Bùi Tá Hán (1496 – 1568)

  16/02/2017

Bắc quân Đô thống Bùi Tá Hán

Bùi Tá Hán (1496 – 1568) Theo Phủ tập Quảng Nam ký sự của tác giả Mai Thị, Bùi Tá Hán sinh năm 1496, quê ở Châu Hoan, là cận thần của Đại thần Nguyễn Kim, có công khôi phục triều đại Lê Trung Hưng. Vào năm 1545, ông được phong Bắc Quân Đô đốc, trấn thủ Quận Quảng Nam (từ đèo Hải Vân vào tới tỉnh Phú Yên ngày nay), là danh tướng văn võ song toàn “Đại Nhân Đại Nghĩa” và là một trong những người có công lớn thuở ban đầu khai khẩn, bình trị yên ổn trong sự nghiệp mở cõi đất phương Nam. Sinh thời ngài được dân chúng tôn quý khắc tượng gỗ (vẫn trường tồn ngót 5 thế kỷ nay), khi qua đời được bá tánh tôn thờ như một vị Thánh.

Sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527), Bùi Tá Hán theo ngọn cờ “phù Lê diệt Mạc” của Nguyễn Kim, lập được nhiều công tích. Năm 1545, ông được vua Lê Trang Tông phong chức Bắc Quân đô đốc phủ chưởng phủ sự Trấn Quốc công, phái ông mang đại binh vào bình định quân nhà Mạc ở Thừa tuyên Quảng Nam. Tháng 8 năm ấy, Bùi Tá Hán đổ quân vào Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn ngày nay), lấy đây làm bàn đạp tiến vào đất liền Cổ Lũy động, Chiêm động (Quảng Ngãi, Quảng Nam ngày nay), hoàn thành nhiệm vụ khôi phục quyền lực nhà Lê ở vùng Trung Trung bộ. Như vậy, 461 năm trước đây, Bùi Tá Hán đã đặt những bước chân đầu tiên đến vùng đất Quảng Ngãi ngày nay.

Trong 23 năm (1545- 1568) trấn thủ Thừa tuyên Quảng Nam, Bùi Tá Hán đã có nhiều chủ trương, chính sách, việc làm khôn khéo, vỗ yên các sắc tộc bản địa, xây đắp mối quan hệ hữu hảo Việt- Chăm, mở mang sản xuất, khuyến khích văn hóa, mưu cầu ích nước lợi dân, mang lại sự bình an và phát triển cho vùng đất này. Vì vậy, nhân dân quy thuận một lòng theo ông, ca ngợi ông. Khi ông qua đời, được triều đình truy phong Trấn Quốc công Thượng đẳng thần.

Ông mất năm 1568, không rõ nguyên nhân, chỉ biết việc ông qua đời đã trở thành huyền thoại trong lòng dân, người xưa nói “ông đã hiển thánh: và đã được ghi vào bia lăng:

“Nhân mã bất tri hà xứ khứ
Huyết y trường dữ thử bi lưu “

(Người, ngựa chẳng biết đi về nơi nào. Chỉ có áo bào thấm máu lưu lại lời bia).

Ông được nhà nước phong kiến triều Lê Trang Tông (1546) phong Trấn quốc công. Sau được sắc phong của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. 

Lăng ông được xây dựng tại khu rừng (đã tìm thấy áo bào của ông) ở làng Thu Phổ, nên gọi là Rừng Lăng(1). Đền thờ ông được xây dựng trên đỉnh núi Phước ở làng Thu Phổ nên gọi là Núi Ông. Năm 1962, khi xây dựng Nhà máy Đường Thu Phổ, đền thờ ông được dời vào Rừng Lăng, nay thuộc phường Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi. Có thể nói trước khi được triều đình phong thần, chính nhân dân đã thờ sống Bùi Tá Hán như thờ thần.

Tương truyền lúc còn sống, ông đi kinh lý Phú Yên, một nhà sư ở đây ngưỡng mộ ông, đã khắc tượng ông trên một khúc gỗ mít lớn để thờ. Sau này, quan đầu tỉnh Quảng Ngãi đã xin phép nhà sư rước tượng ông về tại đền thờ ông ở Thu Phổ. Năm 1947, khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, chính quyền cách mạng tỉnh đã đem tượng ông về cất giấu ở nông thôn để tránh bị bom đạn thù phá hoại. Kháng chiến chống Pháp kết thúc, tượng ông lại được rước về đền thờ.

Theo “Quảng Ngãi tỉnh chí” của Nguyễn Bá Trác viết năm 1933 thì tại đình An Hải (Lý Sơn), chùa Tam Thanh (Thạch Trụ, Đức Lân, Mộ Đức); điện Trường Bà (Trà Xuân, Trà Bồng), làng Rí (Sơn Hạ, Sơn Hà) có miếu, đền thờ Bùi Tá Hán. Đến nay ở đền Tam Thanh (Quảng Nam), đình Nam Chơn (TP HCM) có phối thờ Bùi Tá Hán cùng các vị tiên liệt khác. Di tích đền thờ, tượng và lăng ông Bùi Tá Hán đã được Nhà nước công nhận và cấp bằng “Di tích lịch sử văn hóa quốc gia” từ năm 1990.

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 9
  • 235
  • 4,654,019