Đất Thái Bình trong kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên

  04/02/2017

Đình Lưu Đồn, nơi thờ Tiên công lang, Hùng Cảnh Đại vương thượng đẳng thần Bùi Công Bình 

Thế kỷ XIII, đứng trước sự đe dọa, xâm lược của quân Mông – Nguyên, nhà Trần thay thế nhà Lý đã phải thực hiện gấp rút các chính sách phát triển kinh tế, tăng cường lực lượng quân đội và cũng cố quốc phòng.

            Thái Bình khi ấy gồm 3 phủ lộ Long Hưng, Kiến Xương, An Tiêm vốn là đất phát tích của dòng họ Trần (Xem Thái Bình với sự nghiệp nhà Trần, Kỷ yếu hội thảo, Ban nghiêm cứu lịch sử Đảng tỉnh Thái Bình xuất ban năm 1986).

            Mặt khác trước đây là địa bàn giao thông thuận lợi. Đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc nên sớm được nhà Trần đặc biệt quan tâm củng cố, mở mang kinh tế và dần được xây dựng trở thành một vị trí  có tầm chiếm lược có tầm quan trọng lập nên những chiến công kỳ vĩ của dân tộc trong các cuộc chống giặc ngoại xâm Mông – Nguyên.

            Thực tế, tiếp tục áp dụng chính sách “ngư binh u nông” được tiến có kết quả từ dưới triều Lý, ngay khi “lấy được thiên hạ”, nhà Trần ban bố một loạt chính sách đến phát triển kinh tế như; đắp đê trị thủy, mở rộng khẩn hoang, giảm nhẹ và miễm thuế cho những vùng lũ lụt mất mùa, đại xá cho những nạn nhân trở về quê hương sản xuất…Trong đó, sử trước còn chép lại: Năm 1248, Trần Thái Tông hạ chiếu huy động dân các lộ tiến hành công cuộc trị thủy với quy mô lớn bằng việc đắp đê “Đỉnh Nhĩ”, “Quai Vạc” cho sông Hồng “Suốt từ đầu nguồn ra tới của biển  để giữ nước tràn ngập”

 (Ngô Sĩ Liên: Đại viện sử ký toàn thư, tập II, Nxb, Khoa học, xã hội Hà Nội, 1971, tr.22.38).

            Sau, lại cho đặt chức “Hà đê Chánh phó Sư” chuyên coi việc đê điều sông nước. Năm 1266, triều đình có lệnh: “….cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung thần chiêu tập những người xiêu tán không sản nghiệp nô tì để khai khẩn lập điền trang (Ngô Sĩ Liên: Đại viện sử ký toàn thư, tập II, Nxb, Khoa học, xã hội Hà Nội, 1971, tr.22.38).

            Các chủ trương, chính sách trên không chỉ động viên, khuyến kích mở rộng diện tích canh tác trồng trọt mà còn tạo ra một lực lượng nông dân, nô tì đông đảo trong các điền trang, thái ấp để thái bình thì lao động sản xuất khi có chiếm tranh thì sử dụng làm hương binh, làm lính để trở thành nguồn binh lượng dự trữ dồi dào ở ngay các địa phương.

            Ở Thái Bình, lúc bầy giờ có rất nhiều điền trang, thái ấp lớn ở Thái Bình của các vương hầu thân tộc nhà Trần được ban phong từ rất sớm như; thái ấp của Thái úy phụ chính Trần Tự Khánh ở Cả Lũ, Thân Khê (nay là xã Thăng Long huyện Đông Hưng); của Phụng Càn vương Trần Liễu ở A Sào ( thuộc các xã An Đồng, An Thái huyện Quỳnh Phụ) của Trung Thanh Vương (không rõ họ tên) ở Mỹ Đai, Kiều Thạch (thuộc xã Phú Sơn, xã Tân Lễ huyện Hưng Hà); của Tướng Quốc Thái úy Trần Nhật Hiệu (còn gọi là Hạo) ở Dương Xá, (xã Tiến Đức huyện Hưng Hà);  của vợ chồng Thái sư Trần thủ Độ là Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung ở Phù Ngự (xã Liên Hiệp huyện Hưng Hà)… ngoài ra sau này còn có điền trang, ruộng đất của bà Phương Dung (thị nữ của huyền trân công chúa) ở làng Dành (xã An Ninh huyện Quỳnh Phụ); của bảng nhãn Chu Hinh (giữ chức chuyển vận Chánh sứ lộ An Tiêm) ở Nam Quán (xã Đông các huyện Đông Hưng); và của bà Muối 3 (đệ tam cung phi của Trần Anh Tông);  ở tận trang Quang Lang  ven biển (xã Thụy Hải huyện Thái Thụy). Đặc biệt, qua tấm “Mộc bài Đa Bối” – Một di vật phát hiện vào tháng 9 năm 1962 tại thôn bái Thượng, xã Thụy Phúc huyện Thái Thụy – còn cho biết: Năm 1269, ba anh em  Nguyễn Nghiễm. Nguyễn Siêu, Nguyễn Việt dù không phải là thân tộc họ Trần nhưng do có công đi sứ nên đã được Trần Thánh Tông ban cho  123 mẫu 11 sào ở Đa Bối để chia nhau khẩn hoang, cày cấy (Tấm Mộc bài bằng gỗ đước phát hiện năm 1962 trên cánh đồng  Đa Bồi xã Thụy Phúc, huyện Thái Thụy. Mộ bài được khắc vào triều Trần đời Trần Thánh Tông niên hiệu Thiệu Long 12 (1269) do An Phủ sứ tri phủ Long Hưng – Thiên trường và Đặng Khái Khả vang theo chiếu chỉ của Thánh Tông cho phép ban dực để làm cột mốc ruộng)

            Cùng với sự hình thành, phát triển của điền trại. thái ấp một công cuộc trị thủy và làm công tác thủy lợi với đủ các hoạt động đắp đê, đào sông, ngăn ngòi, ngăn mặn, thoát úng….từng được khởi công xây dựng từ sớm nhưng giãn đoạn bởi chiến tranh, loạn lạc cuối triều Lý đến luc đó lại được phát động trở lại với quy mô lớn hơn và có kết quả rõ rệt. Trong dân gian vùng Đông Bắc Thái Bình – nơi trước đây nổi tiếng là địa bàn phức tạp gò đống chải dài xen lẫn nhiều miền đất thấp, đầm lầy tù đọng, cản trở rất lớn việc mở mang đất đai canh tác – vẫn còn lưu truyền đến nay một câu ca đã phản ánh phần nào qui mô trị thủy lớn này như sau: “Coi đê sông Hồng. khai thông sông Luộc. Mở rộng sông Sinh, cắt phì sông Hóa”. Kết quả làm cho: “Chướng thủy giao thông. Hàm tương tận thoát” (Theo dã sử công việc trị thủy này do 4 vị là lưu Lượng (dòng dõi họ lưu, công thần nhà Lý quê ở Lưu Xá, xã Canh Tân huyện Hưng Hà), sư Tiểu Minh Không, sư Đại Minh Không, và sư Dương Không Lộ phát động tổ chức từ cuối triều Lý. Nhưng do chiến tranh nên bị giãn đoạn. Phải đến triều Trần, công việc trị thủy này mới hoàn thành).

Nghĩa là: nước lũ nước mặn đều thông thoát, tránh được nạn ứng tắc. Một tài liệu địa chí viết về Thái Bình cũng cho biết: Đến cuối triều Nguyễn tại huyện Thư Trì cũng còn nguyễn dạng dấu tích của con đê ngăn lũ sông Hồng được đắp từ thời Trần dài tới 24 km từ làng Đồng Đại đến làng Văn Lang. Trong công tác này, riêng Thái sư Trần thủ Độ đã đích thân vận động dân các làng hợp sức cùng quân lính và khai nô khai ,ở một dòng chảy bắt nguồn từ sông Luộc chảy vòng quanh khu lăng tẩm, hành cung Long Hưng rồi qua huyện Ngự Thiên nối vào dòng chảy của huyện Thần Khê và thoát nước ra sông Thượng Hộ (đầu nguồn sông Trà Lý nay). Cả đoạn sông này, sau được dân đặt tên là sông Thái Sư để ghi nhớ công ơn của ông.

            Với những chính sách khuyến nông tích cực của triều Trần, Thái Bình cùng với cả miền đất hạ lưu sông Hồng khi đó thực sự vượt qua được giai đoạn cực kỳ khó khăn của nạn dân cư phiêu tán, làng xóm tiêu điều – hậu quả các cuộc nội chiến  kéo dài cuối triều Lý. Đất đai canh tác được mở rộng, sản xuất phát triển nguyên nhân tạo nên một phong trào tự cư tạo nên tranh ấp ở Thái Bình vào thế kỷ XIII dưới triều Trần không chỉ dân nghèo ở khắp nơi tìm về mà còn rất nhiều binh lính, nô tì, tù nhân, tù phạm gọi là “cảo nhi”, “cảo hoành” được đưa ra để khai khẩn hoang , sau khi mãn hạn đã xin ở lại ngự cư lâu dài. Bộ mặt của các điền trang, thái ấp và các thôn ấp cực có những phát triển đáng kể. Hàng loạt các trang ấp mới trù mật  mới xuất hiện; trong đó không ít các trang ấp mang nhiều dấu ấn của các bật tiền nhân cùng dẫn dắt cháu con cùng chung sức  quật thổ bồi cơ mở đất.  Tên họ của các vị được ghép với chữ “xá” (nơi nghỉ ngơi, định cư) để đặt tên cho các điểm tụ cư mới được hình thành như: Bùi Xá, Trần Xá, Hà Xá, Đặng Xá, Lê Xá, Đào Xá, Nguyên Xá,… một số khác lại chọn cái tên khá dặt biệt để lưu dấu sự tụ hợp của những con người dù không chung huyết thống nhưng vẫn gắn bó bởi đều có một hoàn cảnh giống nhau như: Nhật Cảo, Xuân Cổn, Đồn Xá, Phương Man (Làng Phương Man xã Tụy Dũng huyện Thái Thụy tương tuyển là nơi lưu đầy tù binh Chiêm Thành, Phương man được giải thích là làng của người Man. Ngày nay đa phần người Phương Man có nhiều nét nhận dạng, khẩu ngữ giông cư dân Nam Trung Bộ (người Chiêm Thành xưa), giọng gọi nặng, da ngăm đên tóc xoăn)…Nhưng thành quả to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế , ổn định dân cư là cơ sở thuận lợi để nhà Trần sớm tiếp tục khai thác  những tiềm năng , thế mạnh của miền đất phát tích – trước họa xâm lăng ngày càng đến gần của giặc Mông – Nguyên.

            Năm 1250, nhà Trần có lập một kho lương lớn ở “A Sào khu, An Hiệp trung”, (xã An Đồng, An Thái huyện Quỳnh Phụ), và cử viên tướng tre của Hoàng tộc là Thượng Vị hầu Trần Quốc Tuấn ra trấn giữ (Theo Thái Bình địa dư kí, bản dịch cửa Thư viện Thái Bình:Quốc Tuấn năm 18 tuổi (1250) được phong Thượng vị hầu, sai trấn thủ khu A Sào, trang An Hiệp). Sau được triệu về triều đình phụ chính rồi phong Hưng Đạo Vương). Năm 1246, trong khi xây dựng quân đội nhà Trần đã tuyển chọn đinh tráng ở một số lộ tin cẩn để bổ xung vào quân túc vệ làm năng vuốt để bảo vệ Thăng Long, Thái Bình khi ấy được lựa chọn trong 6  lộ được lựa chọn, trai tráng Long Hưng được đưa vào quân hiệu: Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Tránh, Củng Thần, trai đinh Kiến Xương thì được gọi vào các vệ quân Thánh Dực, Thần Sách (Ngô Sỹ Liên: Sdđ, tr, 20 - 21) Thực hiện chính sách “ngự binh, ư nông”, nhiều vương hầu, hoàng tộc cũng chiêu mộ thêm đinh tráng các lộ Long Hưng, Kiến Xương để hợp sức với lực lượng nê tì ở điền trang, thái ấp của mình lập ra các đội quân “vương hầu, gia đồng”. Chính những đội quân này trong kháng chiến chống Mông – Nguyên đã để sử dụng để ngăn bước tiến của quân thù ngay tại các địa phương. Tên tuổi đội quân “Gia đồng” Tinh Cương của Ngự Thiên do Khâm Thiên vương Trần Nhật Hiệu xây dựng, quản lĩnh đã được sử sách biết đến. Vào những lúc khó khăn nhất của cuộc kháng chiến lần thứ nhất (1258). Bị quân giặc truy đuổi gấp các vua Trần vẫn còn kịp gọi quân Tinh Cương đến giá hộ ( Ngô Sỹ Liên: Sdđ, tr, 29). Và cũng bằng việc tập hợp các lực lượng  hương binh các đội “Quân vương hầu gia đồng”, chỉ 9 ngày sau khi phải rời bỏ thành Thăng Long về vùng hạ lưu sông Hồng, các vua Trần đã có đủ sức mạnh đánh bật quân thù xâm lược ra khởi bờ cỡi. Sử thần Ngô Sỹ Liêm cho biết: “Năm Đinh Tỵ (1257), rời nguyên Phong giặc Nguyên sang cướp, các vương hầu cũng đem người nhà và hương binh, thổ hòa làm quân giúp vua” (Ngô Sỹ Liên: Sdđ, tr, 34). Đặc biệt trong cuộc kháng chiến đầu tiên này, đất Long Hưng này còn được biết đến như một hậu cứ an toàn nhờ tài đảm lược của Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung – người phụ nữ từng được sử sách ca ngợi “sinh ra cốt để mở nhà Trần”. Bấy giờ trước khi Thăng Long lọt vào tay giặc. Trần Thị Dung tạm thời sơ tán toàn bộ gia quyến hoàng tộc và triều thần. Bà quết định đưa cả đoàn thuyền của hoàng gia về xuôi về hạ lưu sông Hồng về Ngự Thiên, nơi quê xưa làm địa điểm ẩn náu. Các lang Nội, làng Chùa (xã Cộng Hoà, Hưng Hà) được đón các cung phi, công chúa. Làng Triều Quyến (xã Hòa Tiến, Hưng Hà) là nơi ở tạm của gia quyến triều Trần. Đình Ngự (xã Tiến Đức, Hưng Hà) được chuẩn bị đón rước vua về lánh nạn…. bà còn cho người đi thu gom vũ khí, lương thực gửi ra mặt trận. Cuộc sơ tán thành công đã góp phần làm yên long vua tôi, tướng sỹ nhà Trần dồn sức đánh giặc. Đánh giá cao công  lao của bà. Trần Thái Tông đã phong tặng 4 chữ “Linh từ Quốc Mẫu” và cho phép bà dùng về “xe kiệu áo mũ, người hầu đều ngang hàng vời hoàng hậu” (Ngô Sỹ Liên: Sdđ, tr, 34).

            Việc hoàng gia láng nạn thành công cùng với những thắng lợi nhanh chóng của quân đội hẳn là cơ sở quan trọng để nhà Trần một lần nữa có điều kiện thử thách, nhìn nhận lại vị trí vai trò khả năng của miền đất dựng nghiệp nói riêng và của cả miền đồng bằng ven biên quanh vùng hạ lưu sông Hồng nói chung. Chính vì vậy để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lần thứ 2 (1285), ngoài ra các căn cứ lớn ở Vạn Kiến (Hải Dương), Đông Bộ Đầu (Hà Nội) và các điểm phòng thủ dọc tuyến sông Hồng về phía hạ lưu, nhà Trần còn thiết lập cả một hệ thống phòng tuyến với quy mô trên đất Long Hưng – Kiến Xương

            Vùng ngã ba sông Luộc (còn gọi là của Hải Triều  hoặc Hải Thị), nơi hội tụ của sông Hồng với nhiều dòng chảy khác của vùng đông – nam, đã được xây dựng thành một của ải vững chắc với hệ thống rào lũy cọc chẵn, đồn binh nằm cả ở trên bờ lẫn dưới sông và những bãi nổi. Sau được lệnh của Trần Hưng Đạo, tướng Yết Kiêu đã đưa có đội thủy quân về chia đóng suốt một dải ở cửa sông từ ngã ba Nông (xã Điệp Nông – huyện Hưng Hà) cho đến sông Cửu Khúc (dòng sông chảy từ huyện Hưng Hà sang địa phận huyện Quỳnh Phụ) “để làm thanh viên đồng thời chặn đánh quân tiếp viện của quân Nguyên” (Theo Phạm Nguyên Hợp: Tiên Hưng phủ chi, dịch bản của thư viện Thái Bình). Lui vào phái trong cách cửa Luộc về phía đông chừng 20 km là căn cứ lớn nhất của nhà Trần “Đào Động, Lộng Khê, A Sào, Phụ Phượng, Lý triều tứ cố cảnh”. Bốn nơi có làng ấp trù mật, thế đất cao ráo với đường sông kề cận vốn được xem là 4 cảnh cận đẹp nhất dưới thời Lý đều được củng cố xây dựng thành những địa điểm tập trung quân lương  quan trọng của nhà Trần. Riêng A Sào (xã An Đồng – Quỳnh Phụ) được Trần Hưng Đạo cho lập đại bản doanh để thường xuyên lưu tới chỉ đạo. Đào Động được xây dựng thành một căn cứ thủy bộ và giao cho tướng Phạm Ngũ Lão cai quản. Xuôi tiếp về phái đông qua căn cứ Tô Đê (xã An Mỹ - Quỳnh Phụ) tới Cao Dương quê hương nghề rèn nổi tiếng thời Trần – lại có thêm một số đồn binh chốt chặt nữa. Hữu tướng quân Lý Nghị giữ đồn Gọc Vôi (thôn An Cúc, xã Thụy Việt huyện Thái Thụy). Tả tướng quân Ngô Đức Thuần côi quân ở Gọc Chợ (thôn An Cúc, xã Thụy Việt huyện Thái Thụy). Cả hai tạo thế liên hoàn hỗ trợ nhau khóa chặn một khúc sông Hóa cách cửa biển Tam Giang (sông Thái Bình) không đầy 10 km. Cuối cùng, quanh vùng ven biển kề sát cửa Tam Giang lại có cả một hệ thống đồn trại của căn cứ Bát Đụm trang (bao gồm nhiều xã nơi thuộc huyện Thái Thụy: Thụy Hồng, Thụy Dũng, Thụy Quỳnh, Thụy Trường…). Bốn đồn phòng thủ lớn được dựng trên cồn đất sát cả hai bên cửa biển Tam Giang. Riêng hai đồn ở phía tả ngạn thì một ở Lưu Đồn (xã Thụy Hồng – Thái Thụy), một nữa là ở Phương Man (xã Thụy Dung – Thái Thụy) (Gần đây tại các giẻo đất cao từ xã Thụy Dũng, Thụy Hồng vòng về Hồng Quỳnh của huyện Thái Thụy còn phát hiện một số giếng nước lớn được ghép gỗ và xếp bằng những viên đá tảng to. Các nhà nghiên cứu xác định:đó là hệ thống nước giếng có từ thời Trần phục vụ hệ thống phòng thủ ở Bát Đụm trang xưa). Ngoài ra kề hữu ngạn  cửa Diêm Hộ trên những cồn đất cao của Bích Du (xã Thái Thượng – Thái Thụy) cũng có một khu đồn lũy được xây dựng để vừa canh giữ của sông vừa tạo thế nương tựa với các vùng quanh vùng – sau cũng được giao cho Phạm Ngũ Lão cai quản làm nơi luyện tập quân thủy bộ (Hiện ở dầu thôn Bích Du xã Thái Phương, Thái Thụy còn ngôi đền hét để thờ “Điện tiền Phạm điện sú tướng quân cương vị Đại Vương”. Tương truyền, Phạm Ngũ Lão mỗi khi luyện quân hoặc mỗi khi ra trận đều thét lên một tiếng to.Vì thế dân lập đền thờ đặt tên là ông Hét và kiêng phạm tên úy của ông)

            Trần Hưng Đạo đã quyết định cử một số tướng tâm phúc bí mật về dựng một hành cung tại Lưu Đồn làm nơi lưu lại của các vua Trần khi đất nước có biến. Theo dã sử (Theo “Lưu đồn phả kí”, tài liệu dịch chữ Há lưu tại Lưu Đồn (xã Thụy Hồng – Thái Thụy, ba tướng họ Bùi, Nguyễn, Dương quê Thanh Hóa đều làm tướng ở Long Thành (Thăng Long) được cử về Lưu Đồn lo việc lập căn cứ. Sau này, dân Lưu Đồn dựng miếu thờ cả 3 vị là Tiên công lang Bùi Công Bình được sắc phong làm Hùng Cảnh Đại vương thượng đẳng thần; Dương Mãnh Đại là Hùng xuyên Đại vương thượng đẳng thần; Đại vương thượng đẳng thần, Nguyễn Liệu Công là:Hùng Thắng đại vương thượng đẳng thần. Hậu duệ của ba vị hiện vẫn cư ngụ trên đất Lưu Đồn này ): Nhận được lệnh ba vị tướng là Bùi Công Bình, Nguyễn Liệu Công, Dương Dương Mãnh Đại đã tức tốc mang theo thuộc hạ về Lưu Đồn và chỉ trong  vòng một tuần trăng đã hoàn thành việc xây dựng “Cung Trần Vương dã ngoại”. Cung xây dựng trên một cồn đất có tên là đảo Phượng Hoàng nằm trên động Tam Khê của đất Lưu Đồn. Xung quanh động là những đồng trũng và đàm nước rộng, phải dùng thuyền đi qua ba ngòi nước tự nhiên mới đến được. Bảo vệ hành cung của hai lần hào lũy, năm điếm gác với 15 trạm kiểm tra xét hỏi nghiêm ngặt, thường gọi là :thập ngũ án tấu”. Ba vị tướng Bùi, Nguyễn. Dương, còn dựng thêm ba doanh trại kề quanh hành cung để thường xuyên lo việc canh giữ.

            Nhằm tích lũy lương thảo, vũ khí bên cạnh các điểm phòng thủ, nhà Trần bố trí rất nhiều kho đạn vũ khí lớn: Nị (xã Liên Hiệp, Hưng Hà): Đại Nẫm (xã Quỳnh Thọ - Quỳnh Phụ); Mễ Thương (xã An Thái – Quỳnh Phụ); Am Qua (xã An Đồng – Quỳnh Phụ); Phong Lẫm (xã Thụy Phong – Thái Thụy), Lưu Đồn (xã Thụy Hồng – Thái Thụy)….Trong đó kho vũ khí lớn nhất là ở Am Qua, kho lương ở Đại Nẫm. Tương truyền bấy giờ, vũ khí giáo mác, yên ngựa được xếp thành đống như núi ở kho Am Qua và khu Đống Yên (xã An Thái). Lương thục được ùn ùn chở về chất đầy các kho ở Đại Nẫm, mỗi kho chiếm tới vài mẫu đất. Tại đây có người thổ hào là Trình Quang Minh tự nguyện hiến thóc lúa vừa đứng ra kêu gọi đóng góp và tổ chức xây dựng các kho lương. Ông được Trần Hưng Đạo ban khen rồi giao làm quan quản kho lương ở A Sào. Sau dân lập đền thờ cho ông được thờ phối hưởng với Trần Hưng Đạo tại An Hiệp (xã Quỳnh Thọ - Quỳnh Phụ). Một số kho hậu cần khác được giao gấp rút chuẩn bị. Các thợ giỏi ở làng Cao Dương (xã Thụy Hưng – Thái Thụy), làng An Tiêm (xã Thụy Dân – Thái Thụy), được triệu tới lo rèn đúc, sửa sang vũ khí, yên ngựa, áo quần trang bị thì giao cho thợ dệt làng Mẹo (xã Thái Phương – Hưng Hà), thợ mộc làng Vế (xã Canh Tân – Hưng Hà)… Riêng nhóm thợ rèn, thợ đúc còn được lệnh rèn đúc hàng loạt xích sắt khổng lồ dùng để thực hiện kế chăng chẵn ở các cửa biển, cửa sông trọng yếu. Tại đền Hòe Thị (xã Đồng Tiến – Quỳnh Phụ) còn thờ một vị tướng họ Đào được coi là có công hiến kế  chăng xích sắt đại phá được quân Nguyên (Tại đình Dương Thanh (xã Thụy Dương – Thái Thụy), có thờ một vị thần là Cát Biến đại vương – tên thật là Đinh Cát, theo thần tích, ông được triều đình ghi nhận có công bầy mưu đặt lưới, chăng xích sắt ở cửa Lục Đầu giang phá tan đại quân Nguyên) . Trong đền còn đôi câu đối như sau:

Kim bảng tiên tam sách điện tiền danh tề hiển hoạn

Thiết võng tí Lục Đầu giang hạ đại phá Nguyên binh.

Tạm dịch:

Bảng vàng nêu trước điện tam sách nức tiếng quan to

Lưới sắt giăng cửa Lục Đầu dẹp tan giặc Thát.

            Nhân các chiến thắng này, thợ rèn làng Cao Dương cũng được ca ngợi: “Cao Dương rèn sắt nên có công nhất miền (Theo dã xử, thời Trần ở Cao Dương có đến 7 xưởng rèn vũ khí và một xưởng luyện kim nấu quặng. các ngôi đình Cao Đương và An Tiêm đều phối thờ các vị phúc thần là “Dã Tượng tiên sử”, “Ngũ vị tổ sư” nghề rèn “Dã Tượng tiên sư” – không rõ tên được coi như là ông tổ truyền nghề. “Ngũ vị tổ sư” là 5 người học trò giỏi đầu tiên của ông “Dã tượng” đã đem nghề truyền lại cho dân. Các ông có tên là: Tống Đình Uyên, Lê Đình Ngạn, Trịnh Thiện Tích, Bùi Đình Lãm, Phạm Đình Minh (có chỗ ghi Phan Thuần Mỹ ở Cao Dương và An Tiêm)

            Như vậy, cho đến trước cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), với sự tham gia của nhân dân địa phương, một cụm căn cứ liên hoàn được hình thành bám sát dòng chảy Luộc – Hóa trải dài từ ngã ba Luộc ra đến tận cửa biển. Đây là cơ sở để vua tôi, tướng sỹ nhà Trần thực hiện có kết quả kế sách “Dĩ đảo chế trường”, dùng ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh. Sử sách từng ghi nhận: Về hai cuộc xâm lược, thì lần sau kẻ thù cầng hung tợn hơn. Song mỗi lẫn chúng động binh thì một lần vua tôi nhà Trần, bình tĩnh chủ động rời khỏi Thăng Long, trọn hướng lui quân về phía hạ lưu sông Hồng để tạm dấu mình nơi biển khơi phục quân chống ải hiểm trở chờ thời cơ phản công giành chiến thắng. Trong những lần như vậy, cửa Viềng, A Lỗ, cửa ải Hải Thị ở ngã ba Luộc với các đội hương binh, dân binh “vương hầu, gia đồng”, các bãi cọc, chưỡng ngại…. lại được nhắc đến như các địa danh chữa đầy nỗi kinh hoàng của kẻ thù. Các cuộc truy sát ráo riết tưởng như “lửa cháy, gió thổi” của giặc nhằm đuổi theo dấu vết của vua Trần đều phải trả giá và phải chững lại chiến sự khánh cự quyết liệt của chiếm lũy Hải Thị. Ngay sau đó, các vua Trần đã kịp thoát hiểm lánh về cứ địa trên đất Long Hưng – Kiến Xương và các lộ Đông – Nam một cách an toàn. Theo dã sử các cuộc kháng chiến thứ 2 (1285), lần thứ 3 (1288), các vua Trần không ít lần dùng thuyền nhẹ xuôi sông Hồng lánh về  “cung Trần vương” ở Lưu Đồn để tập hợp chủ tướng bàn kế sách đánh giặc. Tập Lưu Đồn phả kí chép: “Buổi đầu cuộc chiếm, thế mạnh, quân ta không giữ nổi Thăng Long (thành Thăng Long)… Hai vua chạy ra ngoài biển, ngự trên đảo Phường Hoàng trong đầm nước. Đây là một địa thế trời phú “đất thiêng liêng”. Quốc Công thiết chế Trần Hưng Đạo, mặc dù ở cương vị tổng chỉ huy quân đội nhà Trần phải lo chống giặc ở tất các các mặt trận cũng thường xuyên lui tới các cứ địa ở Long Hưng – Kiến Xương để mộ quân, lấy quân. Ông từng giao cho các danh thần, gia tướng của mình là: Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão. Bí mật giấu quân , phục binh tại khắp các bến bãi cửa biển của Long Hưng

            - Kiến Xương, bất kỳ ở đâu, các tướng sỹ nhà Trần cũng được nhân dân ủng hộ, giúp đỡ tận tình. Ở ngôi đình – miếu Bơi Kiến Xá (xã Nguyên Xá – Vũ Thư) khi trước vẫn thờ một vị nữ thần vô danh mà dân gọi là Bà Chúa Đỏ hoặc Bà Bá Đỏ. Tương Truyền bình sinh bà thường mặc yến đỏ đi mò cua, bắt cá khắp vùng và có tiếng là tài bơi lặn. Yết Kiêu đưa quân về lập thủy trại ở bến Bồng Tiên thì được bà chủ động tìm đến tận quân doanh để tỉ mỉ chỉ dẫn về hình sông, thế nước quanh vùng nên đã nhiều phen binh phục lập công lớn. Kính trọng và biết ơn, Yết Kiêu đã nhận bà làm mẹ nuôi (Đình miếu Bơi và lăng mộ Bă Bá Đỏ ở Kiến xá nay đã bị hủy hoại hết. Ở xã Vũ Tiến huyện Vũ Thư kề cạnh vẫn là hai làng Bồng Lai và Bồng Tiên thờ Yết Kiêu làm thần hoàng, mở hội 15/2 âm lịch hàng năm)

            Trên bờ sông Hóa, thuộc địa phận giáp danh hai xã An Đồng và An Thái của huyện Quỳnh Phụ vẫn còn một con voi đá và vị trí đền thờ Đức thánh Trần (đền thờ đã bị phá hủy từ lâu) vốn là dấu tích của câu chuyện khá cảm động của Trần Hưng Đạo đưa tướng sỹ vượt quân lên phía bắc: chuyện đại lược như sau. Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo từng nhiều lần xuôi về sông Hóa, sông Luộc. Lần ất, Trần Hưng Đạo xuôi theo lối Tam Giang về căn cứ trang Bát Đụm. Biết tin, nhiều trai tráng xin về đầu quân. Có nhà có 6 anh em đều tình nguyện tòng quân cho nghĩa quân như các con bà Đào Thị Từ Nhan ở Tu Trình (xã Thụy Trình huyện Thái Thụy); là Đường Lang, Trung Lang, Hải Tôn, Nam Bồ, Cây Mấy…(sau cả 6 anh em đều hy sinh và được dân Tu Trình lập đền thờ ở đình làng). Trần Hưng Đạo sau khi tập hợp nhiều thêm lực lượng liền làm lễ tế cờ (Theo “Lưu Đồn Phả ký”(tài liệu đã dẫn), trước khi đem quân rời Lưu Đồn “Đại vương đã cho lập một đàn lớn để làm lễ tế cờ, tuyên thệ trước ba quân. Vương cho chúng tướng sắp lễ đến các miếu đền nơi đóng quân xin thần linh âm phù. Vương còn bí mật chế hai đồng tiền, một đồng cả hai mặt không chữ, một đồng cả hai mặt đều có chữ. Khi deo quẻ cả hai lần đề thuận âm dương. . Chúng tướng ba quân đều nhìn rõ hai đồng sấp ngửa, đứng là thuận ý trời, thuận lòng dân”)  rồi kéo quân ngược ra sông Hóa về lấy quân vũ khí tại A Sào để vượt sông lên cửa Bạch Đằng, Đại quân tiến qua nhiều làng mạc, bến bãi. Quân đi đến đâu cũng được nhân dân hưởng ửng, dân cũng mang theo lương thảo quà cáp để úy lạo và tiễn đưa. Tranh thủ lúc thủy triều xuống, Trần Hưng Đạo cho quân sỹ dò chọn quãnh sông Hóa nằm giữa địa phận hai thôn Lễ Văn (xã Anh Đồng) và thôn A Sào (xã An Thái) để vượt qua các lộ Hồng, lộ Hải Đông (địa phận các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng nay) rồi tiến lên phía bắc. Biết vậy dân hai bên bờ tự nguyện chặt cây, mang tre, rạ rơm, lót rạ rơm xuống mặt sa bùn làm cầu cho quân qua. Kỵ binh, Nội binh lần lượt qua sông, riêng con voi của Trần Hưng Đạo do quá nặng nên bị thụt lầy không lên được. Nước triều càng dâng cao, voi càng vùng vẫy càng chìm. Dân làng, tìm mọi cách cứu voi nhưng không thể cứu được voi. Trần Hưng Đạo đành bỏ voi lại, lên ngựa tiếp tục hành quân. Voi rống lên ứa nước mắt nhìn theo. Xúc động trước sự nhiệt tình của dân làng, cảm kích trước cái nghĩa của voi. Trần Hưng Đạo tuốc gươm trỏ xuống dòng sông Hóa mà thề rằng, “Nếu trận này mà không thắng, ta quyết không trở lại bến sông này nữa!. Sau để ghi nhớ sự kiện này, dân dựng tượng voi, lập đền thờ và gọi bến sông đó là Bến Tượng (Bến Voi).

            Còn nhiều địa danh, dấu tích, nhiều câu chuyện cảm động về sự ủng hộ hết lòng của nhân dân về sự gắn bó giữa quân và dân thời trên đất Long Hưng – Kiến Xương. Nhiều trai tráng, hào kiệt còn tình nguyện tòng quân giết giặc. trở thành những danh tướng hoặc hi sinh trở thành các bậc trung liệt. Sau khi mất tất cả đều được dân lập đền thờ ngay tại quê hương xưa, trong đó tại miếu Đồng Nương (Bao Hàm, xã Thụy Hà, Thái Thụy) vẫn còn thờ vị tướng quân triều Trần là Đốc hậu tướng quân Ngô Đạt; do lập nhiều công trạng trong chống giặc Mông – Nguyên, nên ông được ban thực ấp ở Thụy Anh. Ông mất triều đình sắc phong là  Đạt đao. Đại vương. Tại đình Đoài (xã Vũ Thanh – Thái Thụy). Thờ hai anh em , Bùi Long, Bùi Thược -  duệ hiệu Trà Hải đại vương và bến mơ Đại Vương vì có công chiêu mộ dân binh lập tuyến phòng thủ ven biển. Sau cả hai ông đều hy sinh ở trận Bạch Đằng Giang. Ở Vô Song (xã Đông Hòa – Đông Hưng) thờ Trần Bắc Ái và Trần Trường Vượng; hai vị này từng tập hợp dân trong vùng rồi kéo ra Bạch Đằng Giang cùng với quân triều đánh giặc. Tương truyền trong lúc giao chiến, có con giao long quái lao vào thuyền vua Trần. Hai vị vội rút gươm chém chết giao long, cứu được vua nhưng lỡ đà, cả hai vị đều rơi xuống sông tử trận….

            Vị trí, vai trò Thái Bình trong cuộc chống giặc ngoại xâm vào đầu thế kỷ XIII thực sự đã khẳng định đây là “”địa lợi, nhân hòa”. Thái Bình đã trở thành một hậu cứ dồi dào sức người, sức của. Một phòng tuyền vững chắc cùng cả nước tạo nên một thế trận liên hoàn giúp triều Trần một thế lực xâm lược hung hãn nhất trong lịch sử chiến tranh thời trung cổ.

Ngày 18-6-1288, sau Đại thắng Bạch Đằng Giang, các vua Trần đem quân về thẳng Long Hưng làm lễ dâng tù binh mừng chiến thắng. Đứng trước Chiêu Lăng (chôn cất Trần Thái Tông), Trần Nhân Tông đã thốt lên hai câu thơ bất hủ:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu

Dịch thơ:

Xã tắc hai phe phiền ngựa dá

Non sông ngàn thuở vững âu vàng

Ban biên tập (Theo Địa chí Thái Bình)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 7
  • 956
  • 4,987,660