Đầu xuân thăm Làng khoa bảng

  04/02/2017

Chùa cổ An Thánh (tên nôm thường gọi là chùa Dực hay chùa Phượng Vũ) tọa lạc tại đầu xóm Cái, thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội cổ được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII.

Làng Phượng Dực là một trong ba làng thuộc xã Phượng Dực - huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Nằm cách Thủ đô Hà Nội không xa, nơi đây là miền quê mang trong mình truyền thống hiếu học và khoa cử từ ngàn xưa.

Sách Đồng Khánh địa dư chí - bộ Địa chí đồ sộ được hoàn thành vào đời Đồng Khánh (1886-1888) nhà Nguyễn, lưu tại nội các của Triều đình Huế, phần viết về tỉnh Hà Nội có ghi rằng: "Xã Phượng Dực thuộc tổng Phượng Dực, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội". Trải qua ba sự biến động của lịch sử, làng Phượng Dực ngày nay vẫn mang trong mình nét đẹp văn hoá của xứ Sơn Nam Thượng thuở nào - làng khoa bảng.

Hiện nay, ở xã Phượng Dực vẫn còn tấm đá mang tên Văn chỉ dựng năm Long Đức thứ 2 (1733) ghi lại dấu ấn một làng khoa bảng truyền nối các đời (tấm bia hiện được cất ở trước đình làng). Nội dung tấm bia có đoạn ghi rằng: "... Nếu không từ cửa Nho mà ra thì không thể nào gọi là Văn; nếu không tôn sùng lễ nghi của tiền nhân thì không thể gọi là Lễ. Xem lại ngày trước làng ta lập ra hội gọi là Văn hội, gọi tên các giáp là theo đúng với lễ. Bởi vì muốn cho hậu thế đọc đến tên là nghĩ tới nghĩa, để hiểu được sâu sắc cái nghĩa của lễ văn vậy".

Người dân nơi đây mong muốn truyền thống Nho học được thông suốt cho nên đã mua đất xây dựng từ vũ, lại lợp ngói xây gạch để kính tế các bậc tiên nho theo nghi lễ vào dịp xuân thu. Rồi tham khảo các khoa thi, ghi rõ họ tên cho tòng phối hai bên tả hữu để làm khuôn mẫu cho việc truyền đạo, truyền giáo. Thể lệ văn tế của bản hội định rõ: các vị đỗ đại khoa để hàng Tiên hiền chính giữa; thi Hương đỗ tứ trường xếp vào hàng Tả tòng phối (bên trái), đỗ Tam trường và Y khoa, Thư toán khoa xếp vào hàng hữu tòng phối (bên phải)... tất cả đều căn cứ vào khoa thư mà xếp theo thứ tự.

Sách xưa cho biết, làng Phượng Dực trước kia có 12 họ có người thi đỗ khoa trường là: họ Bùi, họ Chu, họ Doãn, họ Đinh, họ Đỗ, họ Nguyễn, họ Nghiêm, họ Dương, họ Phạm, họ Trần, họ Trương, họ Lưu. Mười hai họ này sống trong các phe giáp khác nhau trong làng, quan hệ giữa các giáp và các họ có nhiều điểm đặc biệt. Chẳng hạn, có giáp thấy toàn những người trong một dòng họ thi đỗ như giáp Đồng Thượng Tả có 15 người thi đỗ đều là họ Dương; giáp Đông An có 7 người thi đỗ đều là họ Nguyễn; Lại có trường hợp giáp Đồng Thọ Hữu có 24 người thi đỗ thì có 22 người họ Đinh; giáp Nhất Ngũ có 8 người thi đỗ thì 7 người họ Bùi. Điều này làm nên nét văn hoá đặc thù của nơi đây, đúng như nội dung trên văn bia ở văn chỉ đã ghi "Gọi tên các giáp là theo đúng với lễ".

Hiện trong kho sách cổ còn lưu giữ được một cuốn sách quý với nhan đề là "Phượng Dực đăng khoa lục", biên soạn vào giữa thế kỷ 18 (triều Lê). Đến năm Khải Định thứ 1 (1916) được sao lại và được cất giữ ở đình làng Phượng Dực. Sách không những ghi chép được sự nghiệp khoa cử, những người đỗ đạt của làng Phượng Dực từ xưa (dưới chế độ khoa cử phong kiến) mà những vấn đề sách đề cập tới còn có quan hệ tới cả trường thi Sơn Nam Thượng (tức là các trường thi ở Hà Nội và Nam Định). Việc một làng koa bảng nằm khiêm tốn cạnh Thăng Long còn giữ cho mình một cuốn sách về khoa cử như thế thật đáng trân trọng, điều này làm rạng danh cho nét văn, nét đạo ở làng quê này. Không quý sao được khi những sách đăng khoa lục của một nước, một tổng, một huyện thì còn lại rất nhiều, nhưng sách của một làng thì hầu như chưa tìm thấy. Một số làng quê nổi tiếng với nhiều người đỗ đạt cao như: Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội; Mộ Trạch ở huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An... nhưng sách ghi chép riêng về khoa cử của các làng này thì hiện chưa tìm thấy. Các nhà khoa học quan tâm đến vấn đề này chủ yếu tìm hiểu và khái quát nên truyền thống khoa bảng của các làng này thông qua các sách sử hoặc các sách khoa cử khác.

Qua sách quý có thể khái quát diện mạo khoa cử của làng Phượng Dực như sau: Cả làng có 230 người thi đỗ ở các khoa thi Hương, thi Hộ, thi Thư tả, thi Y khoa. Trong đó, Y khoa có 5 người, toàn là họ Bùi; Khoa Thư toán có 16 người; Thi Hương có 16 người đỗ Tứ trường; Thi Hộ đỗ Tam trường có 9 người; Số còn lại đều là hạng thi Hương đỗ Tam trường. Trong số này có 58 người khi thi đỗ chưa đến 20 tuổi, và đặc biệt hơn nữa có 9 người khi thi đỗ Sinh đồ (tú tài) chưa quá 10 tuổi. Những người này đều thi đỗ Sinh đồ triều Lê, khi mà chế độ khoa cử còn rất nghiêm ngặt. Cũng phải nói thêm về thi đỗ Sinh đồ, Triều Nguyễn có lệ, ai bỏ ra 3 quan tiền thì sẽ được đỗ Sinh đồ, nên mới có tên gọi là Sinh đồ Ba quan, việc 9 người còn quá nhỏ tuổi ở Phượng Dực thi đỗ Sinh đồ khi chưa quá 10 tuổi vào triều Lê đã thể hiện sự hiếu học thành truyền thống, thành nếp quê, thành nếp nhà, để từ đó khơi dậy niềm tự hào của một vùng quê giày truyền thống khoa bảng. Điều này thật đáng là tấm gương sáng chói cho thế hệ trẻ noi theo.

Lại có trường hợp có người ngoài 60 tuổi mà vẫn lều chõng đi thư như Bùi Tông Anh 63 tuổi đi thi Hương vẫn đỗ Sinh đồ; Dương Đình Hiền 64 tuổi đi thi Hội đỗ Tam trường. Có trường hợp hai anh em ruột, hoặc hai anh em con chú bác cùng thi đỗ một khoa. Đặc biệt có 4 trường hợp hai cha con cùng thi đỗ một khoa, như cha con Bùi Tông Anh, Bùi Tông Giai thi đỗ Y khoa năm 1742; , thậm chí con còn xếp trên cả cha; Cha con Nguyễn Trọng Mãn, Nguyễn Trọng Cảnh thi đỗ Sinh đồ năm 1743, khi ấy con là Trọng Cảnh mới 14 tuổi; Cha con Đinh Danh Viên, Đinh Ngô Cẩn thi đỗ Sinh đồ năm 1750; Cha con Đinh Đăng Điện và Đinh Đăng Quyền thi đỗ Sinh đồ năm 1765, khi ấy Quyền mới 11 tuổi. Những hiện tượng như thế thật đáng để người đời nể trọng. Tinh thần hiếu học, trọng đạo nghĩa thi thư kế thừa truyền thống từ đời này sang đời khác đã không ngừng làm rạng danh cho lịch sử khoa cử của một vùng.

Trong thế kỷ XX, xã Phượng Dực cũng có nhiều nhân tài xuất chúng. Đó là học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938), nhà văn Phạm Duy Tốn (1883-1924), Thiếu tướng tình báo Diệp Sơn - tức Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Ngọc (1932-2006).

Ngày nay, về thăm làng Phượng Dực, người ta vừa thấy nét cổ kính của ngôi đình làng, của ngôi chùa cổ, của lăng quận công, vừa thấy nét hiện đại của nhà cao tầng đẹp đẽ, của đường làng ngõ xóm lát gạch phẳng phiu, trải rộng như bàn cờ. Và hơn thế nữa, mỗi người dân nơi đây còn tự hào về tổ tiên họ, cha ông họ làm vẻ vang cho một miền quê yêu dấu.

(Theo Ban BT Tạp chí Truyền hình)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 7
  • 1796
  • 4,888,139