Đền thờ Quốc mẫu Bùi Thị Dung và lễ hội làng Bộ Đầu

  05/02/2017

Từ Hà Nội, du khách theo đường quốc lộ 1A về phía nam chừng 26.5km thì đến địa phận xã Thống Nhất, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.
Đến đó, du khách bị ngợp xanh giữa vùng đất bãi, xanh của mía, của ngô, của lạc, của đỗ, của lá chuối trong vườn, của rặng tre đầu ngõ, dập dờn cánh sen chạy dài theo các hồ nước ven chân đê. Lửng lơ xanh mây chầm chậm trôi theo dòng sóng bạc sông Hồng. Và nổi lên giữa đằng xa kia là một khu vườn xanh sẫm cây cổ thụ, dưới đó ẩn một di tích cổ là đền Bộ Đầu.

Đền đã có từ rất xưa, từng nổi tiếng trong vùng. Sử quan triều Nguyễn soạn sách Đại Nam nhất thống chí xếp đền Bộ Đầu là một trong số 36 đền miếu cổ tích của tỉnh Hà Tây cũ (nay đã sát nhập vào Hà Nội). Ở thế kỷ XVII, sách Công dư tiệp ký (ghi chép nhân khi rỗi việc quan) của tác giả Vũ Phương Đề đã chép sự tích Ứng thiên đại thánh thiên vương thần thờ ở đền Bộ Đầu. Một số sách như Hoàng Việt địa dư chí, Nam Việt địa chỉ dư chí đều có chép thanh danh đền Bộ Đầu.


Chuyện kể rằng, ở thời Hùng Vương dòng sông Hồng xuất hiện nhiều thuồng luồng chuyên ăn thịt người. Ngày kia, có bà mẹ ở một làng ven sông ra bến đò Dấp gánh nước thì đột nhiên hai con thuồng luồng lao tới cuốn bà ra xa bờ. Bà mẹ thảng thốt kêu cứu. Chẳng một bóng người. Tuổi già sức đuối chống đỡ yếu ớt, bà bị con thuồng luồng cái nuốt dần vào bụng. Bấy giờ bà mới ngẩng mặt lên trời ca thán:

- Trời ơi! Người ta sinh con mong để cậy nhờ, còn tôi có con mà cũng như không thế này!
Lời bà mẹ thấu tới trời. Bỗng người con từ trên mây cao xanh sà xuống. Thế nhưng thuồng luồng đã nuốt mẹ thần vào bụng. Chàng căm giật đứng choại chân sang bên bờ sông, lưng gập xuống, đưa hai tay khoắng nước từ ngã ba Bạch Hạc đến ngã ba Tuần Vường. Vợ chồng thuồng luồng thấy có bàn cào khổng lồ, cào đi quét lại ở lòng sông, sóng nổi dữ dội, bùn sục đỏ ngầu thì lẩn lách tìm chỗ dấu thân. Chàng trai đã kịp tóm cổ nó mang lên bờ, vuốt ngược bụng con thuồng luồng cái lấy xác mẹ ra. Sau đó, chàng đưa cả hai con thủy quái xuống lòng bàn chân nhấn sâu xuống bùn đen.

Chàng trai táng mẹ vào lòng bàn tay để “mẫu bất ly thân”. Xong đâu đấy, chàng bước lên bãi ven sông rồi bay về trời. Sau này, dòng sông Hồng từ ngã ba Bạch Hạc đến ngã ba Tuần Vường không còn gặp thuồng luồng quấy nhiễu nữa. Bến sông làng Dấp để lại ba dấu chân lõm sâu xuống đất. Chỗ vết chân cuối chàng “xung thiên” hóa dân lập đền chính, còn hai vết chân kia dân lập miếu thờ. Làng Dấp có tên gọi là xã Bộ Đầu (nghĩa là bước chân) vì lẽ đó. Chàng trai hóa thần có tên là Huyền Thiên đại thánh thiên vương (có sách gọi là Ứng Thiên).

Truyền rằng, thời thánh tổ Triết vương Trịnh Tùng (1570 – 1623) đem quân đi đánh nhà Mạc. Khi thuyền qua đền Bộ Đầu, Trịnh Tùng có lên khẩn xin thần linh phù trợ. Dẹp loạn xong, Trịnh Tùng mộng một người cao lớn tới xưng công bèn sai thợ tu sửa đền thờ, cho tạc một pho tượng thánh bằng gỗ cao đến 21 thước ta (khoảng 8.4 mét), chân đạp lên đầu con thuồng luồng. Sách Công dư tiệp ký chép tạc tượng thần cao 3 trượng 6 thước (khoảng 14.4 mét). Hàng năm vào ngày 19 tháng 9 âm lịch, sau kỳ lũ cuối sông Hồng, dân mở đại hội tế thần, tương truyền là ngày hóa của Đức Thiên vương.

Câu chuyện kể trên phản ánh cuộc đấu tranh quyết liệt của cư dân Việt, gian lao vất vả chinh phục đồng lầy Bắc Bộ đồng thời phản ánh quan niệm đạo đức của nhân dân về người anh hùng dân tộc, cũng như tình mẫu tử thấu tới trời xanh.

Như chúng ta đã biết, ở thời Hùng Vương, các cư dân Lạc Việt buổi đầu từ miền trung du tràn xuống đồng bằng đã phải đấu tranh rất gian nan với tự nhiên để sinh tồn. Những truyền thuyết buổi đầu dựng nước đã phản ánh phần nào điều đó. Kẻ thù mà nhân dân phải đương đầu là Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh…cũng như thú dữ ở trên cạn, thủy quái ở dưới nước đã gây cho họ biết bao khó khăn. Có thể một người mẹ nào đó ở bến Dấp kia đã bị thủy quái bắt. Thương xót mẹ nên người con trai mưu trí và dũng cảm đã tìm ra cách diệt thủy quái. Từ hiện thực lịch sử đó kết hợp với dấu tích ao đầm ven sông có hình thù lạ dần dần câu chuyện qua trí tưởng tượng được hư cấu đồng nhất với mẩu chuyện thần thoại thời tiền sử ca ngợi chiến công diệt thủy quái của người khổng lồ có tên là ông Đùng, một nhân vật có nhiều chiến công trong việc khai thiên lập địa, diệt đại bàng, rời núi ngăn sông,… Người khổng lồ đã nhập vào chàng trai làng Dấp và hệ quả là ra đời sản phẩm tinh thần dung nạp nhiều ý nghĩa và phản ánh ý thức hệ thời phong kiến mà điều cốt yếu là trung và hiếu. Phù trợ giúp vua dẹp loạn. Trừ họa thủy quái cho dân làng ấy là vị thần có nghĩa. Cứu giúp mẹ lúc nguy nan ấy là vị thần có hiếu.

Con đường hình thành câu chuyện như trên trải qua nhiều thời kỳ, trầm tích nhiều lớp văn hóa. Từ chỗ thờ thần tự nhiên (thờ dấu chân ông Đùng), tiếp đến thờ ông Đùng, sau là đồng nhất ông Đùng với chàng trai làng Dấp. Cũng có sách viết rằng đền thờ đức Thánh Gióng với những nét tương đồng với chuyện về Thánh Gióng ở Sóc Sơn.

Ngày 6 tháng 2 năm 1979 đền Bộ Đầu được Ủy ban nhân dân tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử. Hội đền cũng được mở lại từ năm đó và làng đặt lệ chính hội vào mùa xuân, ngày 8 tháng Giêng, tương truyền là ngày sinh của Đức thánh.

Hội chú ý phát triển những hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống ở địa phương mà điểm đặc sắc nhất, hấp dẫn nhất là múa gậy.

Hầu hết các trai đinh của làng dự hội đều tham dự múa gậy. Gậy múa là đoạn tre dài 2.5 mét đến 2.8 mét. Tay cầm ôm nửa vòng thân gậy để lỡ đối phương có đánh róc mía gậy trượt trên mặt thân tre không và vào ngón tay người đỡ. Gậy trang trí thành từng vòng xanh, đỏ, trắng trong đẹp mắt.

Đầu tiên từng cặp chàng trai đầu quấn khăn rìu, eo thắt dải đỏ, chân buộc xà cạp ra đứng chống gậy trước cửa đền. Khi có hiệu lệnh họ cùng dùng chân đá gậy tung lên, tay đón gậy múa đi ra, rồi lại múa vào. Ba lần múa vòng tròn chào thần, chào người xem. Sau đó thao diễn các bài cơ bản, người múa càng đông càng tốt, cây gậy xoắn tít trên tay.

Các bài múa được diễn như sau:
- Múa vớt: Bước lên ba bước, lùi ba bước. Tay gậy đưa hớt trước mặt
- Múa ráo đất: Tay cầm gậy giơ phía trước đưa vào nách quay người lại phía sau
- Múa vắt khăn: Đưa gậy xuống ba lần rồi chuyển gậy ra sau gáy, vào thế đưa gậy ra đỡ
- Múa quét chợ: Đưa gậy lùa qua đầu, đánh gậy quét qua chân. Đối phương nhận hiệu lệnh báo đánh phải nhảy lên
- Múa đánh lá lật: Múa tròn gậy trên đầu, đánh gậy xuống, quay 180 độ đánh thuận, đánh nghịch từ trái sang phải. Đây là bài khó nhất.

Nhìn chung, trong quá trình thao diễn, mọi người múa các bài cơ bản từ đơn giản đến phức tạp. Thao diễn xong các tay gậy thăm thử tài trí của nhau để vào đấu. Lúc đầu được vận dụng tất cả các bài cơ bản nhưng cấm chọc táo (chọc ngược gậy), quét chợ phải làm hiệu gậy báo trước, cấm bất thình lình đánh bổ thượng. Người thua là do đỡ không kín, không phán đoán nổi ý đồ của đối phương bị gậy dính người hoặc đỡ không chắc bị rơi gậy khỏi tay.

Tay gậy nào thắng liền ba hiệp sẽ đứng giữa chủ gậy. Người nào phá thắng hai hiệp coi là được cuộc. Người giữ gậy đến hết buổi hội quy định không ai phá nổi là người giật giải.

Múa gậy ở hội đền Bộ Đầu là một trò diễn hay, độc đáo, hấp dẫn có truyền thống lâu đời và trò diễn giữ vai trò chủ đạo của ngày hội nêu cao tinh thần thượng võ ở địa phương.

Đến ngày hội đền Bộ Đầu du khách có dịp thưởng ngoạn phong cảnh vùng đất bãi ven sông Hồng. Đi lên mặt đê cao 8 đến 9 mét như đi trên lưng một con rồng đất. Bên này nước sông Hồng mùa xuân lắng trong lặng lẽ, như con tàu kéo một đoàn xà lan dài ngược Hà Nội. Còn sát chân đê kia là đình làng Thượng Giáp với kiến trúc nghệ thuật đậm phong cách thời Nguyễn. Từ mặt đê chính theo con đường thẳng, mịn đất phù sa bồi, dẫn ta vào đền. Giữa một vùng đất xanh màu cây lá, nổi lên rõ nhất là cây gạo có đến mấy trăm tuổi, to đến mấy người ôm, ngọn vươn cao chừng 40 đến 50 mét, cành lên mốc trắng, rậm rì những bụi tầm gửi treo lơ lửng trời. Trước đây vườn đền có tên là Ổ Gà. Tên ấy là do một lần quạ tha gà chẳng may để mồi rơi xuống. Con gà thoát chết lúc cúc kiếm ăn. Lớn lên gà sinh con đẻ cái thành một họ nhà gà mấy chục con. Xa xưa bãi Ổ Gà chỉ có quán thờ lộ thiên bên một vũng nhỏ hình tựa vết chân người khổng lồ.

Hiện nay đền phân thành hai phần, phần trước: 5 gian nhà tiền tế rộng rãi xây theo hình chữ nhật, trông về hướng bắc. Trong nhà có chạm đại tự chữ Hán “Thiên nhân” (người trời), nổi bật nhất là bức hoành phi sơn son thiếp vàng “xung thiên hộ quốc” (bay thẳng lên trời giúp nước). Ở gian giữa ngôi nhà tiền tế vút lên 4 cột đá lớn cao tầm 6 đến 7 mét, đường kính 0.3 mét, đỡ lấy mái. Cột là khối đá nguyên, thân chạm nổi các mẫu hoa văn thời Nguyễn. Khi dựng cột làng phải bắc giáo dùng dây treo cột kéo người lên.

Phần trước của đền: 5 gian nhà tiền tế. Ảnh: Diệu Linh

Hậu cung. Ảnh: Diệu Linh


Phần sau là hậu cung. Vào đó ta bất chợt gặp một bức tượng to cao đứng uy nghi choán hết cả gian nhà. Đấy là tượng thiên vương. Tượng tạc thế đứng thẳng cao khoảng 5.5 mét, bờ vai rộng 1.5 mét, đầu đội mũ tướng giữa có mặt nguyệt, mặc áo dài kiểu võ tướng chạm nổi hoa văn mây có mặt hổ phù ở đai lưng, chân đi hia dẫm lên hai con thuồng luồng rắn, mắt cá, chân chim mình trăn. Tay phải nâng long đao trên hai thắt lưng, lưỡi đao đưa thẳng phía trước. Sắc mặt thiên vương trắng hồng, miệng hơi ngậm. Mắt nhìn thẳng, mở to.
 

Tượng Thiên vương đền Bộ Đầu. Ảnh: Diệu Linh
 

Bức tượng thể hiện trạng thái giận dữ của thiên vương đối với thủy quái đã hại mẹ mình, đồng thời cũng thể hiện tâm trạng nuối tiếc của thiên vương khi không kịp cứu mẹ. Tầm cỡ to lớn của bức tượng thần nói lên khát vọng của người xưa mong cái thiện có sức mạnh vô song đè bẹp thế lực ác bá đe dọa cuộc sống của con người.

Ngôi đền hiện nay làng đã đại tu vào năm Bính Ngọ (1906). Kiến trúc trước đây gồm nhà tiền tế 5 gian, gian giữa chồng diềm 8 mái để chuông đồng. Hậu cung 2 tầng. Tầng trên ba bề ghép kính. Dân chúng đi trên đê sông Hồng đều nhìn thấy mặt thiên vuông nhô lên ở tầng lầu. Do hậu cung hư nặng tượng thánh đã phải tạc đắp lại so với tượng trước thấp đi nhiều. Hậu cung đền Bộ Đầu còn trưng bày 8 tượng kim cương độc đáo chạm mũ áo tướng cao từ 2.9 mét đến 3.1 mét, mỗi vị một vẻ không vị nào giống vị nào. Bốn vị đứng bên trái tượng Huyền thiên đại thánh là: Thánh trừ tai kim cương, Trừ độc thần kim cương, Bạch tinh thủy kim cương, Hoàng trùng cầu kim cương. Bốn vị đứng bên phải tượng thiên vương là: Xích thanh hỏa kim cương, Định trừ tai kim cương, Tử hiền cầu kim cương, và Đạo thần thông kim cương. Tám vị kim cương có nhiệm vụ diệt ác phục thiện, bảo vệ điều tốt lành của con người. Sự có mặt của 8 bức tượng trên đã giúp cho chúng ta hiểu rõ thêm tài năng nghệ thuật của các nghệ sĩ dân gian thời trước.



 
8 vị kim cương hai bên tả - hữu của tượng thiên vương. Ảnh: Diệu Linh
 

Thời kỳ chống Pháp xâm lược quân dân ta đã lập một chiến công oanh liệt ngay tại đền. Đêm đầu hè năm 1947 lính Âu Phi của Pháp hành quân từ Hà Nội theo đê sông Hồng về phía nam lấy đền làm điểm trú quân. Nhận được tin của trinh sát, một đơn vị bộ đội đã hành quân trong đêm mưa kịp đến tập kích. Các anh cởi trần, buộc khăn bông trắng ở cổ tay, cầm dao và mã tấu đột nhập vào diệt ngay tên lính gác. Sau đó, vào nhà lần từng thằng đang ngủ diệt tiếp. Khi lộ, bộ đội ta rút êm ra. Sớm hôm sau dân chúng cho biết có thới 35 bao bì đựng xác giặc chuyển về Hà Nội. Kẻ thù bị đòn kinh hoàng không dám dừng quân lâu ở đền Bộ Đầu.

Du khách về nơi đây, giữa cái mới, cái đẹp của ngày hôm nay sẽ bắt gặp sinh khí của người xưa trên mảnh đất lịch sử này.

(Theo Sương Mai-Thăng Long Hà Nội)

Bài liên quan:

BÙI THỊ DUNG - QUỐC MẪU VĂN LANG ĐỜI HÙNG VƯƠNG THỨ 6

THÁNH MẪU BÙI THỊ DUNG, CHỨNG TÍCH VỀ SỰ SINH SỐNG CỦA HỌ BÙI CÁCH ĐÂY 3500 NĂM Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

NÉT ĐẶC BIỆT TRONG HỘI GIÓNG Ở ĐÔNG BỘ ĐẦU

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 5
  • 486
  • 2,067,565