫu mà nộp. Việc cung nộp thuế điệu kể từ năm nay cứ ba phần giảm hai, sau ba năm ba phần giảm một, đợi đến kỳ sửa lại sổ bạ tịch mới xét thực hộ chia đều thì người phiêu tán không thể mặt ý gian ngoan, mà người thật sự phiêu tán bướng bỉnh cũng không lo rằng họ không vào sổ, sẽ thấy dân lưu tán trở về, người ở nhà thịnh vượng, hộ khẩu ngày thêm đông, tích trữ ngày một nhiều. Đó gọi là chăm đời sống của dân” (1).
4. Bảo vệ tài nguyên môi trường
Điều thứ 10 trong bản điều trần của Bùi Sĩ Tiêm liên quan đến việc giữ gìn tài nguyên đất nước. Thực ra, không phải đến Bùi Sĩ Tiêm, vấn đề này mới được đặt ra. Gần nhất là năm Canh Tý niên hiệu Bảo Thái (năm 1720), Tham tụng Nguyễn Công Hãng đã nêu kiến nghị kiểm soát đồng đỏ và quế để hạn chế việc người nước ngoài vào khai thác bừa bãi. Còn Bùi Sĩ Tiêm thì chỉ rõ tình trạng khai thác bừa bãi của ng­ười n­ước ngoài và sự vô trách nhiệm trong quản lý của quan lại các địa ph­ương đối với nguồn khoáng sản, sản vật của đất n­ước.
Bùi Sĩ Tiêm vạch rõ (gần đây), người làm thuê trong các mỏ, những hộ lấy quế trong rừng phần nhiều là người nước ngoài. Họ kết tụ làm nghề ở khắp mọi nơi, đến hàng nghìn hàng vạn người. Kẻ sung làm công dịch để đào vàng, đào sắt nơi rừng sâu; người mở lò đúc tiền, đúc súng ngay giữa chợ, kẻ che chở cho những hộ trốn tránh để bóc trộm  quế. Rồi vì mối lợi mà nảy sinh trộm cướp, có khi bày trận đánh nhau. Có nơi, bọn du thủ du thực là người nước ngoài trà trộn vào các nơi khai mỏ hoặc giả làm người đi làm thuê để chặn đường cướp của, giết người; có nơi chúng còn đánh trả quan quân địa phương. Hậu quả của tình hình đó là sản vật vốn là của dành cho quốc dụng bị tàn phá, khánh kiệt; thuế từ việc khai thác đó lẽ ra một trăm phần mà nhà nước chỉ thu không được một phần, lại hầu hết rơi vào bọn cầu may, còn vào tay người nước ngoài thì không biết bao nhiêu nghìn ức vạn. Bùi Sĩ Tiêm cho rằng :”Đó là cái không nên nuôi dần cho lớn lên mà là việc có quan hệ to lớn đến quốc kế dân sinh”.
Những lời trên đây thể hiện rất trăn trở trước tình trạng khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng tới cả an ninh quốc gia. Từ đó, ông đề nghị chúa Trịnh “bỏ những mối lợi nhỏ mà mở rộng cơ mưu sâu sa”, cụ thể ông đưa ra hai giải pháp :

- Một là, những mỏ, xưởng nào mà thổ sản ít, thuế thu được ít thì nên triệt bỏ, tức không cho tiếp tục khai thác nữa,
- Hai là, xưởng mỏ nào thổ sản nhiều, thuế lợi đã thành mối thì cho khai thác tiếp, nhưng phải sức cho các quan địa phương và các quan cai quản về xưởng mỏ chỉ cho chiêu mộ người trong nước làm phu, còn người nước ngoài thì không được, ai làm trái xử  trảm, các hộ bóc quế cũng theo lệ này, những người khán thủ quế hộ là người nước ngoài cũng không cho làm nữa. (1).

Mười điều trong bản điều trần trên của Bùi Sĩ Tiêm vạch rõ những yếu kém, tiêu cực trong các mặt đời sống của xã hội Đàng Ngoài cuối những năm 20, đầu những năm 30 của thế kỷ XVIII; đồng thời đưa ra những biện pháp khắc phục mà mấu chốt là chấn chỉnh việc cắt cử quan lại, tăng cường hiệu lực của pháp luật (tập trung vào việc chống tệ hối lộ, nâng cao năng lực của cơ quan xét xử), tăng cường công tác thanh tra, cải thiện đời sống nhân dân, chú trọng bảo vệ tài nguyên môi trường. Lời lẽ trong bản điều trần rất tha thiết, thể hiện tấm lòng ưu tư của Bùi Sĩ Tiêm về vận mệnh đất nước. 
Song, chúa Trịnh Giang là kẻ bảo thủ, nên sau khi đọc xong bản điều trần của Bùi Sĩ Tiêm, trước sự gièm pha của một số quan trong triều đã đùng đùng nổi giận, ra lệnh đoạt hết quan tước của ông rồi đuổi về quê. 
Hậu quả của việc “bỏ ngoài tai” những đề nghị cải cách của Bùi Sĩ Tiêm (và của nhiều vị quan khác là triều chính tiếp tục bất ổn, chúa Trịnh vẫn lộng quyền; luật pháp bị trà đạp, thói tham nhũng vẫn chưa dập tắt được, quan lại bóc lột ức hiếp dân tàn tệ. Thuế khoá, lực dịch, thiên tai liên tiếp tấn công người nông dân Đàng Ngoài, đẩy họ ra khỏi luỹ tre xanh chết đói hàng loạt. Đây là tiền đề, là đêm trước của phong trào khởi nghĩa nông dân rộng khắp cả nước vào cuối những năm 30 của thế kỷ XVIII trở đi. 
Dù đề nghị cải cách của Bùi Sĩ Tiêm không được chấp thuận, thậm chí ông còn bị mất hết chức tước, bị đuổi về quê (1), song thể hiện ông là một Nho sĩ, một viên quan chân chính, bản lĩnh, sâu sát với thực tế. Bản điều trần là kết tinh của trí tuệ, của tinh thần trách nhiệm của một kẻ sĩ, của trải nghiệm cuộc sống trong 16 năm làm quan. Những năm tháng làm quan ở Kinh đô đã giúp ông nhận rõ được những tiêu cực của chốn quan trường, trong các cơ quan, nhất là cơ quan pháp luật. Còn những năm tháng làm quan ở hai trấn Sơn Tây, Thái Nguyên đã giúp ông thấy được cội nguồn sâu sa của nỗi thống khổ của người nông dân. Có thể nói, bắt đầu từ Kinh đô chuyển về các địa phương, rồi lại trở lại Kinh đô, là quá trình Bùi Sĩ Tiêm tìm hiểu và trăn trở để rồi đưa ra được bản điều trần mang tính toàn diện trên đây.
Bản điều trần của Bùi Sĩ Tiêm ở Thăng Long đến nay đã gần 300 năm, nhưng hầu hết các nội dung vẫn mang những giá trị chính trị và nhân văn, tính thời sự và vẫn rất gần với chúng ta, nhất là với việc đào tạo, sử dụng đội ngũ, tăng cường hiệu lực của pháp luật, chăm lo đời sống của dân và giữ gìn tài nguyên môi trường. Không chỉ triều đình Lê- Trịnh không đầy chục năm sau phải minh oan, trả lại quan chức cho Bùi Sĩ Tiêm mà lịch sử sẽ mãi mãi nhắc đến tên tuổi ông- người trí thức bản lĩnh, chân chính, ng­ười con của dòng họ Bùi đầy nghĩa khí, can đảm của đất Thái Bình xư­a đáng được hậu sinh noi theo.
PGS. TS VŨ DUY MỀN
VIỆN SỬ HỌC
 

(1) Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, bản dịch, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1975, tập I, tr. 62.
(2) Lịch triều tạp kỷ, sđd, tr. 175. 

(1) Đại Việt sử ký Tục biên (từ đây gọi tắt là Tục biên)bản dịch, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1991, tr. 106.

(2) Tục biên, Sđd, tr.170, 174.
(1) Tục biên,  sđd. tr. 177.
(1) Tục biên,  sđd, tr. 179, 181.
(1) Tục biên,  sđd, tr 188, 189. 
(1) Tục biên,  sđd, tr. 192-193.
(1) Tục biên,  sđd, tr. 170, 174, 177, 181.

(2) Trương Hữu Quýnh, Chế độ ruộng đất ở Việt Nam (thế kỷ XI-XVIII). KHXH. Hà Nội,1983, tập II,  tr. 88, 89.

(3) Chế độ ruộng đất, sđd, tr. 86.

(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám c­ương mục (C­ương mục), bản dịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tập I, tr. 503.

(2) Tục biên, sđd, tr. 170, 174, 177, 181.
(1) Tục biên, sđd, tr 132, 182, 183, 199.

(1) Bùi Xuân Đính, Những kế sách dựng xây đất nước của cha ông ta, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2004, tr. 102 - 104.

(1) Theo Gia phả, sau khi bị đuổi về quê, Bùi Sĩ Tiêm về mở trường dạy học ở xã An Phú, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình). Ông mất ngày mồng 8 tháng Năm, năm Quý Sửu (năm 1733) ở nơi dạy học, thọ 44 tuổi.

Tin liên quan:

Bùi Sĩ Tiêm và một bài học từ lịch sủ

Bùi Sỹ Tiêm, một trí thức chân chính của dân tộc

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 7
  • 683
  • 4,987,387