Diễn ca CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP THƯỢNG THƯ QUẬN CÔNG BÙI KHẮC NHẤT

  14/02/2017

Đền thờ Thượng thư, Quận công Bùi Khắc Nhất tại xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa - Ảnh: Bùi Mạnh Quỳnh

Toàn cảnh lăng mộ Thượng thư, Quận công Bùi Khắc Nhất tại xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa - Ảnh: Bùi Mạnh Quỳnh

DIỄN CA TIẾN TỚI KỶ NIỆM 400 NĂM NGÀY MẤT THƯỢNG THƯ QUẬN CÔNG BÙI KHẮC NHẤT 1609 – 2009

Biên tập:        Bùi Anh Thư

Chủ biên:       Bùi Khắc Dự

Bốn trăm năm đã đi qua (1609-2009)

Ơn Người xây đắp vường hoa cho đời

Gương Bùi Khắc Nhất sáng ngời

Công thần Thượng đẳng nhờ nơi miếu đường (1)

Tài võ nghệ, giỏi văn chương

Quan dân kính phục, Triều đường sắc khen

Khéo cho chí vững gan bền

Mặc oan uẩn khúc vẫn tình thuỷ chung

Trăm nguy biến một chữ Tâm

Dành cho đất nước, quê hương cuộc đời

Phong ba bão táp tơi bời

Tam chiều(2), lục bộ(3) trọn đời hiếu trung

Thiên thời, địa nhuận âm dương

Trong căn nhà ấm tình thương xum vì

Mẹ là bà Đỗ Thị Sy (mất sớm)

Đẹp người, chăm chỉ, nhu mì nết na

Cụ Bùi Doãn Hiệp là cha

Giám sinh vợ mất cảnh nhà đơn côi

Các em gồm có bốn người

Khắc Hưởng, Khắc Vĩnh hai thời nữ nhi

Sống cùng Kế mẫu trọn bề

Giữa cơn bão táp lâm ly trường đời

May sao tạo hoá cơ thời

Bơ vơ đất khách gặp người trung trinh

Phú ông Mai Thầm (4) cảm tình

Vời gia đình Cụ vào dinh ở nhờ

Cụ Doãn giúp dạy văn thơ

Cho tôn, cho tử đời chờ kinh thi

Trăm ơn nghĩa, vạn bù trì

Khó khăn giảm bớt lại bề thảm bi

Song thân chầu tổ yên quy

Quê người côi cút trở về quê hương

Thám hoa Sư lộ(5) mến thương

Gả con gái Cụ tạo đường tiến thân

Vợ chồng rau cháo, cơm suông

Đói no cam chịu thuận đường dưới trên

Cảm tài dạ sáng, chí bền

Phú ông tâm đắc cấp thêm nhu cầu

Cho thêm ruộng đất vườn, trâu

Công thầy dạy chữ cơ hầu trả ơn

Nhớ Người nâng đỡ như con

Khó khăn tủi cực đã dần diệu vơi

Cùng em sớm tối chẳng lơi

Trau dồi thi phú, truốt bài kinh luân

Phúc nhà như được định phần

Trung hưng thi cử kén Thần chọn Tôi

Tin mừng loan đến tận nơi

Một nhà đã đậu hai người cùng khoa(6)

Hiệu sinh đắc cử phủ nhà

Tiếp mài văn sử để ra đua tài

Hết bĩ cực, đến thái lai

Bốn lần ứng thí đỗ đài hiển vinh

Đệ nhất chế khoa, nhị danh(7)

Dân làng Bột Thái(8) tiếp nghênh rước mừng

Hết vinh quy đáo triều đình

Vào dinh chức cán sự hình tả lang­(9)

Hàn lâm viện hiệu lý(10) quan

Tinh hoa phát tiết vững vàng công danh

Sơn đức độ, hải trung thành

Thanh liêm, chính trực, nhiệt tình, tinh thông

Thương người, độ lượng chí công

Trải nhiều chức trọng ở trong Dinh triều

Trên vua quý, dưới quan yêu

Càng tăng sức hiến, lập nhiều chiến công

Từ biên ải, đến cảng sông­­(11)

Lấp đá, đóng cọc phòng ngăn chặn thù

Khi Triều chính, lúc chiến khu

Đêm ngày phò Chúa, dẹp thù không ngơi

Cờ vàng, lọng tía một thời

Bỗng dưng có kẻ hại người luỵ oan­(12)

Hhai năm bãi chức việc quan

Võ vàng thân hạc, tóc mang luỵ sầu

Trúc mai thanh bạch dãi dầu

Cao xanh hỡi biết công hầu oan khiên

Thượng hoàng chẳng phụ Tôi hiền

Cuối đông Kỷ sửu(1589) trát truyền vời ra

Trên việc nước, dưới việc nhà

Làm thiêm sự viện điệu là huy văn(13)

Truyền thư phú sử kinh luân

Cho tôn tử với công thần triều gia

Thái hanh vận nở muôn hoa

Bao năm mài sắt nay đà thành kim

Mười sáu tháng tám Nhâm thìn­(1592)

Vua ban áo mũ nhận nguyên chức Triều

Phố Châu hợp ngọc Lam kiều

Bao nhiêu cơ cực bấy nhiêu rỡ ràng

Tài năng toả ánh hào quang

Chức Công bộ hữu thị lang “tiến triều”­(14)

Thanh danh tựa gió gặp diều

Bốn tư năm kế nhậm nhiều chức quan

Khi văn, khi võ vẹn toàn

Dẹp giặc, đi sứ, chẳng sờn gian nan

Khi Thừa chánh sứ Nghệ An­(1594)

Lúc lâm cung đón Thượng hoàng về kinh­(1593)

Khi việc ngục dân xưng bình

“Mệnh dân chi trọng, pháp hình vô tư”

Lúc làm giám thí trường thi(1575-1580)

Chọn nhân tài giỏi chẳng hề lợi riêng

Khi tuyển, duyệt, định ngạch binh­(1578-1579)

Lúc kiêm Ký lục chính doanh của Triều

Việc mệt mỏi chí chẳng xiêu

Đại thần nghĩa khí có nhiều công lao(16)

Cùng thần vững khí anh hào

Rước vua ngự giá lánh vào thành Nam(1600)

Sắc phong đủ tám chữ vàng:

“Kiệt tiết tuyên lực - Hiệp miêu tả lý”

Bậc nhị công thần Trung hưng(17)

Thượng thư Bộ Hộ, Bộ Binh

Tước văn phú bá phong thành Quận công

Cả nhà hưởng lộc Long ân(18)

Vườn hồng toả ngát hương lừng khắp nơi

Xuân, lan, thu, cúc đương thời

Bỗng đâu chớp giật, sấm trời, mưa giăng

Người đi về cõi vĩnh hằng(1609)

Trời đông sùi sụt, mảng trăng mơ màng

Triều đình dãi trắng khăn tang

Con cháu thương tiếc, dân làng lệ rơi

Bảy mươi bảy xuân - cuộc đời

Trụ quốc thượng trật rạng ngời sử xanh

Đại vương chức vị sáng danh

Bia Quốc Tử Giám(19) khắc tên bảng vàng

Triều đình phong tặng Thành Hoàng

Thờ cùng võ tướng công thần Nguyễn Tuyên(20)

Ba trăm năm sau không quên

Các Triều hậu thế vẫn truyền truy phong(1609-1924)

Thiết nghĩ người có tổ tông

Không biết kính trọng thì không nên người

Dòng Tông quý hiển(21) sáng ngời

Cùng nhau nối chí giống nòi hùng oanh

Phúc thêm đỏ, đức thêm xanh

Cội nguồn một gốc lắm cành nhiều bông

Chẳng màng gác tía, lầu son

Chỉ để phúc, đức cháu con ghi lòng

Thành kính ký lại đôi dòng

Thân thế, sự nghiệp Tướng công thuở nào

Để con cháu thấy tự hào

Đề cao trách nhiệm nhắc nhau giữ gìn

Để ghi nhớ mãi đừng quên

Để cùng gắng sức đáp đền Tổ tông

Ngày tám tháng mười một âm

Là ngày kỵ của tướng công Thượng Bùi

Dù đi xa ở khắp nơi

Bốn trăm năm nhớ dâng lời kính ơn­

 

(1)         Miếu đệ ngũ nay là nhà thờ tổ họ Bùi, xã Hoằng Lộc - Hoằng Hoá – Thanh Hoá

(2)         Triều vua Lê Anh Tông, (1557 - 1573), Lê Thế Tông (1573 - 1599), Lê Kính Tông (1600 - 1619);

(3)         Bộ binh làm Thượng thư, Bộ hộ làm Thượng thư, Bộ công: Tả thị lang, Bộ lễ: giám thính các trường thi, Bộ hình: Tả, hữu thị lang, Bộ lại: lại khoa đô cấp sự trung;

(4)         Phú ông Mai Thầm quê ở thôn Lý, xã Hương Căn, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghệ An;

(5)         Người ngồi trên tảng đá bên cạnh đường dạy học, cũng là bố vợ - quê xã Hoằng Lộc

(6)         Cùng em là Bùi Khắc Hưởng đi thi đều đậu tam trường. Cả hai cùng đỗ Tam khôi – Sinh đồ

(7)         Chế khoa khoá thi đặc biệt chọn lấy người tài giỏi, khác với khoa thi đã có lệ sẵn và Cụ đỗ đứng thứ 2

(8)         Bột Thái, nay là xã Hoằng Lộc, Hoằng Hoá, Thanh Hoá

(9)         Hàm tòng thất phẩm

(10)    Phụng mệnh khởi thảo các bài chế biểu, thơ ca, văn thơ của vua và xem xét các chức cung phụ trong Triều đình nếu thấy chưa hợp lệ được làm tờ trình cấp trên

(11)    Cảng Nga Sơn, Lạng Trường đều ở Thanh Hoá

(12)    Chuyện xảy ra vào năm 1572, Trịnh Bách mưu hại Trịnh Tùng, chôn mộ cha vào đất cấm, việc phát giác bị xử giảo, 16 vị công thần trong Triều đều bị tình nghi liên quan

(13)    Hàm chánh ngũ phẩm ngồi dạy học cho các công tử ở Dinh

(14)    Vì cụ Bùi Khắc Nhất đỗ Bảng nhãn và kinh qua nhiều chức vụ, trọng trách. Do bị bãi chức sau lại được lục dụng và được triều thần bầu cử nên gọi là Tiến triều

(15)    Cụ là Võ chính kỳ mục cùng Phùng Khắc Khoan văn chính kỳ mục đi sứ báo công thắng giặc và đàm thoại với nhà Minh công nhận vua Lê

(16)    Lời chế của Vua Thuận Đức (1599)

(17)    Năm Thái Bảo thứ tư 1723 xét công thần, Cụ được xếp là công thần trung hưng bậc hai

(18)    Ông và cha đều được phong Hầu, bà và mẹ đều được phong Chánh phu nhân, vợ được phong Quận phu nhân, con trưởng được phong Triệu liệt đại phu, cháu trưởng được phong Hiền cung đại phu

(19)    Bia số 12 đề tên chế khoa Kỷ sửu niên hiệu chính trị thứ 8 (1564) đặt tại Văn miếu Quốc tử giám, Hà Nội

(20)    Là công thần đời Lý, có công giúp vua Lê Thái Tông đánh Chiêm thành, sau khi mất được sắc phong Dương cảnh thành hoàng, Thượng đẳng phúc thần đại vương thờ tại Bảng môn đình, xã Hoàng Lộc, Hoàng Hoá, Thanh Hoá

(21)    Lời Lê Quý Đôn “Bầy tôi kế thế, tộc thuộc lớn lao, nói đến nhà quý hiển nhất, chỉ có họ Bùi mà thôi”

Viết theo gia phả họ Bùi (Bùi tộc phả) do ông Nguyễn Đức Phổ dịch từ Hán ra tiếng Việt và các bài viết của Phó Viện trưởng, TS Trần Hữu Đính, PGS TS sử học Đỗ Văn Ninh, Ts Nguyễn Đức Nhuệ, Pgs Bùi Khắc Việt, nguyên giám đốc sở VHTT Thanh Hoá Nguyễn Huy Sanh.

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 6
  • 3259
  • 2,044,034