BÙI THỊ DUNG - QUỐC MẪU VĂN LANG ĐỜI HÙNG VƯƠNG THỨ 6

  24/01/2017
Xem hình
Tranh Thánh Gióng

Gần đây, qua sưu tầm của các cụ chi họ Bùi Hữu tại xã Xuân Áng, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ, Ban Liên lạc họ Bùi Việt Nam nhận được một bài trong báo Nhân dân cuối tuần số 17 (482) ra ngày 26-4-1998 với nhan đề “Phát hiện mới về truyền thuyết Thánh Gióng Phù Đổng Thiên Vương cứu mẹ”, có quan hệ chặt chẽ tới việc tìm về cội nguồn của họ Bùi Việt Nam.

Bài viết dựa vào thần tích cổ của xã Đông Bộ Đầu, tổng Chương Dương, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông mang tên “Ngọc phả cổ lục Đức Đổng Sóc xung thiên Đại thánh thần vương, triều nhà Hùng, họ Việt Thường, Phiên thần thượng đẳng, bộ Chi cấn (Bản chính của Bộ Lễ, quốc triều)” do Hàn Lâm viện, Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bích soạn vào năm thứ nhất, niên hiệu Hồng Phúc, triều Lê Anh Tông (1572). Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền sao y bản chính vào năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh Hựu triều Lê Ý Tông (1739). Đoạn mở đầu ngọc phả cho ta biết đây là bản sao được quan tứ phẩm (Thiếu khanh) Nguyễn Hiền sao y bản chính do quan nhất phẩm (Đông các Đại học sĩ) biên soạn năm 1572 lưu lại bộ Lễ, triều Lê Anh Tông. Đó là quan điểm chính thống của triều đình thời đó, do một đại thần vâng mệnh nhà vua biên soạn, đáng được tin cậy. Người cần nghiên cứu có thể tìm đọc toàn văn tại chỗ hoặc bài viết trong số báo Nhân dân cuối tuần nói trên. Trong phạm vi một bài mang tính thông tin có liên quan đến nguồn gốc họ Bùi, chỉ xin lược trích mấy đoạn, đủ chứng minh cho đầu đề bài viết:

“Xưa vào thời Hùng vương Sơn thánh ngự trị trời Nam, nước cổ Việt Thường họ Hùng, ở vùng Đại Man châu nước ta có một nhà Đại quan lang họ Đổng tên Gia, nối đời làm quan lang trong vùng… Riêng ở sứ Sơn Nam, tại phủ Thường Tín, huyện Thượng Phúc, trong trang Khê Đầu có nhà họ Bùi, tên huý là Cẩn, lấy bà Phạm Thị Hoè, người cùng trang. Vợ chồng một dạ hiền lành từ ái. Ông bà sinh hạ được một người con gái đặt tên là Bùi Thị Dung. Năm 13 tuổi, bố mẹ đều qua đời. Bùi Thị Dung phải về ở với cậu ruột, vốn là người buôn bán, bỏ nghề về giữ chùa Hoàng Nham. Năm 16 tuổi, cô có nhan sắc tuyệt vời. Quan lang họ Đổng đi chơi gặp, cưới về làm vợ, đưa về phủ trị lập làm Đệ nhị phu nhân. Được 1 năm thì quan lang mất, rồi ông cậu ruột cũng qua đời, phu nhân xuất gia đầu Phật, thay cậu chủ trì chùa Hoàng Nham.

Năm sau, phu nhân đi hái thuốc, thấy có hòn đá vuông có vết chân người khổng lồ, phu nhân nằm lên mặt đá để nghỉ chân. Trong khoảnh khắc, thoáng có một bọc từ trên trời rơi xuống, chui thẳng vào bụng. Từ đấy trong lòng cảm động có thai. Trải qua 3 năm 4 tháng, đến ngày 8 tháng giêng Giáp dần, đúng giờ dần… sinh ra một bọc hình bông sen.. Ngày qua ngày, trong bọc có tiếng cười, tiếng khóc động đậy. Bọc vẫn không nứt ra”. 

Đó là phần ngọc phả viết về sự ra đời của Phù Đổng thiên vương, khác với tích: “Làng Phù Đổng có một người, sinh ra chẳng nói chẳng cười trơ trơ” viết trong “Đại Nam quốc sử diễn ca”. Phần giúp vua đánh giặc, so với truyền thuyết đã lưu truyền là thống nhất về đại thể nhưng lại khác về chi tiết: Quân giặc thời đó không phải giặc Ân mà là giặc Xích tỵ (mũi đỏ). Không phải vua cử sứ giả đi rao, tìm người giúp nước mà là vua làm lễ tế 3 ngày, rồi nằm mộng thấy “có thiên tướng đến báo mộng” cho biết “có thần nhân ở động Hoàng Nham” bèn cử sứ giả tới rước bọc và đón bà mẹ về cung. Khi các trang bị được thoả mãn thì bọc tự mở tung “hiện ra một thiên thần khổng lồ cao 31 thước” (ứng với tượng thờ ở đền thờ Phù Đổng thiên vương, nằm giữa 2 thôn Bộ đầu và Thượng giáp ở xã Thống Nhất, huyện Thường Tín hiện nay) xây từ thời Lê Vĩnh Thọ (1649 - 1662) cao tới 6m (sấp sỉ 32 thước ta ghi trong bài viết).

Về yêu cầu trang bị, cũng có điểm khác với truyền thuyết được viết lại trong “Người anh hùng làng Gióng” của Cao Huy Đỉnh (Nhà xuất bản Khoa học xã hội,1969):

“Bay về bay đổng vua bay,

Cơm thời bay thổi cho đầy bẩy nong

Cà thời muối lấy ba gồng,

Ngựa sắt, vọt sắt ta dùng dẹp cho”

Về ngựa sắt của Thánh Gióng, nhà sử học Trần Quốc Vượng có đoạn viết trong bài “Từ tư duy thần thoại đến tư duy lịch sử” in trong “Hùng vương dựng nước” tâp III, NXB Khoa học xã hội, 1973 (trang 404): “Ông Gióng là một nhân vật thần thoại. Phù Đổng thiên vương đánh giặc Ân thời Hùng Vương thứ 6 đã là một nhân vật bị lịch sử hoá. Thời Lý, Trần Lê, vua quan, bên cạnh voi, thường cưỡi ngựa. Ấy thế là Phù Đổng thiên vương cũng được cho cưỡi ngựa (tuy là ngựa sắt) dù rằng chưa đào đâu ra xương ngựa ở các thời đại đồng thau Việt Nam”. Theo ngọc phả của nhà Lê thì Thánh Gióng chỉ yêu cầu một thanh long đao (lưỡi sắc, đao dài hơn 10 trượng), không yêu cầu ngựa sắt như truyền thuyết. Sự kiện quan trọng có quan hệ đến nguồn gốc họ Bùi nằm trong đoạn dưới đây:

“Đánh giặc xong, Thần tướng trở gót một mạch về triều, tới thăm vua và mẹ, nói với vua và mẹ rằng: “ơn bú mớm thật sâu nặng, xin nhà vua thay ta chăm sóc mẹ”. Nói xong Thiên thần vút thẳng lên trời. Vua quan chắp tay tiễn biệt, lập đền thờ trong cung đình, phong mẹ là Quốc mẫu và cử 20 người chăm sóc mẹ. Một hôm (15-8), Quốc mẫu về thăm quê trang Khê Đầu. Vua bố trí cung nữ đưa đi. Nhân dân đổ ra đón mừng dâng hoa quả, Quốc mẫu lễ tiên đường rồi lập một ngôi chùa nhỏ, lấy tên là Thiên Lâm tự. Một hôm, Quốc mẫu dạo chơi đến bến sông Khê Đầu (Thiên Đức) bỗng có hai con giao long ầm ầm rẽ nước xông lên cuốn lấy Quốc mẫu. Quốc mẫu ngửa mặt lên trời kêu lên một tiếng. Thiên tướng từ trên trời giáng xuống, một chân đặt giữa cánh đồng, một chân dẫm chết đôi giao long bên bờ sông. Rồi ngài nâng mẹ lên lòng bàn tay trái. Bỗng nhiên mẹ biến thành một ngôi tháp lớn ngay trên lòng bàn tay Thiên vương. Hôm ấy là ngày 29 tháng 9. Nhân dân trang Khê đầu tụ hội bái lậy rồi lập miếu thờ ngay đầu dấu chân (Bộ đầu) bên bờ sông, nơi Thiên thần cứu mẹ rồi làm biểu dâng vua. Vua xa giá về thăm trang Khê đầu hành lễ, gia phong Thượng đẳng phúc thần, Đông sóc Huyền thiên vương, phong cho trang Khê đầu là Hộ nhị hương, đổi tên thành trang Bộ đầu, hàng năm tổ chức quốc lễ”. Ngọc phả ghi ngày sinh của Thiên vương là ngày 8 tháng Giêng năm Giáp Dần (giờ Dần) đời Hùng vương thứ 6. Đánh giặc và trở về triều ngày 8 tháng 9, lấy ngày 29 tháng 9 làm ngày hoá của cả Thiên vương và Quốc mẫu Bùi Thị Dung.

Tìm hiểu bản ngọc phả dưới thời Lê Anh Tông trên đây, ta phải đặt ra câu hỏi: Vì sao một văn kiện chính thống của một triều đại nhà Lê lại không được các sử thần nhà Lê biết đến để ghi theo mà các bộ sử cũ đều ghi theo truyền thuyết đã lưu truyền trong dân gian như ta đã biết ?

-                     Bởi vì trong các bộ sử cũ còn lưu lại thì nhiều bộ chỉ chép từ thời Triệu Đà (như Đại Việt sử lược (khuyết danh), Đại Việt sử ký toàn thư của Lê Văn Hưu đời Trần; Nguyễn Hoàn, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, Ninh Tốn đời Lê) chỉ chép từ sau xung đột Trịnh, Nguyễn (1676), Đại Nam thực lục tiền biên và Đại Nam thực lục chính biên của các sử thần đời Nguyễn chỉ chép từ Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá. Duy có bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên chép từ họ Hồng Bàng nhưng Ngô Sĩ Liên viết xong từ năm 1479 khi bản thần phả trên đây chưa được biên soạn. Các sử thần đời Lê như Vũ Quỳnh, Phan Công Trứ, Lê Hy, Nguyễn Đức Quý viết bổ sung đến Lê Thái Tông nên đến năm 1697 bộ này mới hoàn thành và khắc in, nhưng phần ngoại kỷ về họ Hồng Bàng vẫn giữ nguyên của Ngô Sĩ Liên. Bộ Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ có viết về họ Hồng Bàng, nhưng cơ bản vẫn dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên. Đến Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, phần Hồng Bàng vẫn viết theo Ngô Sĩ Liên và Ngô Thì Sĩ. Các truyền thuyết ở phần ngoại kỷ thường dựa vào sử có sẵn, không để công sưu tầm thêm các nguồn tư liệu khác;

-                     Truyền thuyết vẫn không phải là lịch sử nhưng lại là tư liệu phong phú để tìm hiểu lịch sử. Với 2 truyền thuyết về Thánh Gióng trên đây, ta thấy ngọc phả của Nguyễn Bích có nhiều yếu tố vừa hiện thực, vừa “nhân văn”, “dân tộc” hơn truyền thuyết vẫn được lưu truyền;

-                     Truyền thuyết cũ không nói gì đến tên họ của người sinh ra chàng trai làng Gióng, trong khi các tư liệu lịch sử cho biết thời của vua Hùng là thời kỳ bắt đầu chuyển từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ. Tuy các vua Hùng đã bước đầu thực hiện việc trao quyền cho con trưởng nhưng trong toàn xã hội và các công xã nông thôn, vai trò người mẹ còn rất quan trọng (Chưa nhiều tật “trọng nam, khinh nữ” của lễ giáo Khổng Mạnh), giống như mẹ Âu Cơ chia đều con với Lạc Long Quân. Theo tinh thần ấy, ngọc phả ghi rõ mẹ của Thánh Gióng là Bùi Thị Dung, có quê quán, nguồn gốc, lịch sử rõ ràng: hai cụ thân sinh là Bùi Cẩn và Phạm Thị Hoà quán thôn Khê Đầu, tổng Chương Dương, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, thuộc trấn Sơn Nam. Bà mẹ được kể rõ cuộc đời từ năm 13 tuổi, qua thời làm đệ nhị phu nhân của quan lang Đổng gia, đến khi được vua Hùng thứ 6 phong làm Quốc mẫu rồi hoá cùng ngày với con trai;

-                     Truyền thuyết cũ kể rằng Thánh Gióng sau khi phá tan giặc bay thẳng về trời thì ngọc phả viết: “Ngài quay ngay về triều xin vua chăm sóc mẹ” rồi mới về trời. Chi tiết đó đưa chàng trai Phù Đổng về gần với con người hơn truyền thuyết cũ. Việc nhà vua phong mẹ Thánh Gióng làm Quốc mẫu cũng rất hợp với đạo lý truyền thống của giòng giống Tiên - Rồng, còn rất đậm nét dưới thời Hùng Vương thứ 6;

-                     Việc Quốc mẫu về thăm quê, làm lễ tiên đường là rất “dân tộc”, vốn lấy việc thờ cúng tổ tiên làm tín ngưỡng chính, và sự kiện Phù Đổng thiên vương quay về cứu mẹ đã phản ánh trung thành tính “hiếu thảo” là đạo lý truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Ngọc phả trên đây cho phép ta rút ra kết luận: họ Bùi là một họ bản địa thuộc dòng Lạc Việt (mà hậu duệ là những người họ Bùi đông đảo trong dân tộc Mường), có mặt từ những ngày đầu dựng nước, đã cùng cộng đồng dân tộc phát triển từ vùng trung du (mà hậu duệ là các viễn tổ Bùi Thạch ở Hiền Quan, cùng các dòng họ Bùi tại các tỉnh phía Bắc) xuống đồng bằng. Đến đời vua Hùng thứ 6, nếu ta chấp nhận giả thiết của Đại Việt sử ký toàn thư lấy năm Nhâm Tuất 2878 TCN (Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam) là năm lập quốc thì cách đây ngót 4000 năm, họ Bùi đã lập nghiệp vững vàng tại trấn Sơn Nam, phủ Thường Tín với cụ Viễn tổ Bùi Cẩn, thân sinh Quốc mẫu Bùi Thị Dung tại trang Khê Đầu bên bờ sông Hồng. Trong lịch sử, các triều vua đã tôn Thánh Gióng lên hàng Thượng đẳng phúc thần, toàn dân tộc coi là biểu tượng lòng yêu nước của thế hệ trẻ thì họ Bùi Việt Nam, sau khi xác minh tính chính xác của ngọc phả, có đặt vấn đề suy tôn Quốc mẫu Văn Lang Bùi Thị Dung cùng 2 bậc thân sinh dưới thời Hùng vương thứ 6 lên hàng Thánh tổ họ Bùi cũng là việc nên làm.

 

Hội Gióng Bộ Đầu: mở vào ngày 8 tháng Giêng tại làng Bộ Đầu, xã Bộ Đầu, huyện Thường Tín, Hà Tây. Thánh Gióng được thờ làm thành hoàng làng Bộ Đầu. Truyền thuyết kể rằng trên đường về trời, Gióng nghe thấy tiếng kêu của dân chúng đang bị đôi thuồng luồng ở sông Hồng gây tai hoạ. Nhìn xuống, Gióng thấy một người đang bị thuồng luồng cuốn đi và lao xuống tiêu diệt đôi thuỷ quái. Lạ lùng thay, người được cứu chính là mẹ của Gióng! Ở làng có pho tượng Gióng bằng gỗ cao 5m, là một tác phẩm điêu khắc đặc sắc. Hội Gióng Bộ Đầu có tổ chức thi gậy - diễn lại cảnh Gióng dùng tre ngà đánh giặc Ân. (Kho tàng lễ hội truyền thống Việt Nam. Trang 808)

 

GS.Bùi Phan Kỳ

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 12
  • 2383
  • 1,537,339