DANH HỌA BÙI XUÂN PHÁI, NGƯỜi TẠO DỰNG DANH TỪ “PHỐ PHÁI” CHO PHỐ CỔ HÀ NỘI

  05/03/2017
Hoạ sĩ Bùi Xuân Phái sinh ngày 01 tháng 9 năm 1920 tại Hà Nội; quê ở làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, đầu thế kỷ XX thuộc huyện Từ liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông; ngày nay thuộc huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Làng Kim Hoàng xưa nằm trong vùng Canh, không chỉ có đặc sản cam Canh nổi tiếng, mà còn được mệnh danh là đất “tứ danh hương” của huyện Từ Liêm (1). Làng còn nổi tiếng với nghề làm tranh khắc gỗ dân gian (tranh đỏ), thuộc dòng tranh Hàng Trống (dòng tranh Kim Hoàng bị thất truyền từ năm Ất Mão-  1915 sau trận lụt lớn do vỡ đê Liên Mạc).

Xuất thân trong một gia đình tiểu tư sản trung lưu nhà ở Phố Hàng Thiếc sau chuyển về 87 Hàng Bút sau này đổi tên là phố Thuốc Bắc, chính vì vậy, Bùi Xuân Phái thuộc lòng từng con đường, ngõ ngách của 36 phố Phường Hà Nội.
Thuở nhỏ, Bùi Xuân Phái học trường Trí Tri ở phố Hàng Quạt, có năng khiếu về môn văn, và rất thích vẽ. Ở tuổi học sinh, ông đã được báo “Cậu ấm, cô chiêu” đặt vẽ tranh vui thường kỳ...
Sau thời gian học lớp dự bị, năm 1941 ông thi đỗ vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học khoá 15 (1941 - 1946) cùng với các hoạ sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Huỳnh Văn Gấm, Tạ Thúc Bình... ; bắt đầu vẽ phố và tham dự triển lãm Tokyo khi còn đang học trong.
Tháng 12 năm 1943, phát xít Nhật ném bom Hà Nội, Bùi Xuân Phái cùng sinh viên theo học khoa hội họa chuyển về xã Đường Lâm, huyện Phúc Thọ (nay thuộc thị xã Sơn Tây). Nhóm này do Giáo sư Iguimberyt cùng hoạ sĩ Nam Sơn và Tô Ngọc Vân phụ trách.
Hưởng ứng các hoạt động của Việt Minh, Hoạ sĩ Tô Ngọc Vân tổ chức vẽ tranh tuyên truyền chống thực dân Pháp, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm tích cực tham gia.
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Bùi Xuân Phái tham gia các hoạt động mỹ thuật phục vụ cách mạng, vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều tranh trong tuần lễ văn hoá đón phái đoàn Đồng Minh tại Nhà hát lớn Hà Nội và tham gia triển lãm Văn hóa năm 1945. Tiếp đó, ông tham gia triển lãm Mỹ thuật Tháng Tám năm 1946 với các bức tranh Mẹ con, Đường đi, Giếng nước, Người nằm và Góc phố mầu sắc lạ, hoà hợp với chất liệu sơn dầu quánh bện lên vải. Các bức tranh này đoạt giải Văn hoá Cứu quốc. Có một kỷ niệm mà bấy lâu nay ông vẫn nâng niu trân trọng. Đó là năm 1946, khi ông là nhân viên của báo Cứu quốc, được cùng đi với đồng chí Xuân Thủy đến dự buổi họp báo do Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức. Được gặp Bác một cách bất ngờ, được đón, nghe từng lời Bác, mặc dù xúc động, Bùi Xuân Phái không bỏ lỡ dịp may hiếm có, vẽ chân dung vị Chủ tịch nước trong sổ ghi chép. Sau đó, ông chọn một bức mà ông cho là đạt nhất, xin chữ ký Bác. Trên bức họa nhanh của ông đã được lưu bút tích của Người. Tiếc thay, đến Toàn quốc kháng chiến, cuốn sổ đã bị thất lạc cùng với nhiều tài liệu mà ông đã tập hợp trong nhiều năm. Nhưng hình ảnh thiêng liêng của Người vẫn đọng mãi trong ông.
Cuối năm 1946, khi trường Mỹ thuật Việt Nam được thành lập lại tại phố Lò Đúc, nhiều học sinh đang học trường Mỹ thuật Đông Dương được trở về tiếp tục học tập. Bùi Xuân Phái cùng các Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Huỳnh Văn Gấm, Tạ Thúc Bình được về trường làm bài thi tốt nghiệp, nhưng chỉ được mấy ngày thì Toàn kháng chiến toàn quốc bùng nổ, việc thi cử dở dang.
Cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác, Bùi Xuân Phái lên chiến khu. Những ngày đầu ở Bắc Kạn, ông làm họa sĩ cho báo Vui Sống và Nha Thông tin do ông Nông Quốc Chấn phụ trách. Năm 1947 quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn, Bùi Xuân Phái chuyển về Thanh Hóa (vùng tự do Liên khu Bốn), nơi có nhiều văn nghệ sĩ đang làm việc, trong đó có các Họa sĩ Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Sỹ Ngọc, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim... Các họa sĩ thường tổ chức các chuyến đi thực tế Thanh Hóa Cầu Thiều, Quán Giát để vẽ.
Năm 1948, Bùi Xuân Phái trở lại Việt Bắc. Ông vẽ nhiều tranh chân dung và phong cảnh, trong đó những bức nổi tiếng là Cây đa nước chảy ở Tuyên Quang, Phố Thầu Cao Bằng, cùng vẽ nhiều tranh.
Năm 1949, Họa sĩ Bùi Xuân Phái cùng với Lương Xuân Nhị, Lê Quốc Lộc, Tạ Tỵ dạy lớp vẽ ở Phù Lưu Chánh (tỉnh Hà Nam). Lớp học này có các học viên như Văn Đa, Anh Thường, Trần Duy, Lê Toàn, Hoàng Quy, Nguyễn Văn Tý (Tý Bo)... Ông tham gia triển lãm mỹ thuật do Ủy ban kháng chiến - hành chính Liên khu 3 tổ chức với hai tác phẩm Dân quân (tranh sơn dầu) và Đóng thuế nông nghiệp (tranh cổ động). Năm 1945 gửi hai tác phẩm Nắng mới (tranh bột mầu và Nữ du kích (khắc gỗ mầu).
Năm 1951, Bùi Xuân Phái trở lại Thanh Hóa và kết hôn với bà Nguyễn Thị Sính (sinh năm 1927) ở Cầu Thiều (tỉnh Thanh Hóa). Bà nguyên là nữ sinh trường Đồng khánh Quốc học Huế.
Vì chớm bị lao phổi nên sức khỏe yếu, vợ lại sắp sinh con đầu lòng nên năm 1952, Bùi Xuân Phái trở lại nội thành Hà Nội sống cùng gia đình tại 87 Thuốc Bắc. Chuyến hồi gia này, ông bị Pháp bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò 15 ngày vì nghi là cán bộ Việt Minh vào hoạt động nội thành.
Năm 1953, Bùi Xuân Phái mở xưởng vẽ ngay tại nhà mình. Nhóm vẽ còn có các Họa sĩ Hoàng Tích Chù, Hoàng Lập Ngôn, Nguyễn Trong Niết, Tạ Tỵ... Thời gian này ông vẽ nhiều tranh chân dung, đa số là vẽ vợ con, bạn bè, thân hữu, chân dung tự họa và thiếu nữ khỏa thân bằng bút chì than...; phác nhanh và tình cảm theo khuynh hướng tập thể. Vẽ chân dung đã thành thích thú của ông trong nhiều năm; kể cả sau khi ông chuyên vẽ bằng sơn dầu và bột màu. Đây cũng là một thành tựu trong sáng tác nghệ thuật của ông. Bùi Xuân Phái còn làm minh hoạ, vẽ tranh đả kích và sáng tác mỹ thuật cùng theo ông Nguyễn Bắc, Bùi Xuân Phái minh hoạ cho báo Dân ý, do Ban cán sự vận xuất bản, và nhà in Kuy Sơn (phố Thuốc Bắc) phát hành. Báo Dân ý ở nhà in Lê Cường phố Hàng Bồ (ông Lê Cường không lấy tiền giấy và công in) nhưng báo chỉ ra được năm số, đến số thứ sáu thì Sở mật thám phát hiện (Sureté fédérale) tịch thu và ra lệnh đình bản (tháng 4/1954).
Sau hoà bình lập lại, Bùi Xuân Phái tham gia các hoạt động của giới Mỹ thuật Thủ đô. Tháng 12 năm 1954, triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1954 do Hội Văn nghệ được tổ chức, quy tụ hơn 500 tác phẩm của 152 họa sĩ từ khắp các vùng : Nam Bộ, Việt Bắc, Thủ đô, Khu IV, Khu V, được đánh giá là triển lãm lớn nhất từ trước đến thời gian đó ở Việt Nam. Họa sĩ Bùi Xuân Phái đã gửi đến ba tác phẩm, trong đó có hai tác phẩm bột mầu Tình quân dân và Em yêu hòa bình; một áp phích Người Việt Nam tiêu tiền Việt Nam.
Khi thành lập trường Mỹ thuật Việt Nam, Bùi Xuân Phái được mời về làm giảng viên và giảng dạy tại trường (1956 - 1957). Năm 1956 ông dẫn sinh viên đi thực tập ở Cao Bằng, cùng Họa sĩ Lưu Văn Sìn. Ông có loạt ký họa về những phụ nữ dệt vải, cảnh chợ phiên, những con người miền núi, những con ngựa và vẽ tranh về miền núi, mà tiêu biểu bức tranh: Phố chợ Nguyên Bình. Sau đó Bùi Xuân Phái cùng họa sĩ Nguyễn Tiến Chung dẫn sinh viên, trong đó có Trần Thị Thanh Ngọc, Vũ Giáng Hương, Ngọc Thọ, Nguyễn Trọng Cát... đi thực tập ở Sài Sơn (Sơn Tây). Kết quả của chuyến thực tế này là ông có loạt tranh về nông thôn, phần lớn là tranh sơn dầu, bột mầu cùng những ký họa chì, bút sắt thể hiện một làng quê Việt Nam với những đặc trưng và tình cảm yêu mến của người hoạ sĩ.
Cùng thời gian dạy học, Bùi Xuân Phái tham gia minh họa cho một số báo chí, trong đó có bức minh họa truyện ngắn Con ngựa già của Phùng Cung trên báo Nhân Văn số 4 và bức tranh vui đăng trên báo Nhân văn số 6 đã làm hệ lụy đến ông. Vì vậy, tháng 10 năm 1957, ông thôi dạy ở trường Mỹ thuật và trở thành họa sĩ tự do. Trong sổ tay của mình, Bùi Xuân Phái dùng bút sắt vẽ chân dung và ghi câu nói của Xê - zan bằng tiếng Pháp: “Đời - không hiểu ta và ta không hiểu đời, vậy nên ta xin thu mình nhỏ lại”.
Cũng chính khoảng thời gian này, Bùi Xuân Phái bắt đầu vẽ về phố cổ Hà Nội, với 36 phố đường, tường ngói rêu phong êm đềm và cổ kính; vẽ tranh Hà Nội chiến đấu. Tháng 6 năm 1958, ông đi lao động thực tế “ba cùng” tại Nam Định trong 6 tháng và được bố trí làm việc tại một phân xưởng mộc. Cuối năm 1958 khi từ Nam Định trở về Hà Nội, Bùi Xuân Phái nhận làm họa sĩ cho đoàn chèo Hà Nội, từ phục trang, đạo cụ, phông trang trí cùng với công việc là hàng loạt ký họa về hoạt động của các diễn viên chèo sau cánh gà. Đề tài sân khấu chèo được ông nghiền ngẫm và sáng tạo... xuất hiện trên tranh sơn đầu, nhiều năm sau đó đã trở thành một dòng tranh đặc sắc của ông.
Những năm tiếp theo, ông là họa sĩ tự do, làm minh họa cho nhiều tờ báo ở Hà Nội và đặc biệt là với bút danh Vi Na Ly Pi Ha trên báo Văn nghệ (1960), Tạp chí Sân khấu(1967). Năm 1964, ông được trở lại biên chế nhà nước, về tổ sáng tác của Hội Mỹ thuật Việt Nam cùng với các Họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Dương Bích Liên,...
Những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bùi Xuân Phái cùng các Họa sĩ Nguyễn Sỹ Ngọc, Nguyễn Tiến Chung đi thực tế ở Thanh Hóa, ký hoạ về ngư dân, nữ dân quân và về biển. Ông còn vẽ nhiều tranh về phong cảnh Hà Nội, nông thôn, miền núi (đề tài ngựa) và tự họa.
Năm 1968, Bùi Xuân Phái cùng với các Họa sĩ Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Huỳnh Văn Gấm, Phan Kế An... đi thực tế sáng tác ở Mỏ than Quảng Ninh, Hải Phòng. Ông có loạt ký họa và tác phẩm vẽ về Tam Bạc, Cát Bà, Vịnh Hạ Long và về vùng Mỏ.
Trở lại Hà Nội, ngoài việc sáng tác về những vùng đất mà ông đã đi thực tế, bằng chất liệu sơn dầu, Bùi Xuân Phái còn vẽ loạt tranh khỏa thân bằng chì và sơn dầu (năm 1968) và thể hiện sáng tác tranh trừu tượng (năm 1972); năm 1969 ông gửi tác phẩm sơn dầu Phân xưởng Nhuộm tại triển lãm Mỹ thuật Thủ đô và được tặng giải thưởng.
Năm 1970 - 1972 ông vẽ nhiều tranh bột màu về đề tài tự vệ Hà Nội, đặc biệt là năm 1972, khi không quân Mỹ trở lại đánh phá Hà Nội và Hà Nội lập nên kỳ tích trong trận “Điện Biên Phủ trên không” hào hùng. Cùng với những bức tranh tự vệ, ông vẽ tĩnh vật, tự họa, các tác phẩm này được ông vẽ dưới hầm phòng không.
Họa sĩ Bùi Xuân Phái đã có nhiều tác phẩm tranh sơn dầu về đề tài khán chiến, phố cổ, chèo... Ta có thể kể tới các tác phẩm sơn dầu: Hà Nội kháng chiến (năm 1966); Vợ chồng chèo (năm 1967); Hoá trang sân khấu chèo, Sân khấu chèo (năm 1968); Phố cổ Hà Nội (năm 1972); Xe bò trong phố cổ (năm 1972); Năm 1974, khi con trai lớn là Bùi Kỳ Anh nhập ngũ, ông đã vẽ nhiều bức tranh về đề tài người chiến sỹ trẻ.
Sau ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, Bùi Xuân Phái đi thực tế tại công trường Thủy điện Hoà Bình. Ông có nhiều ký hoạ và tranh sơn dầu về công trình thuỷ điện lớn nhất nước ta vào thời kỳ đó. Tác phẩm Sông Đà - mầu dầu dự triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980 được tặng giải thưởng hạng B, Trong phân xưởng nhuộm– sơn dầu, Thiếu nữ chải tóc – sơn dầu.
Năm 1978 sau cái chết của người con trai cả, Bùi Xuân Phái vẽ nhiều tác phẩm tĩnh vật, trong đó có những tác phẩm vẽ về bàn thờ cậu con trai.
Năm 1979 ông được Lê Đại Chúc đó là Trưởng phòng của Công ty tầu biển mời vào Sài Gòn. Tại đây ông đã gặp gỡ nhiều bạn bè cũ, vẽ tranh chân dung và phố Sài Gòn. Tại triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980, một triển lãm lớn và tập hợp nhiều tác phẩm của các hoạ sĩ miền Bắc - Trung - Nam được tổ chức tại Giảng Võ (Hà Nội),  Bùi Xuân Phái gửi tác phẩm sơn dầu Bến phà Sông Đà tham dự và nhận được giải thưởng.
Năm 1981, Bùi Xuân Phái được Hội Mỹ thuật Việt Nam cử đi vẽ ở Quảng Nam, Đà Nẵng. Đợt đi này ông đã có loạt ký họa và tranh sơn dầu về bãi biển Mỹ Khê, phố cổ Hội An; có 7 bức tranh một mầu gửi tham gia triển lãm Mỹ thuật Quảng Nam - Đà Nẵng khai mạc vào ngày 23/8/1981.
Năm 1982, Bùi Xuân Phái đi Béc lin (Cộng hòa Dân chủ Đức) cùng với Họa sĩ Phạm Công Thành dự triển lãm và nhận được giải thưởng xuất ngoại đầu tiên và cũng là chiến đi nước ngoài duy nhất của cuộc đời ông. Năm 1983 dự triển lãm mỹ thuật Thủ đô năm 1983 với tác phẩm sơn dầu Quốc Tử Giám và cũng năm này, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã lưu giữ hai tác phẩm sơn dầu của ông Cát Bà  Quốc Tử Giám.
Cuối năm 1984, tại Đại hội Hội Mỹ thuật Việt Nam, ông được bầu vào Ban Chấp hành Hội. Đây là “chức vụ” duy nhất mà ông đảm nhận trong cuộc đời mình. Ông tham gia Hội đồng nghệ thuật các Triển lãm mỹ thuật Thủ đô hàng năm. Năm 1984 ông có triển lãm cá nhân đầu tiên tại Nhà triển lãm Mỹ thuật 16 Ngô Quyền (Hà Nội), trưng bầy hàng loạt tác phẩm sơn dầu. Ta có kể tới các tác phẩm:............................................................

Ông đã phát biểu tại triển lãm: “Đây cũng là triển lãm đầu tiên, tôi mạnh dạn đưa ra một phòng tranh riêng. Thật ra cũng đáng lo, không phải lo thiếu tranh mà cái chính là lo sao cho có một phòng tranh bầy được nhiều tranh đẹp.

Tôi nghĩ nhiều đến trách nhiệm của một nghệ sĩ... Tôi nghĩ nhiều đến bạn bè trong nghệ thuật, những con người am hiểu tường tận nghệ thuật con số này tuy không nhiều, nhưng tôi cảm thấy mỗi ngày một nhiều hơn và chính những ý kiến của họ đã làm tôi phải suy nghĩ nhiều về con đường của mình đang đi.
Thôi thì chất nghề nghiệp và chất nghệ sĩ phải có và nghệ thuật và cuộc sống hòa tan vào nhau để ra tác phẩm. Cuối cùng tôi vẫn tin rằng, sự say mê lao động nghệ thuật là điều cần thiết để phát huy được tài năng. Cái hay chỉ có thể bật ra trong lúc làm việc, muốn hay trong chốc lát chỉ là điều hú họa”.
Năm 1987, ông tham dự Triển lãm mỹ thuật Thủ đô với tác phẩm Bức tranh thuê bên hồ Gươm và nhận được giải thưởng.
Họa sĩ Bùi Xuân Phái cùng nhiều Họa sĩ khác như Lương Xuân Nhị, Hoàng Tích Chù, Phạm Viết Song, Quang Phòng, Nhà điêu khắc Nguyễn Thị Kim là các họa sĩ sáng tác thế hệ đầu của Mỹ thuật hiện đại Việt Nam, gắn bó với hoạt động của hội Mỹ thuật Việt Nam (thời kỳ đầu là Phân hội Mỹ thuật), Hội văn nghệ Hà Nội từ ngày thành lập năm 1966. Những hoạt động công tác Hội, sáng tác, đào tạo đã làm cho phong trào Mỹ thuật Thủ đô khởi sắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những năm sau này, đặc biệt là việc tổ chức triển lãm Mỹ thuật Thủ đô hàng năm.
Ông mất hồi 14 h 40’ ngày 24 tháng 6 năm 1988. Tang lễ ông được cử hành ngày 27 tháng 6 năm 1988 tại Hội Văn nghệ Hà Nội; an táng tại khu A Nghĩa trang Văn Điển.
Sau khi ông mất, nhiều nhà sưu tập tranh của ông cùng gia đình đã tổ chức các triển lãm. Đó là các triển lãm mang tên “Kháng chiến và thân thể nữ”, “Trừu tượng” (năm 1991); “Phái không phố”  (năm 1992); “Chân dung” (năm 1993) tại Hà Nội và “Bùi Xuân Phái” (năm 1990) tại thành phố Hồ Chí Minh.
“Phố - Phái, Phái - Phố” là các danh từ trở thành quen thuộc để nói về những tác phẩm phố cổ của Họa sĩ Bùi Xuân Phái.
Bùi Xuân Phái vẽ nhiều thể loại, nhiều chân dung, phong cảnh, sinh hoạt khác nhau. Đề tài của ông thường là phố cổ, với trên 40 năm. Phố phường Hà Nội trong tranh của Bùi Xuân Phái không đơn điệu, mà đa dạng về hình sắc, thay đổi, khác lạ theo thời gian và tâm tình người sáng tác. Ông muốn mỗi bức tranh phố của mình không phải chỉ là tài liệu ghi chép, nghiên cứu, phong tục, kiến trúc mà phải giống như bài thơ đầy cảm xúc, tâm trạng.
Bên cạnh việc dành thời gian cho sáng tác, Họa sĩ Bùi Xuân Phái còn suy ngẫm về nghề, những suy tư này đã được ghi chép trong sổ tay,... Trần Hậu Tuấn - người nhiệt thành sưu tập tranh ông và Bùi Thanh Phương đã tập hợp và in trong cuốn: “Bùi Xuân Phái viết dưới ngọn đèn dầu”. Nhiều ý kiến riêng tư của ông được ông ghi lại trong sổ tay còn giữ được đến hôm nay thật sâu sắc và có ích cho những người làm mỹ thuật.
“Quan niệm về tranh Moderne tôi thấy không thể dễ dãi được. Cái dễ dãi là cái nên tránh trong nghệ thuật. Nó hời hợt, non yếu, không đủ sức truyền cảm cho người xem tranh” (ngày 19/6/1958).
“Tìm cái đẹp qua thiên nhiên, hiểu kỹ thiên nhiên để thấy cái cốt lõi, vẽ bịa là đi vào cái hời hợt, dễ dãi” (năm 1968).
“Đừng băn khoăn trong lúc vẽ, đừng đặt ra một tiêu chuẩn gì về cái đẹp... cứ vẽ như người không viết vẽ! Chính cái hồn nhiền mới đem lại tươi mát trong tranh” (năm 1968)”.
“Nghệ thuật đòi hỏi một kiên trì khắc khổ, hãy làm được điều đó. Vì đó là con đường để tiến lên” (31/1/1970).
“Say mê vẽ, giữ lửa liên tục, nguội lạnh là chết, vẽ là sống, là thở. Ngày mai không còn giống ngày nay. Nghệ thuật không thay đổi tức là không còn sống nữa” (đêm 5/3/1970).
“Theo tôi không có một kỹ thuật nhất định nào trong hội hoạ. Nó có đòi hỏi riêng của từng thể loại, của từng tác giả và lại quan niệm nghệ thuật nào cũng một mục đích đem lại được cái mới nhất của thời đại, đóng góp vào vườn hoa nghệ thuật chung của thế giới” (20/10/1971).
“Nghệ thuật làm ra không phải mục đích để bán, ai làm nghệ thuật với mục đích để bán thì khó có thể có tác phẩm chân thành được, lại càng khó có thể là một tuyệt tác được” (23/7/78).
Trong quá trình hoạt động Mỹ thuật, Bùi Xuân Phái đã có nhiều tác phẩm đoạt giải thưởng xứng đứng: giải thưởng tại Triển lãm mỹ thuật Tháng Tám năm 1946, giải thưởng Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 1980, giải thưởng đồ hoạ Leipzig; Giải thưởng Mỹ thuật Thủ đô các năm 1969; 1981, 1983, 1984.
Năm 1996, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã truy tặng Họa sĩ Bùi Xuân Phái Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1) cho các tác phẩm: Phố Cổ Hà Nội- Sơn dầu (1972), Hà Nội kháng chiến - sơn dầu (1966), Xe bò trong phố cổ­ - sơn dầu (1972), Phố vắng - sơn dầu (1981), Hoá trang sân khấu chèo – sơn dầu (1968), Sân khấu chèo - sơn dầu (1968), Vợ chồng chèo - sơn dầu (1967), Trước giờ biểu diễn - sơn dầu (1984).
Hội đồng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đã nhận xét: “Trong hơn 40 năm làm nghệ thuật, họa sĩ Bùi Xuân Phái đã gắn bó với Thủ đô, những phố cổ Hà Nội với tình cảm thiết tha sâu đậm, ông yêu nghệ thuận truyền thống sân khấu chèo và đã có những tác phẩm đẹp về sân khấu chèo. Những tranh của ông sáng tác về phố cổ Hà Nội là những tác phẩm mang đậm nét Hà Nội cổ xưa, có giá trị nghệ thuật cao, có nhiều sáng tạo mới và có phong cách độc đáo của tác phẩm. Cho đến nay, công chúng yêu tranh nói đến phố cổ còn được gọi là Phố Phái, xứng đáng với tài năng và lao động nghệ thuật của Họa sĩ”.
Danh họa Bùi Xuân Phái thuộc thế hệ đầu của nền Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, một thế hệ với nhiều tài năng và góp phần đào tạo nhiều nghệ sĩ tạo hình Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX.
Giới nghệ sĩ tạo hình Việt Nam tự hào có Danh họa Bùi Xuân Phái.

 

 

(1) Tứ danh hương : bốn nơi nổi tiếng về học hành, văn học của huyện Từ Liêm là Mỗ - La - Canh - Cót, Làng Kim Hoàng thời phong kiến có 4 người đỗ Tiến sĩ, 1 người đỗ Sĩ vọng, 31 người đỗ Hương cống và Cử nhân.

HỌA SĨ TRẦN KHÁNH CHƯƠNG

Tin liên quan:

Tranh tết của Bùi Xuân Phái: Ông đồ và lão say

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 9
  • 8686
  • 3,809,196