Độc đáo đình trong chợ

  25/01/2017
 
Thuỷ Đình-Chúc SơnThuỷ Đình-Chúc Sơn

Theo gia phả của dòng họ Bùi ở Chúc Sơn và các sắc phong, hoành phi, câu đối… hay truyền thuyết của nhân dân trong huyện cùng ý kiến của một số nhà nghiên cứu về cụ tổ các làng nghề ở Việt Nam thì đình Chợ Chúc Sơn thờ Đức Tôn Thần Bùi Quận Công - một võ quan cao cấp của triều Tiền Lê, người có công mở chợ, khai sinh việc buôn bán ở vùng Chương Mỹ từ thế kỷ thứ X.

Tri ân người mở chợ, khai thương

Bùi Nghiêm Phổ là một vị quan thời Tiền Lê. Với trí thông minh và sức khỏe hơn người, ông phò Lê Hoàn phá Tống, bình Chiêm giữ yên bờ cõi, được phong tước Quận Công nên nhân dân thường gọi là Quận Công. Khi từ giã chốn quan trường, ông đã đem ba mẫu đất được nhà vua ban tặng ra mở chợ cho dân buôn bán, trao đổi, sinh sống. Chợ Chúc Sơn có từ đó. Trải qua hàng chục thế kỷ, với biết bao thăng trầm của lịch sử, chợ vẫn ở vị trí ngày nay và ngày càng sầm uất, sôi động với đủ các mặt hàng. Để tưởng nhớ công lao của ông, sau khi ông mất, dân làng đã lập ngôi đình trên đất chợ phụng thờ. Cách gọi đình Chợ hay đình Thị cũng xuất phát từ lý do này. Ngoài đình Chợ, người dân còn xây lăng tẩm thờ ông cùng vợ và hai bậc thân sinh. Khu lăng được xây cách đình khoảng 1km. 

Hàng năm, đình Chợ là nơi diễn ra hai lễ hội lớn của dân làng. Ngày 5 tháng Giêng là lễ hội khai xuân với các nghi thức truyền thống như mở cửa đình, cắm cờ,đặc biệt, không thể thiếu các cuộc đấu vật, đánh roiSau lễ hội khai xuân là lễ ngày bảo kỵ (tưởng nhớ ngày mất của Quận Công và người vợ) diễn ra từ 21 đến 23 tháng Hai âm lịch với rất nhiều nghi thức tế lễ. Hai dịp lễ này, vừa là để mừng xuân, vừa là để tri ân người đem lộc vua mở chợ cho dân được nhờ. 

Độc đáo đình trong chợ

Ông Bùi Bá Thái, năm nay 79 tuổi, đã gần 20 năm giữ từ ở đây rất tự hào vì mình là một trong số hậu duệ của ông Tổ mở chợ: “Đây có lẽ là ngôi đình duy nhất được xây trong khuôn viên một chợ lớn, một khu vực đông dân, thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu buôn bán”. Nhưng không phải vì vậy mà cổ nhân không tính đến việc tôn nghiêm của công trình vốn được xây dựng để tôn thờ một người có công với dân với nước. Đối với ông Thái và dân làng, việc giữ gìn những di vật trong đình cũng là cách để tưởng nhớ công ơn và gìn giữ giá trị văn hóa cho con cháu. 

Nhìn tổng thể, đình Chợ ba bề là chợ, phía trước là đường làng, cổng đình cũng là cổng chợ, cổng làng. Đình được kiến trúc theo kiểu chữ nhị, gồm các lớp đại bái, tiền tế và hậu cung. Để tạo không gian thoáng mát cho người đi lại mua bán, người xưa đã để trống ba phía theo kiểu toà thiêu hương của các ngôi đình làng. Đại bái đình Chợ được người xưa kiến trúc thiên về bền vững với hệ thống 18 cột cái, cột quân phần lớn bằng đá liền khối, xẻ vuông vức, soi gờ kẻ chỉ bốn phía cao từ 1,8m (cột quân) đến 2,1m (cột cái). Giữa Đại bái có một bệ thờ, trên bệ thờ là bức hoành phi lớn chạm nổi 4 chữ “Lợi trạch cập dân” (Lợi ích nhuần tới muôn dân) thể hiện sự ghi nhớ công lao của Bùi Nghiêm Phổ.

Nếu như sân đình và đại bái ồn ào hòa nhập với cuộc sống đời thường thì Tiền tế được chia làm 3 gian, cấu trúc vì kèo theo lối chồng rường, phía trước có bốn hàng chân cột đá xẻ vuông vức, khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán. Đình vẫn giữ được mái ngói ri cổ, hai đầu dốc của tòa Tiền tế được đắp nổi hổ phù. Trên hương án là bức đại tự sơn thiếp vàng “Vạn thế vĩnh lại” (Muôn đời nhớ mãi). Tiếp theo Tiền tế là Hậu cung, nơi tôn nghiêm nhất của đình Chợ. Tòa Hậu cung được xây làm hai ban, Thượng và Hạ. Ban Thượng được bố trí long ngai, bài vị thờ Thành hoàng do triều Lê ghi tặng. Mỗi cột đá hay hoành phi đều có câu đối thể hiện lòng ghi nhớ công lao của vị quan hết lòng vì dân.

Giữ đình cho hậu thế

Với những giá trị về mặt văn hóa và lịch sử, đình Chợ từ xưa vẫn là nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa. Dưới thời phong kiến, đình đã được các triều vua ban sắc phong thần và lệnh cho dân làng thờ tự lâu dài. Trải qua hơn chục thế kỷ, đến nay đình Chợ vẫn còn lưu giữ được nhiều di vật quý như: long ngai bài vị, đạo sắc phong thời Nguyễn, các di vật trong bát bảo… Đình Chợ đã từng trải qua những cuộc tu bổ lớn vào thời Hậu Lê vàthời Nguyễn. Sự bào mòn của thời gian cùng những tác động của con người đã khiến cho nhiều hạng mục bị xuống cấp nghiêm trọng. Hiện chỉ còn 8 chiếc cột đá nhưng các cột này cũng đã có dấu hiệu xuống cấp, sứt mẻ. Năm 1960, Đại bái bị đổ sập. Trước đây từ bậc cao nhất của Tiền tế bước xuống sân đình phải mất 5 bậc, nhưng qua những lần tôn tạo, đôn nền sân, nay chỉ còn một bậc. Mái ngói trong đình cũng xuống cấp nghiêm trọng. Các cụ cao tuổi ở đây mong đình được bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cho hậu thế.

(Theo Thùy Tươi-Báo Kinh tế và đô thị)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 9
  • 2416
  • 1,537,372