ĐÔI ĐIỀU NÓI THÊM VỀ THƠ CHỮ HÁN CỦA BÙI DƯƠNG LỊCH

  06/02/2017

 “Lưỡng nguyên từ”, thờ nhà văn hoá Bùi Dương Lịch, di tích lịch sử-văn hoá quốc gia (thôn Hội Đông)

Bùi Dương Lịch (1757 - 1828), tự là Tồn Thành, hiệu là Thạch Phủ và Tồn Trai, người thôn Yên Hội, xã Yên Đồng, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Châu Phong, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh).

Ông là một nhà văn hóa lớn không chỉ của Hà Tĩnh mà còn là một danh nhân văn hóa của nước ta thời cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.

Từ trước đến nay, Bùi Dương Lịch được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến với danh nghĩa là một nhà khoa học, nhà giáo qua các tác phẩm rất nổi tiếng của ông như Nghệ An ký, Yên Hội thôn chí, Lê quý dật sử, Bùi gia huấn hài… Hầu hết các tác phẩm có giá trị học thuật cao của Bùi Dương Lịch đều đã được các nhà khoa học ngày nay lần lượt dịch và giới thiệu với bạn đọc. Tuy vậy, vẫn còn một phần trước tác của Bùi Dương Lịch cho đến nay vẫn chưa được khai thác và giới thiệu hết, đó là các tác phẩm thơ chữ Hán của ông.

Thơ văn của Bùi Dương Lịch hiện còn lại mà chúng ta được biết có:

1. Ốc lậu thoại

Bùi Tồn Trai soạn: 2 bản viết, 1 dẫn

Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm 

VHv. 89; VHv. 233/1, VHb. 233/2

Nội dung bao gồm:

Thơ văn của Bùi Dương Lịch: thơ mừng thi đậu, mừng thắng trận, nghe sấm, vịnh Cố đạo Tây, vịnh Hà Nội thất thủ, vịnh gàu tát nước, chùa Thầy, cửa Hàm Tử, Khổng Tử, Văn Thiên Tường… Bài từ răn sĩ tử… Bài thuyết nói về việc bắt chuồn chuồn, đạo Phật… Bài Bạt viết cho tập “Thu Dương lục”. Bài ký nói về chùa Phác Đình và phong thổ tỉnh Nghệ An. Bài luận bàn về đạo Trời, đạo Phật, thuật phong thủy… Bài trướng mừng thọ.

2. Bùi Tồn Trai liên văn

Bùi Dương Lịch hiệu Tồn Trai soạn: 1 bản viết

Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm VHv. 88

Nội dung bao gồm:

Hơn 700 đôi câu đối đề ở đền, miếu, đình, chùa, cung thành… tại các thôn, xã, tổng, huyện, trấn quê hương Bùi Dương Lịch. Văn tế, sớ, kệ, thơ dùng trong khi cúng tế hoặc thăm viếng.

3. Tồn Trai thi tập

Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm - A445

Có một số bài thơ của Bùi Dương Lịch chép lẫn lộn cùng với thơ văn của nhiều người, nhưng lại đề tên Bùi Dương Lịch.

(Theo Nguyễn Thị Thảo và Bạch Hào: Bùi Dương Lịch và sách Nghệ An ký - Nghệ An ký,Nxb. KHXH, H. 1993).

4. Thơ Bùi Dương Lịch

Võ Hồng Huy sưu tầm, phiên dịch, biên soạn

GS. Phan Văn Các giới thiệu

Thư viện tỉnh Hà Tĩnh 1996

Gồm 52 bài thơ vịnh cảnh, thơ vịnh phong thổ và thơ tức sự của Bùi Dương Lịch.

Như vậy, xét về số lượng mà nói, thơ chữ Hán của Bùi Dương Lịch có thể nói là rất nhiều, chiếm một phần rất đáng kể trong toàn bộ các trước tác của ông. Chưa kể đến các bài thơ rải rác trong các tác phẩm Lê quý dật sử, Nghệ An ký, Bùi Tồn Trai liên văn, Tồn Trai thi tập… chỉ tính riêng trong cuốn Ốc lậu thoại thôi, ở các bản sách chúng ta còn giữ lại được ngày nay (bản VHv. 89, VHb. 233/1 VHv. 233/2 - Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm) đã có khoảng 400 bài thơ chữ Hán.

Thơ chữ Hán của Bùi Dương Lịch bao gồm nhiều loại, có thơ vịnh cảnh, thơ phong thổ, thơ tức sự (Võ Hồng Huy: Thơ Bùi Dương Lịch)… nhưng đều tập trung thể hiện tình yêu non sông đất nước, tư tưởng triết học uyên bác và những nỗi niềm tâm sự về thời đại và con người của ông.

Đọc thơ chữ Hán của Bùi Dương Lịch, chúng ta có thể thấy được:

1. Những quan điểm về lịch sử, chính trị, xã hội và nỗi niềm tâm sự của ông về thời đại và con người

Trong mấy bài thơ đề vịnh Bá Di - Thúc Tề, vịnh Văn Thiên Tường, Bùi Dương Lịch nhằm ca ngợi công đức của những người này. Từ đó cũng cho ta biết quan niệm của ông về lẽ sống, sự trung tín tiết nghĩa. Ông viết:

“Cho việc ăn rau vi của nhà Chu làm xấu hổ mà chết đói ở núi Thú Dương. Danh tiết lẫm liệt truyền từ đời xưa đến nay. Nếu bảo núi ấy là của nhà Chu, thì Di Tề bấy giờ cũng khó mà tìm được chỗ chết”(1).

Bài thơ cũng nhằm biện hộ cho tâm sự, tư tưởng của Bùi Dương Lịch sau khi nhà Lê mất, buộc phải về ở ẩn, rồi lại sống với nhà Tây Sơn là một thực tế chua xót, trong khi lòng ông vẫn nặng tình với nhà Lê.

Với Văn Thiên Tường - một danh tướng của nhà Tống, cầm quân chống lại quân xâm lược Nguyên nhưng bị thua trận do thế yếu, bị quân Nguyên bát giam ở Yên Kinh 3 năm. Vua Nguyên Thế tỏ rất khâm phục, cho người dụ ông ra hàng nhưng ông nhất định không chịu, cuối cùng bị giết. Khi bị giam trong ngục, Văn Thiên Tường có làm bài “Chính khí ca” đề tỏ rõ chí mình - Bùi Dương Lịch lại cho đó là người:

“Thung dung đi đúng phận và nghĩa, giữ vững cương thường”(2).

“Phận” và “nghĩa” là hai khái niệm triết học của Nho gia. “Phận” là những điều Trời định cho; “nghĩa” là những điều phải mà mình cần làm. “Phận” và “nghĩa” không tách rời nhau được. Bùi Dương Lịch ca ngợi Văn Thiên Tường cũng chính là để nói lên nỗi niềm trăn trở của bản thân ông khi chưa đạt được tới lý tưởng đó, đã không làm tròn được điều “nghĩa” ấy.

Bùi Dương Lịch đã từng dùi mài kinh sử, thâm hiểu Lễ Nhạc của Thánh hiền, lại cũng đã thấy được những tấm gương trung liệt của các bậc hiền nho danh sĩ đời trước, lòng ông những muốn noi theo, song ông chưa làm được. Trước thực tế phũ phàng đó, ông cảm thấy vô cùng day dứt. Khi phải lên đường vào Phú Xuân, cộng tác với triều Tây Sơn, ông đã viết Thướng trình cảm tác :

Tảo tri tâm tích lưỡng quai sơ

Bất nhược đương sơ bất độc thư,

Hiếu vị khả tri, trung dĩ thất

Hành như hoặc xử, chỉ hà cư?

Bắc quan vân viễn, nhân tòng đích,

Nam giới sương hàm,mẫu ỷ lư

Trù trướng vô liêu, hành khách ý

Hải phong hàm vũ chính suy hư.

Dịch nghĩa: Cảm tác khi lên đường

Nếu biết sớm tâm tư và hình tích hai đường khác nhau

Thì chẳng thà thuở bé không đi học nữa!

Điều hiếu chưa biết có trọn không, điều trung đã hỏng mất rồi

Nếu như đi là do có điều xui khiến, thì khi ở lại sẽ ra sao?

Ải Bắc mây xa, người theo vua đi bôn bá!

Cửa Nam sương lạnh, mẹ già tựa cửa đứng trông!

Ý nghĩa của kẻ đi đường đang ngần ngại buồn bã,

Giữa lúc gió bể ngậm mưa thổi vào dồn dập(3).

Không theo được vua đi bôn ba cửa Bắc đã là bất trung, huống nay lại sắp phải cộng tác với kẻ thù của nhà vua thì quả là bi kịch. Thêm vào đó, còn một chữ “hiếu” cũng chưa chắc đã trọn vẹn. Mẹ già ngày ngày tựa cửa ngóng trông đứa con xa, ai sẽ là người nâng giấc sớm hôm ? Trăm mối tơ vò, tâm trạng Bùi Dương Lịch lúc đó quả là vô cùng bối rối.

Chính vì vậy mà sau khi đã đến Phú Xuân, ở trong cảnh đô hội phồn hoa, giữa lúc xuân sang mà Bùi Dương Lịch vẫn:

… Lữ mộng sạ kinh, hà tuế nguyệt

Sầu mi không đối thử sơn xuyên. 

(Phú Xuân cải tuế)

Dịch nghĩa:

… Giấc mộng đất khách chợt tỉnh, chả biết là năm tháng nào.

Nét mặt rầu rĩ chỉ nhìn suông non sông này…(4).

(Cảm tác ở thành Phú Xuân khi bước sang năm mới)

Bùi Dương Lịch đã chán ngán trước cảnh “non nước của Tây Sơn” vì ông vẫn không quan niệm nổi triều đại Tây Sơn lúc này đã là một nhà nước tiến bộ, đại diện cho cả một dân tộc anh hùng đã từng chiến thắng thù trong giặc ngoài, làm vẻ vang cho lịch sử nước ta. Bùi Dương Lịch không muốn thấy điều đó, vì trong ông vẫn mang nặng tư tưởng “ngu trung” của lễ giáo phong kiến phản động “trung thần bất sự nhị quân”.

2. Những cảm xúc trước cảnh thiên nhiên (hình sông thế núi…) đều mang những tư duy có tính triết lý sâu xa của ông:

Ví dụ như trong bài: 

Thôn nhân thực giang cán 

Thác bỉ giang đầu hỷ khí doanh,

Sổ hàng giang cán nhất triêu hành.

Phụ, tài tự thị nhân thiên dốc,

Ưng, chú nguyên phi dự thủy tranh.

Cán định, hải triều tùng nguyệt trưởng,

Căn thâm, sơn lão hướng thu sinh.

Tòng kim tư tức niên niên hậu,

Ngọc lũy, ngân đôi địa vận hanh.

Dịch nghĩa: 

Người làng đóng cọc ngăn sông

Trúc trắc đóng cọc đầu sông, đầy sự vui vẻ,

Mấy hàng cột gỗ, một hôm đã đóng xong.

Xén bớt hoặc đắp thêm, tuỳ theo thế tự nhiên,

Chắn lại hay tháo đi, không ngăn cản sức nước.

Cột đã đóng chắc, theo tuần trăng mặc cho thủy triều lên,

Gốc đã ăn sâu, đến mùa thu tha hồ lụt núi đổ xuống.

Từ nay, đất này hàng năm mỗi thêm dày,

Lũy ngọc, gò vàng, vận đất trở nên thịnh vượng)(5).

Hay trong bài Đại Hàm sơn, ông viết:

Địa mạch tòng trung xuất,

Sơn hình độc nhị nghiên.

Tủng thân như phó địch,

Súc khí dục xung thiên.

La - Phố tam soa hợp,

Chương - Hương lưỡng dực truyền.

Cao Hoàng bình bắc khấu,

Tằng thử phấn minh tiên.

Dịch nghĩa: Núi Đại Hàm

Mạch đất từ phía trong dấy lên, 

Hình núi đứng riêng một mình rất hùng dũng.

Thân núi vung lên như tiến thẳng vào quân địch,

Khí núi tụ lại như muốn xông đến tận trời.

Sông La và sông Phố hợp lại nhau ở Tam Soa,

Hương Sơn và Thanh Chương sít lại với nhau như hai cánh.

Đức Cao Hoàng (Lê Lợi) bình giặc Bắc,

Từ chốn này vung roi quất ngựa tiến lên(6).

Nhìn nước triều dâng lên, Bùi Dương Lịch nghĩ luôn đến cả quy luật vận động của trăng, đến lũ lụt vào mùa thu. Nhìn “lũy ngọc gò vàng” ông thấy ngay vận hội của đất nước trở nên thịnh vượng. Suy nghĩ của Bùi Dương Lịch về tự nhiên luôn gắn liền với quy luật vận động của hiện tượng, và, trong mỗi một hiện tượng tự nhiên, ông đều thấy có một sức sống vô hình. Với ông, núi không chỉ là núi, mà hình núi thì hùng dũng, thân núi thì vung lên như đang tiến công vào địch. Và từ vị trí quan sát của Bùi Dương Lịch, con người đã hoà theo tự nhiên chứ không phải là tự nhiên hòa theo ý con người. Tư tưởng này cũng đã thể hiện rất rõ trong một số bài văn của ông như Âm dương hợp đức thuyết (Yên Hội thôn chí), Núi Kim Nhan (Nghệ An ký) v.v…

Tóm lại, trong khuôn khổ một bài viết nhỏ này, chúng tôi muốn góp thêm một vài điều cảm nhận được qua thơ chữ Hán của Bùi Dương Lịch, để thêm một lần nữa khẳng định rằng, Bùi Dương Lịch thực sự là một nhà văn hóa, ở ông hội tụ những phẩm chất quan trọng của một học giả uyên bác và một nhà thơ tài hoa cần được tiếp tục nghiên cứu và khai thác nhiều hơn (GS. PhanVăn Các: Thơ Bùi Dương Lịch, một tập sách đáng yêu đáng quý).

Chú thích:

    (1), (2), (3), (4), (5), (6): Theo tư liệu của GS. Chương Thâu, Viện Sử học./.

Thông báo Hán Nôm học 2003, tr. 202-209

NGUYỄN THANH HÀ-Viện Khoa (Theo Viện nghiên cứu Hán nôm)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 5
  • 552
  • 3,437,446