BÚT TÍCH CỦA PHÓ BẢNG BÙI KỶ VÀ BẢN DỊCH THƠ CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN TỬ SIÊU TẠI NHÀ THỜ HOÀNG GIÁP LÊ HUY TRÂM

  24/01/2017

Image result for bùi kỷBùi Kỷ (1887-1960) là một học giả nổi tiếng, hiệu Ưu Thiên, quê ở Chân Cầu, Thanh Liêm, Hà Nam, đậu Phó bảng năm 1910. Ông là người tinh thông Hán học, phục vụ trong ngành giáo dục, từng là Chủ tịch Hội Văn hóa kháng chiến. Năm 1959, ông hiệu đính tác phẩm văn học Trung Quốc đồ sộ Tam quốc chí của La Quán Trung, từng để lại bút tích ở nhiều nơi. Một trong số đó là nhà thờ Hoàng giáp Lê Huy Trâm, tại thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai.

Trước cách mạng Tháng 8/1945, các nhà tư sản dân tộc của dòng họ là Hồng Khê, Đức Thành và Tổng Tư mời ông về thăm quê của mình. Cảm khái trước thanh danh, khoa hoạn của dòng họ này, ông đã nhận lời. Sau một tuần trà cùng trưởng tộc và các nhân vật có tiếng như nhà văn Nguyễn Tử Siêu, ông lật giở những đạo sắc phong và gia phả của dòng họ. Đến mục “Kỷ Hợi thịnh khoa Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Lê tướng công” thì ông dừng lại và chăm chú khảo luận. Sau đó, ông xin phép thắp một tuần hương trước ban thờ tổ tiên, sửa sang lại y phục rồi kính cẩn chuẩn bị đề bút ba bài thơ Thuật lữ, Cảm hoài, Tư nụy của Hoàng giáp Lê Huy Trâm (1742-1802) đỗ năm 1780 viết về chí khí của kẻ làm tôi trước vận mệnh của đất nước. Những bài thơ toát lên vẻ thanh khiết tự tại của bậc hiền thần trước thời loạn lạc. Tuy hoàn cảnh rất bần hàn nhưng chí khí vẫn cao sáng, thung dung; mọi chức tước, phẩm hàm chỉ là ảo vọng, kẻ làm tôi cốt sao giữ được tấm lòng trung trinh mới là người cao khiết.

Sau khi chờ hết tuần hương, ông đề bút lên những cuốn thư gỗ đã được dòng họ chuẩn bị trước. Những nét chữ ông viết vừa rắn rỏi vừa mềm mại, thể hiện tính cách của một con người tài hoa, có nhân cách. Nguyên văn chữ Hán phiên âm như sau:

1. Thuật lữ

Táng loạn niên lai khứ ngụ sơn

Giảm biên tàm phú Thạc nhân khoan

Viêm lương nhậm thích hưng cư lý

Phong ước đô phong nhật dụng gian

Mễ hữu thời không vu thực trở

Ngư vô thường đắc giải đăng bàn

Nhân sinh đãn cử tâm vô quý

Thân ngoại hà phường mộng ảo khan.

2. Cảm hoài

Y phong mã tê cấp

Thất quần điểu thanh thương

Thú Dương cộng Triều Tiên

Hà nhật bất Ân Thương

Ngưỡng chỉ hữu cao sơn

Lý hành hữu cảnh hàng

Phong ê hề tuyết phi

Dư mỹ tạ hà phương

Đa thiểu ý trung sự

Thùy năng bất đoạn trường

Ta hồ du tử tâm

Khởi bất bi cố hương

Tình nghĩa nan lưỡng lập

Dư cố uý tư mang

Cần lao nhi tam tử

Biến yên bất cải thường

Vô nịch thích bất lai

Bất tỷ độc mang mang.

3. Tư nụy

Sách danh ủy trí đệ tương truyền

Khuất tri kim tàng nhị bách niên

Dịch diệp tư bồi gia khánh viễn

Lũy triều hâm dưỡng quốc ân toàn

Vãng hành nhàn tưởng do tâm mục

Thời sự na khan cư hải điền

Trung hiếu thử sinh hề điển trích

Thượng kỳ nhất tiết cộng trường sinh.

Khi Phó bảng Bùi Kỷ viết xong, nhà văn Nguyễn Tử Siêu(1) người có tiếng về văn thơ dịch thơ sang tiếng Việt. Bản dịch của ông như sau:

1. Kể việc đã qua

Năm loạn ta vào ở núi đây

Bên khe đọc phú thẹn lòng thay

Nghỉ ngơi nóng rét đều yên ổn

Ăn uống qua loa tính đủ ngày

Không rượu thì khoai bùi ngọt thế

Lấy cua làm cá béo thơm thay

Người ta quý ở lòng không thẹn

Danh lợi cuộc đời tựa đám mây.

2. Việc qua nhớ lại

Ngựa khi gió lạnh hí vang

Con chim vỡ tổ lạc đàn kêu thương

Nước Triều Tiên núi Thú Dương

Di Tề Cơ Tử Ân Thương nặng lòng

Ngửa trông mây núi vĩ hùng

Đường dài cảnh đẹp vô cùng lòng đau

Gió vi vu tuyết trắng phau

Biết vua ta ở nơi đâu mà tìm

Ít nhiều mong nhớ càng thêm

Ai không quặn ruột rộn tim ngại ngùng

Than ôi chẳng quản bình bồng

Nào ai là chẳng nặng lòng nhớ quê

Tình nhà cảnh nước đôi bề

Thôi thì đành hãy quên đi nỗi nhà

Các con khó nhọc cùng ta

Lòng không thay đổi đây là thanh cao

Không nên yên ở chốn nào

Chẳng nề khó nhọc biết bao công.

3. Tâm tư truyền lại

Nối dõi dòng nhà nức tiếng nhân

Tính tay đếm đốt hai trăm năm

Phúc dầy nhờ tổ mưu từ trước

Ơn nước lộc vua khắc để tâm

Thay đổi việc đời xem đã rõ

Bể xanh thành ruộng ấy không nhầm

Hiếu trung hai chữ làm nhân cách

Cùng với trời xanh vạn vạn năm.

Có thể nói rằng, hồn thơ thanh khiết của Hoàng giáp Lê Huy Trâm, nét bút rắn rỏi của Phó bảng Bùi Kỷ cùng với lời dịch thơ của nhà văn Nguyễn Tử Siêu đã trở thành một di sản văn hóa quý, đáng được trân trọng, gìn giữ.

Chú thích:

(1) Nguyễn Tử Siêu (1887-1965) tự là Trọng Khoát, hiệu Hoa Cương, Liên Tâm Lão Nhân, quê ở Hương Ngải, Thạch Thất; người có tiếng văn thơ, từng dạy học và nghiên cứu Đông y, chuyên tâm soạn sách, có lúc là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Đông y Việt Nam./.

Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.28-32)

(Theo ĐẶNG BẰNG - LÊ LIÊM - Ban quản lý di tích Hà Tây)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 10
  • 1630
  • 3,349,053