Đền Đức Ông - tướng quân Bùi Gia Liễu xã Nam Mỹ, Nam Trực, Nam Định

  17/05/2020

Đền Đức Ông là nơi thờ tự và tri ân công đức của nhân dân địa phương đối với tướng quân Bùi Gia Liễu. Ông sinh ra và lớn lên tại làng Vô Hoạn, huyện Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường( nay là làng Vô Hoạn, xã Nam Mỹ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định). Ông là vị tướng thời Trần có công chỉ huy đội quân chống lại quân xâm lược Chiêm Thành khi chúng vượt biển tiến vào cửa biển Đại An xâm lược nước ta. 

Khám và tượng thờ tướng quân Bùi Gia Liễu

Theo thần tích Bùi Gia Liễu tướng quân in trong sách Thành hoàng Việt Nam, thì thân thế sự nghiệp của tướng quân Bùi Gia Liễu được ghi lại như sau:
“ Tháng 3 nhuận năm Tân Hợi(1371) niên hiệu Thiệu Khánh thứ hai đời vua Trần Nghệ Tông, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga thân làm tướng mang quân vượt biển vào cửa Đại An xâm lược nước ta. Thủ Ngự ngã ba sông Hoàng Giang (sông Vị Hoàng) là Bùi Gia Liễu dàn trận đón đánh toán quân tiên phong của giặc. Quân Trần chiến đấu anh dũng và hy sinh gần hết. Bùi tướng quân bị giặc chém trúng một đao, đầu gần lìa khỏi cổ, ông một tay giữ đầu, một tay cầm lá chắn phi ngựa vượt vòng vây, chạy về làng Vô Hoạn là quê hương của ông. Khi chạy đến Trại Đồng (thuộc làng Đồng Phù), gặp một quán hàng, Bùi tướng quân dừng ngựa, hỏi bà chủ quán: 
- Ta bị thương thế này liệu có sống được không?
Bà hàng nước đáp:
- Đầu của ngài bị chém còn một tý da thì sống làm sao được!
Bùi tướng quân nghe xong bùi ngùi nước mắt nhìn về cung Thiên Trường, lại ngoảnh mặt nhìn về làng Vô Hoạn, đoạn cho ngựa sải  vài bước ra cánh đồng, ném cái lá chắn xuống đất rồi ngã xuống ngựa mà hóa, qua một đêm mối đùn thành mộ. Nhân dân Trại Đồng lập miếu phụng thờ: Đến đời Lê Trung Hưng được nhà vua ban sắc, đền miếu được xây dựng nguy nga to lớn, trải qua mấy trăm năm đến nay đã có nhiều lần tu sửa và vẫn hương khói phụng thờ”.

Bài vị tướng quân Bùi Gia Liễu

Tại làng Đồng Phù hiện nay, ngoài ngôi đền thờ ông là Phúc thần của làng, còn có một ngôi mộ nằm sát đền. Dấu tích liên quan đến Bùi Tướng quân còn lại là một phiến đá xanh (trong khuôn viên của đền), tương truyền đó là tấm lá chắn của ông đã hóa đá. Hiện nay tại đền còn lưu giữ được một số đôi câu đối ca ngợi công tích và sự hiển linh phù giúp dân làng của Tướng quân Bùi Gia Liễu, trong đó có những câu sau:

 “ Vạn cổ trường tồn kinh liệt anh thanh tế Lã tướng,
Thiên thu hật hưởng ân uy linh ứng tỷ đồng dân”.

Nghĩa là:

“Muôn thủa còn mãi sự nghiệp rực rỡ, tiếng anh minh sáng ngang Lã tướng,
Nghìn thu tốt đẹp, tính khí oai thiêng ứng nghiệm che chở khắp dân này”.
 “Hoàng giang nhất chiến tráng Chiêm khấu
Đồng dã dư linh tố phúc thần”.

Nghĩa là:

“ Một trận chiến thắng ở sông Hoàng, uy thế lớn dẹp yên giặc Chiêm Thành,
Nổi tiếng thiêng liêng ở Đồng Phù, ngài làm phúc thần che chở nhân dân”
 “Phụ tá Nghệ Tông, nhất trận uy hùng trừ Bắc khấu,
Đồng Phù hiển hóa, thiên thu ba cốc quốc triều phong”.

Nghĩa là:
“Phụ giúp Nghệ Tông, một trận chiến oai hùng đánh tan giặc Nguyên phương Bắc,
Đồng Phù hiện Thánh sáng, nghìn thu hưởng vinh hoa phú quý các triều tặng phong”.

Phiến đá xanh (trong khuôn viên của đền), tương truyền đó là tấm lá chắn của ông đã hóa đá.

Đền Đức Ông là công trình tín ngưỡng được nhân dân địa phương xây dựng để tri ân công đức của Tướng quân Bùi Gia Liễu sau khi ông mất. Công trình được khởi dựng vào cuối thế kỷ 14, khi đó chỉ là ngôi miếu nhỏ, đến thời Lê Trung Hưng nhân dân hưng công nâng cấp thành ngôi đền to đẹp, dựng bằng gỗ lim theo kiểu “tiền chữ nhất, hậu chữ đinh” . Đền tọa lạc trên một khu đất cao ráo, rộng khoảng 6.500m2, làm quay mặt về hướng Đông Nam, phía trước là trục đường xã, hai bên là khu dân cư, phía sau là cánh đồng trồng hoa đào. Nhìn từ ngoài vào trong, đền gồm các công trình kiến trúc: ao, nghi môn, sân và công trình chính.

Tòa tiền đường

Công trình đền kiến trúc theo kiểu “tiền nhất, hậu đinh” gồm tiền đường, trung đường và cung cấm. Tiền đường có 5 gian, bộ khung được dựng bằng gỗ lim, gồm 4 bộ vì. Hai bộ vì gian giữa thiết kế theo kiểu: thượng chồng rường, câu đầu, hạ bẩy, tiền bẩy hậu. Bộ chịu lực là 4 cột cái, 4 cột quân được tạo dáng búp đòng, đặt trên các chân tảng đá được tạo dáng hình cổ bồng. Trên các con rường, xà nách của các bộ vì được các nghệ nhân chạm họa tiết triện tàu, lá lật cách điệu mềm mại; trên các cây bẩy chạm họa tiết long hóa ở hai mặt, đầu bẩy trang trí hoa văn chữ “thọ”. Tòa tiền đường được trùng tu vào năm Đinh Dậu, niên hiệu Thành Thái 9 (1897). Thượng lương tòa tiền đường ghi lại sự kiện đó như sau:
Hoàng triều Thành Thái  vạn niên chi cửu, tuế thứ Đinh Dậu, dương nguyệt, cốc nhật, thu trụ thượng lương. Đại cát”.
 Nghĩa là:
“ Ngày tốt, tháng 10 (âm lịch), năm Đinh Dậu, niên hiệu Thành Thái 9 dựng thượng lương. Mọi việc tốt lành”.
Từ tòa tiền đường sang tòa trung đường là 3 ô cửa xây cuốn vành mai, tòa trung đường  có 3 gian xây cuốn vòng, mái lợp ngói nam. Tòa cung cấm xây nối mái với tòa trung đường, kết cấu kiểu cuốn vòm như tòa trung đường, mái lợp ngói nam. Cung cấm là không gian thờ tự quan trọng nhất của ngôi đền, đây là nơi đặt bài vị và tượng thờ Tướng quân Bùi Gia Liễu.

Nghi môn đền

Thôn Đồng Phù xã Nam Mỹ là một miền quê còn lưu giữ nhiều nét sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Hàng năm, tại đền Đức Ông diễn ra một số sinh hoạt văn hóa, tục lệ liên quan đến vị thần thờ tại di tích và các sự kiện tại địa phương như: Ngày 14 tháng giêng lệ yến lão; ngày 10 tháng ba âm lịch hội làng Đồng Phù; ngày 20 tháng ba Lễ kỵ giỗ Tướng quân Bùi Gia Liễu...và đặc biệt là lễ Hạ điền diễn ra vào tháng sáu âm lịch hàng năm. Vào ngày lễ, ngay từ sáng sớm các quan viên, kỳ mục, già làng và dân làng có mặt tại sân đền làm lễ cẩn cáo thần làng và thần linh phù trợ cho nhân khang, vật thịnh, mùa màng bội thu. Sau đó mọi người tập trung tại thửa ruộng kỵ điền. Sau lễ cáo thần làng và thần nông, lễ hạ điền bắt đầu nghi thức cấy lúa. Những người thực hiện nghi thức này gọi là Chúa đồng. Chúa đồng là những vị cao niên có uy tín, am hiểu nghề nông, đông con nhiều cháu, phúc hậu, không có tang ma. Mở đầu nghi thức cấy lúa, Chúa đồng lội xuống ruộng và cấy theo nhịp trống, trong khi đó dân làng hò reo vui vẻ, đánh trống giả sấm, té nước giả mưa. Sau khi Chúa đồng cấy được một khoảng ruộng, dân làng cùng nhau xuống cấy tiếp trong không khí hào hứng sôi nổi đến khi cấy xong thửa ruộng. Mọi người tin rằng, không khí sôi nổi của lễ hạ điền sẽ đem đến một vụ mùa mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Mặc dù ngày nay, lễ hạ điền không được tổ chức theo nghi thức cổ, nhưng đến ngày này hàng năm, các già làng và nhân dân vẫn tổ chức lễ cáo yến thần làng, thần nông với ước muốn mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, con người khỏe mạnh, hạnh phúc.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, đền Đức ông trở thành địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử cách mạng của địa phương. Trong kháng chiến chống Pháp, ngôi đền là nơi tập trung và luyện tập của lực lượng dân quân du kích địa phương, nơi mở các lớp bình dân học vụ và các lớp học trong hệ thống giáo dục phổ thông của xã, nơi tổ chức mít tinh và các ngày lễ lớn. Trong kháng chiến chống Mỹ, đền Đức Ông trở thành một trong những địa điểm đặt trụ sở làm việc của Uỷ ban hành chính xã và hợp tác xã nông nghiệp của thôn Đồng Phù. Đặc biệt, ngôi đền là địa điểm diễn ra hai lần Đại hội Đảng bộ xã Nam Mỹ vào năm 1968 và năm 1976.
Từ những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và văn hóa, đền Đức Ông đã được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 2009.

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 10
  • 2004
  • 6,643,612