ĐÓNG GÓP CỦA CỘNG ĐỒNG HỌ BÙI VỚI THĂNG LONG – HÀ NỘI (p1)

  05/02/2017

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Xuân Đính 

 >>ĐÓNG GÓP CỦA CỘNG ĐỒNG HỌ BÙI VỚI THĂNG LONG – HÀ NỘI (p2)

Mỗi địa phương (làng, xã, huyện, tỉnh) hợp thành đất nước ta có nhiều cộng đồng huyết thống cư tụ. Trong quá trình phát triển của lịch sử, các dòng họ ở từng địa phương đã đoàn kết dòng tộc, liên kết với các dòng họ khác thông qua các quan hệ hôn nhân, kinh tế, chính trị - xã hội để xây dựng và bảo vệ làng xóm, trực tiếp hoặc gián tiếp góp sức vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ một địa phương cư tụ ban đầu, các cộng đồng huyết thống đã làn tỏa đến nhiều nơi khác để sinh sống, làm ăn. Với sức mạnh của mối dây liên hệ tình cảm huyết thống bền chặt, từng dòng họ đã huy động được các nguồn lực của mình trong công cuộc khai hoang lập làng, phát triển kinh tế, khuyến học, tạo lập nên những truyền thống, những tập tục riêng của mình, góp sức cùng với các cộng đồng huyết thống khác trong công cuộc dựng làng và gìn làng giữ nước. Tính lan tỏa và cố kết từ một địa phương ban đầu sang các địa phương khác, cả các địa phương thuận lợi cũng như không thuận lợi cho mưu sinh, gắn hoạt động của dòng họ mình với công cuộc xây dựng làng xóm, xây dựng và bảo vệ đất nước là một trong những đặc điểm nổi bật trong quá trình phát triển của các dòng họ của người Việt.

Thăng Long - Hà Nội ở giữa trung tâm vùng châu thổ Bắc Bộ, thuận tiện cho sinh sống, làm ăn, nên từ rất sớm là nơi cư tụ của rất nhiều dòng họ. Đến  khi Thăng Long được Lý Thái Tổ chọn làm Kinh đô của nước Đại Việt (năm Canh Tuất niên hiệu Thuận Thiên - 1010), vùng đất ở “thế rồng cuộn hổ ngồi,….” không chỉ là “nơi đế vương của muôn đời” mà còn là mảnh đất màu mỡ để mỗi cộng đồng huyết thống về đây cư tụ, mưu sinh, tạo lập sự nghiệp và đua tài cùng các cộng đồng khác, làm cho Thăng Long trở thành nơi hội tụ, chắt lọc, phát triển của tài năng, cốt cách để rồi lại vừa lan tỏa, vừa thu hút với các địa phương khác. Có thể nói, trong sự hình thành và phát triển của Thăng Long và vùng phụ cận có sự đóng góp rất to lớn của các cộng đồng dòng họ, trong đó có Cộng đồng họ Bùi (CĐHB). 
Tuy nhiên, cho đến nay, việc nghiên cứu tổng thể sự hình thành, phát triển và những đóng góp của các cộng đồng dòng họ đối với Thăng Long – Hà Nội còn chưa được quan tâm đúng mức. Điều này có nguyên nhân không chỉ từ sự không đầy đủ và thiếu tính hệ thống của nguồn tư liệu; mà còn do nhận thức trong lãnh đạo và giới nghiên cứu, nên mới chỉ có những nghiên cứu “đơn lẻ” của một số cá nhân về một vài dòng họ tiêu biểu, mà chưa có được một chương trình nghiên cứu “dài hơi”, với sự hợp sức của nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học, nhiều cộng đồng dòng họ. Đây là đề tài có ý nghĩa to lớn về nhiều mặt. Về khoa học, nghiên cứu đóng góp của các dòng họ với Thăng Long - Hà Nội góp phần làm sáng tỏ quá trình nguồn gốc, những đặc điểm, truyền thống của các dòng họ, mối liên kết giữa các dòng họ trong quá trình tụ cư tại Thăng Long; làm rõ thêm nhiều vấn đề về lịch sử văn hóa của Thăng Long - Hà Nội cũng như của đất nước. Về thực tiễn, nghiên cứu đóng góp của các dòng họ với Thăng Long - Hà Nội tạo cơ sở khoa học cho việc kế thừa và phát huy những truyền thống, những giá trị tốt đẹp của các cộng đồng dòng họ trong công cuộc xây dựng Thủ đô, xây dựng đất nước hôm nay.
Tuy nhiên, đây là vấn đề khoa học lớn, đòi hỏi các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học và các cộng đồng dòng họ phải có một chương trình nghiên cứu “dài hơi” với những bước đi, cách làm sát thực, cụ thể cùng một sự hợp tác nghiên cứu đồng bộ.
Mong muốn góp phần tìm hiểu các vấn đề được nêu, hòa trong không khí tưng bừng, phấn khởi và tự hào chung của Thủ đô, của cả nước tổ chức các hoạt động thiết thực kỷ niệm Đại lễ nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, Thường trực Ban Liên lạc CĐHB Việt Nam quyết định tổ chức cuộc Hội thảo “Cộng đồng họ Bùi Việt Nam với Thăng Long – Hà Nội”.
Báo cáo này đưa ra một số nhìn nhận chung cho các vấn đề được đặt ra.
I . VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG HỌ BÙI TẠI THĂNG LONG - HÀ NỘI
Mặc dù tư liệu chính sử và tư liệu của của các dòng họ ghi chép không đầy đủ, thiếu tính hệ thống và có phần muộn màng, song có thể khẳng định rằng, từ thời Lý, thậm chí sớm hơn nữa, CĐHB đã cùng nhiều cộng đồng huyết thống khác tụ cư đông đúc và phát triển trên mảnh đất Thăng Long và các vùng phụ cận.
Qua trường hợp các sách Đăng khoa lục chép Bùi Quốc Khái đỗ đầu khoa thi chọn người giỏi Thi, Thư vào năm Ất Tỵ niên hiệu Trinh Phù đời Vua Lý Cao Tông (năm 1185) cho thấy, muộn nhất vào cuối thế kỷ XII, người của các CĐHB đã phát đạt trên đất Thăng Long và vùng phụ cận; có người đã vượt qua được các kỳ thì đầy ngặt nghèo của trường thi phong kiến.
      Một hiện tượng đáng lưu ý là, vào thời Trần, có một nhân vật gốc họ Phí, tên là Mộc Lạc (? – 1326), làm Chi hậu bạ thư chánh chưởng trong cung Thánh Từ (cung của Thượng hoàng nhà Trần), song được Trần Nhân Tông cho đổi làm họ Bùi, vì Thượng hoàng cho rằng “họ Phí xưa nghe không có, nên đổi làm họ Bùi”, lại cho đổi tên Mộc Lạc thành Mộc Đạc; thành ra là Bùi Mộc Đạc. Mộc Đạc về sau làm quan đến Trung thư Thị lang (chức phó của Trung thư sảnh, có nhiệm vụ giúp vua ý kiến, lời khuyên những việc trọng đại), cai quản Thẩm hình viện, được cử đi sứ sang nhà Nguyên năm Bính Ngọ - 1306. Sử cũ cũng cho biết, sau này, người họ Phí hâm mộ danh tiếng của Bùi Mộc Đạc, nhiều người đổi làm họ Bùi” (1). Như vậy, thông tin này cho thấy, đầu thế kỷ XIV, họ Bùi đã khá đông đúc, khá phổ biến, thậm chí là cộng đồng thành đạt nên Trần Anh Tông mới cho đổi họ một vị quan “có tài năng” như Phí Mộc Lạc.
      Thăng Long là Kinh đô, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả nước, nên người các làng xã của “Tứ trấn” và xa hơn tụ về đây để làm ăn (làm nghề thủ công, buôn bán), học tập (học tại Quốc Tử Giám và các trường tư để đi thi), dạy học, một bộ phận làm quan, làm lính phục vụ triều đình. Từ các vùng quê khác, các dòng, nhánh của CĐHB về cư tụ tại Thăng Long, một số dòng, nhánh trở nên phát đạt và có nhiều đóng góp với Thăng Long - Hà Nội. Có thể kể ra hai dòng tiêu biểu:
Họ Bùi ở Giáp Nhị (làng Sét, huyện Thanh Trì; nay thuộc phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai), nối đời có nhiều người đỗ đạt, làm quan to trong triều và có nhiều đóng góp với triều chính, được sử sách ghi tên, nhân dân ghi nhận, như Bùi Xương Trạch, Bùi Vịnh (con Xương Trạch), Bùi Bỉnh Uyên (con Bùi Vịnh), Bùi Bỉnh Quân (cháu năm đời Xương Trạch), Bùi Trụ, Bùi Huy Bích …  Bùi Bỉnh Uyên cùng với bác ruột là Bùi Trụ có công lớn giúp nhà Lê thu phục Thăng Long từ tay nhà Mạc. Sự thành đạt của họ Bùi Giáp Nhị đã được Lê Quý Đôn ghi nhận “Con cháu sinh sôi nảy nở, công nghiệp (công danh sự nghiệp) rạng rỡ, vẻ vang. Từ đời Lê Trung Hưng, bầy tôi kết thế, tộc thuộc lớn lao, nói đến nhà quý hiển nhất, chỉ có họ Bùi mà thôi”  (1).
      - Họ Bùi ở ngõ Phất Lộc : vốn ở làng Phất Lộc, nay thuộc xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, có mặt tại Thăng Long vào đời Vua Lê Anh Tông (1556 - 1573). Người trong họ đã sống tại vũng cửa Giang Khẩu (nay là phường Hàng Buồm), nơi tập trung giao thương bằng thuyền bè. Nhận rõ mối lợi từ việc buôn bán ở nơi “nhất cận thị, nhị cận giang”, người trong họ đã chọn nghề buôn muối và nước mắm. Từ đây, dòng họ phát đạt không chỉ với nghề buôn, mà với cả đường quan lại, học hành, không chỉ có công mở mang một vùng buôn bán sầm uất ở phía Đông Bắc Thăng Long, có nhiều đóng góp về kinh tế, mà còn có nhiều công lao trong việc bảo vệ, phát triển các giá trị văn hóa vai trò nổi bật vào cuối thế kỷ XIX là Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng. Để lưu lại tình cảm với quê cũ, bà con trong họ đã lấy hai chữ “Phất Lộc” đặt cho quê mới ở phố phường Hà Nội, nay là ngõ Phất Lộc thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm (về đóng góp của dòng họ này với Thăng Long, xin trình bày ở phần dưới).
II. ĐÓNG GÓP CỦA CỘNG ĐỒNG HỌ BÙI VỚI THĂNG LONG – HÀ NỘI
      1. Đóng góp trong công cuộc giữ nước và xây dựng triều chính
Trong hơn tám thế kỷ là Kinh đô của nước Đại Việt, Thăng Long nhiều lần bị giặc xâm chiếm (ba lần chống Nguyên Mông thế kỷ XIII; giặc Chiêm Thành đánh chiếm cuối thế kỷ XIV; 20 năm giặc Minh thống trị đầu thế kỷ XV). Song, sử cũ không ghi lại được nhiều người của CĐHB tham gia trong kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và khởi nghĩa giành lại quyền độc lập dân tộc; chỉ ghi một số ít nhân vật gắn bó và có công trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đó là Bùi Bị. Ông là người xã Hào Kiệt cũ, nay thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Tháng Tám (1) năm Bính Ngọ (tháng 9 năm 1426), khi Bình Định vương Lê Lợi sai các tướng chia nhau đi tuần các lộ ở Đông Đô (thực chất là tăng cường lực lượng để tạo thành thế bao vây thành Đông Quan), Bùi Bị cùng Thiếu úy Lưu Nhân Chú được lệnh từ Thiên Quan (Ninh Bình) dẫn đại quân qua Thiên Trường, Kiến Xương, Tân Hưng, Thượng Hồng, Hạ Hồng, Bắc Giang và Lạng Sơn để chặn và tiêu diệt đạo quân Minh từ Lưỡng Quảng kéo xuống. Tháng Mười cùng năm, Bùi Bị cùng các tướng đem hơn một vạn bộ binh, bí mật hành quân đến mai phục ở cầu Tây Dương (Cầu Giấy). Do có nhiều công lao, sau chiến thắng quân Minh, vào tháng Năm, năm Kỷ Dậu, niên hiệu Thuận Thiên (năm 1429), Bùi Bị được ban quốc tính, cùng 13 người khác được phong tước Huyện hầu  (2)
      Về xây dựng triều chính, cũng rất đáng tiếc là sử cũ không chép đầy đủ, liên tục người của CĐHB làm quan qua các đời vua và các vương triều. Tuy nhiên có thể khẳng định, muộn nhất là vào cuối thế kỷ XII, người họ Bùi đã tham gia triều chính với Bùi Quốc Khái, sau khi đỗ đạt, ông làm quan đến chức Đô Ngự sử (chức quan đứng đầu cơ quan giám sát quan lại, kiêm xét xử của triều đình, ngang với Thượng thư một bộ).
Tổng hợp theo các sách Đăng khoa lục cho thấy, sau khi thi đỗ, các vị đại khoa của CĐHB đã đem hết tài đức phụng sự triều chính, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Theo thống kê sơ bộ, trong 59 vị Tiến sĩ họ Bùi có 1 Tham tụng (Tể tướng, Bùi Huy Bích, đỗ Hoàng giáp năm Kỷ Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng, đời Vua Lê Hiển Tông, 1769) và 6 Thượng thư (và tương đương) là :
Bùi Quốc Khái : khoa thi, học vị và chức quan đã nêu ở trên.
Bùi Lôi Phủ : người làng Đào Xá, huyện Phú Xuyên, Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo, 1442;  làm Thượng thư bộ Lại.
Bùi Xương Trạch : người làng Giáp Nhị (làng Sét), nay thuộc phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức đời Vua Lê Thánh Tông (năm 1478), làm Thượng thư của sáu bộ (Chưởng lục bộ), kiêm Đô Ngự sử.
- Bùi Viết Lương : người làng Nham Lang, huyện Ngự Thiện; nay thuộc xã Tân Tiens, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đỗ Hoàng giáp khoa Bính Tuất niên hiệu Quang Thuận, 1466; làm Thượng thư (không rõ bộ).
Bùi Công Phụ : người làng Đồng Lạc, huyện Kim Hoa; nay thuộc xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, đỗ Tiến sĩ khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận (năm 1511); làm Thượng thư (không rõ bộ).
Bùi Khắc Nhất : làng Bột Thái, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đỗ Đệ nhất giáp Chế khoa năm Ất Sửu niên hiệu Chính Trị, 1565).
Trong số các Tiến sĩ của CĐHB, có người tuy chức vụ không cao, nhưng lại giúp việc đắc lực cho vua, như Bùi Mộ, người làng Hưng Giáo (nay thuộc xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội), đỗ Bảng nhãn khoa Giáp Thìn niên hiệu Hưng Long đời Vua Trần Anh Tông (năm 1304), làm quan Chi hậu bạ thư, sau thăng Nội lệnh sử thư gia.
Ngoài các vị Tiến sĩ, có nhiều người của CĐHB không đỗ đạt cao nhưng cũng giữ nhiều chức trách quan trọng. Đó là :
- Thời Trần, sử cũ chép người đầu tiên tham gia triều chính là Bùi Khâm, vào tháng Mười năm Canh Tý niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình đời Vua Trần Thái Tông (tháng 11 năm 1240) khi đang là Thị thần được vua cử lên biên giới vùng Lạng Sơn để đàm phán với phía Trung Quốc về việc quan địa phương cho quân sang bắt người cướp của. Không rõ sự việc kết quả ra sao, song qua đây chứng tỏ Bùi Khâm được vua tin cẩn, giao cho một công việc phức tạp, nhạy cảm.
- Sử cũ cúng ghi vào thời Trần, còn có Bùi Phóng cùng 20 người khác ở Hồng Châu (nay thuộc tỉnh Hải Dương) từng theo học tại trường của Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, về sau “đều được dùng cho đời”.
- Thời Lê Sơ có Bùi Ư Đài (không rõ quê quán), vào năm Bính Ngọ, 1426, khi Bình Định vương Lê Lợi cắt đặt các chức quan văn võ ở trong kinh và ngoài các trấn, lộ đã được bổ làm Thượng thư bộ Lễ, kiêm quản sổ sách quân dân Đông Đạo. Sau khi triều Lê Sơ được thiết lập, ông vẫn giữ chức Thượng thư.
Về quan võ, thời Trần, người của CĐHB có Bùi Hấp làm Quản lĩnh quân Thiên uy; Bùi Bá Ngang Quản lĩnh quân Thần sách là quân bảo vệ vua.
CĐHB còn có một số người đứng đầu chình quyền Thăng Long - Hà Nội thời Lê (Phủ doãn Phụng Thiên), được sử cũ và các sách Đăng khoa lục chép là :
Bùi Bỉnh Uyên (họ Bùi Thịnh Liệt, Hương cống) : làm Phủ doãn Phụng Thiên ngay sau khi nhà Lê thu phục được Thăng Long từ tay nhà Mạc (từ đầu năm 1593 đến cuối năm 1597).
Bùi Tất Thắng : người làng Phượng Lai cũ, nay thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; Tiến sĩ khoa Quý Sửu niên hiệu Hoằng Định (năm 1613); làm Phủ doãn Phụng Thiên từ khoảng trước năm Giáp Tý - 1624 đến khi được cử đi sứ (năm Bính Dần, 1626).
Bùi Bỉnh Quân (họ Bùi Thịnh Liệt, Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi niên hiệu Hoằng Định, 1619) : làm Phủ doãn Phụng Thiên từ năm Bính Dần, 1626 đến khi được cử đi sứ (năm Canh Ngọ, 1630).
- Thời Nguyễn, khi Minh Mạng cho lập tỉnh Hà Nội (tháng Mười năm Tân Mão, 1831), Bùi Nguyên Thọ được cử làm Ấn sát.
Sử cũ đều ghi nhận, người của CĐHB làm quan ở Kinh đô Thăng Long cũng như ở các trấn đều cố gắng đem hết tài đức để phục vụ triều chính, phụng sự đất nước, phụng sự nhân dân, có những đóng góp trực tiếp và gián tiếp vào sự ổn định và phát triển của Thăng Long.
Khi nói đến đóng góp của CĐHB đối với Thăng Long - Hà Nội, không chỉ nhìn nhận qua những việc làm của họ ở Thăng Long và đối với Thăng Long, mà cần có một cái nhìn rộng, tổng thể hơn. Thăng Long ở bất kỳ thời kỳ nào kể từ khi nhà Lý định đô trở đi đều có quan hệ chặt chẽ với vùng “tứ trấn”, “ngoại trấn” và cả những vùng biên cương phía Bắc, phía Nam. Sự ổn định và phát triển của Thăng Long không tách khỏi sự ổn định và phát triển của các vùng này, đặc biệt là ở vùng biên cương. Vì thế, các vương triều đều quan tâm đến việc “bảo vệ và phát triển Thăng Long từ xa”, bằng cách cử các cộng đồng dân cư đến cư ngụ, khai phá, cử các quan lại đến đến nhậm trị ở các vùng này, vừa để mở mang đất đai bờ cõi, vừa trực tiếp trấn giữ, ngăn chặn sự liên kết “nội công ngoại kích” trong hoạt động chống phá đất nước của thù trong giặc ngoài. Trong công cuộc này, người của CĐHB đã có những đóng góp nhất định. Xin nêu ba trường hợp điển hình :
 - Ngay từ đầu thời Lê Sơ, vào niên hiệu Thiệu Bình, một bộ phận cư dân, trong đó có nhiều nho sinh của làng Kim Hoa (nay thuộc phường Kim Liên, quận Đống Đa) đã xuống khai phá vùng đất trũng ven biển thuộc khu Hà Nam (nay là các 10 làng phía Nam của huyện Yên Hưng, tỉnh quảng Ninh). 17 vị ra đi đầu tiên về sau được dân trong vùng là “Tiên công”, lập miếu thờ và tổ chức hội Tiên công hàng năm vào mồng 7 tháng Giêng. Trong số họ có ông Bùi Bách Niên ở làng Yên Đông, ông Bùi Huy Ngoạn ở làng Phong Cốc.
- Thời Lê Sơ còn có một người của CĐHB đã nổi tiếng trong chính sử, có công mở cõi phía Nam là Bú Tá Hán. Từ năm Nguyên Hòa thứ 13 (Ất Tỵ, 1545), ông nhận được sắc chỉ đi trấn ải ở trấn Quảng Nam (vùng đất từ tỉnh Quảng Nam đến Phú Yên hiện nay, kẻ cả vùng hải đảo). Cùng đi với ông còn có nhiều nhóm cư dân ở vùng Nghệ An, Thanh Hóa (trong đó có một nhóm họ Bùi ở huyện Diễn Châu). Tại vùng đất biên cương phía Nam này, ông tổ chức cho dân khai hoang, lập làng, ổn định đời sống cho nhân dân, xây dựng các công trình văn hóa; thiết lập quan hệ hòa hiếu giữa người Việt với người Chăm, cũng là giữa quốc gia Đại Việt với Vương quốc Chiêm Thành, giữa người Việt với các tộc người thiểu số. Bùi Tá Hán đã gắn bó và đóng góp một phần quan trọng với sự nghiệp bảo vệ biên cương, mở mang bờ cõi phía Nam trong 25 năm. Do công lao đó, Bùi Tá Hán được nhân dân nhiều làng xã trong vùng thờ, trong đó đền thờ chính hiện ở phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi.
- Thời Nguyễn, CĐHB xuất hiện một con người cải cách, mong muốn nước được cường, dân được thịnh, quân đội đủ mạnh để đủ sức đối phó được với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa thực dân. Đó là Bùi Viện, quê ở làng Trình Phố, huyện Tiền Hải (nay thuộc huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình). Tuy những đề nghị cải cách của ông không nhằm đem lại quyền lợi trực tiếp cho Hà Nội (chỉ đề cập đôi nét về tình hình khốn quẫn của số đông các nhà buôn lương thiện ở Hà Nội cùng các tỉnh Thanh, Nghệ và Nam Định trong khi buôn bán ở ngoài khơi). Song phải đặt các đề nghị cải cách này trong bối cảnh đất nước, nhất là xã hội ngoài Bắc những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XIX mới thấy được ý nghĩa to lớn của những đề nghị cải cách này. Từ sau khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất (tháng 11 năm 1873), thế và lực của triều Nguyễn càng đi xuống, Hà Nội là “trung tâm điểm” tranh chấp giữa ta và kẻ thù, để mất Hà Nội, nguy cơ mất nước là hiển hiện; chiếm được Hà Nội, thực dân Pháp sẽ nắm chắc phần thắng. Vì thế, những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ (tập trung vào việc tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc phòng trên biển là nhằm bảo vệ Hà Nội từ xa, sẵn sàng chi viện để tăng khả năng phòng thủ cho Hà Nội.
2. Đóng góp trên mặt trận ngoại giao
Các sách Đăng khoa lục chép các vị Tiến sĩ sau đây của CĐHB đi sứ là:
Bùi Mộc Đạc : đi năm Bính Ngọ niên hiệu Hưng Long, đời Vua Trần Anh Tông (năm 1306).
Bùi Hựu : người làng Lam Điền, xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo, 1442), đi sứ năm Nhâm Ngọ niên hiệu Hồng Đức, đời Vua Lê Thánh Tông 1462,
Bùi Văn Bưu : người làng Nghiêm Xá, xã Nghiêm Xuyên, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội; Tiến sĩ khoa Nhâm Dần, niên hiệu Hoằng Định (năm 1602), là Phó sứ năm Canh Thân niên hiệu Vĩnh Tộ đời Vua Lê Thần Tông, năm 1620);
Bùi Viết Lương (đã nêu ở trên), đi sứ năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức, 1471;
Bùi Đoan Giáo : người làng Đại Điền, xã Hồng Lạc, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; Hoàng giáp khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức (năm 1487); đi sứ năm Canh Thân niên hiệu Cảnh Thống (năm 1500);
Bùi Tất Thắng (đã nêu ở trên) : đi năm Bính Dần niên hiệu Vĩnh Tộ đời Vua Lê Thần Tông (năm 1626), mất trên đường đi;
Bùi Bỉnh Quân : người làng Giáp Nhị - Sét Thịnh Liệt (đã nêu ở trên), đi sứ năm Canh Tuất niên hiệu Đức Long đời Vua Lê Thần Tông (năm 1630), mất trên đường đi;
Một số người của CĐHB không đỗ Tiến sĩ cũng được cử đi sứ là :
Bùi Nột Ngôn : thời Hồ (trình bày ở phần dưới).
Bùi Cẩm Hổ : đi năm Quý Sửu niên hiệu Thuận Thiên, 1433.
Bùi Sơn : Chánh sứ (đi năm Bình Thân niên hiệu Hồng Đức, 1476),
Bùi Sùng Đạo : đi năm Nhâm Tý, niên hiệu Hồng Đức, 1492.
Bùi Duy Tuy : đi năm Quý Sửu niên hiệu Dương Đức, đời Vua Lê Thần Tông (năm 1673).
Bùi Kiện : tiếp sứ Minh ở trong nước.
Bùi Khâm (đã nêu ở trên).
3. Đóng góp về kinh tế
  Các tư liệu về hoạt động kinh tế của CĐHB trên đất Thăng Long  quá ít. Vì thế ở đây chúng tôi chỉ nêu một trường hợp điển hình cho việc tổ chức làm kinh tế của người họ Bùi trên mảnh đất đô hội này. Đó là họ Bùi Phất Lộc. Tư liệu của dòng họ cho biết, cũng như những dòng họ khác từ tứ trấn về Thăng Long cư ngụ thường đem theo những nghề nghiệp mưu sinh vốn có, họ Bùi-Phất Lộc mang theo một nghề mưu sinh của thuở ban đầu là nghề làm mắm kết hợp buôn bán các loại mắm (mắm tôm, mắm tép, mắm cáy, nước mắm) được sản xuất từ một vùng quê ven biển, muối. Đóng vai trò chính trong việc buôn bán này là các bà, các chị là con gái, con dâu trong dòng tộc. Họ đã tạo nên một khu vực buôn bán sầm uất ở xung quanh một ngõ bốn nhánh thông ra bốn phố: Trần Nhật Duật, Nguyễn Hữu Huân, Lương Ngọc Quyến và Hàng Mắm ngày nay. Việc buôn bán của họ tạo đà cho một số nghề “ăn theo” như buôn chum, vại, chĩnh để đựng mắm; từ đó hình thành các dãy phố buôn bán các loại đồ chứa này. Từ sự đặt nền móng của người họ Bùi, người làng Phất Lộc chuyển lên vùng ngã ba Hà Khẩu (Hàng Buồm) ngày một đông; tạo ra một vựng buụn bỏn sầm uất, khụng chỉ với mắm muối, chum vại mà với cả cỏc mặt hàng khỏc. Như vậy, họ Bùi Phất Lộc cú cụng lớn trong việc làm hình thành và phát triển các phố Hàng Mắm, Hàng Muối và gián tiếp tạo ra phố Hàng Chĩnh ngày nay. Một trong những người buôn bán, thành đạt nổi tiếng nhất của họ Bùi Phất Lộc vào cuối thế kỷ XIX là bà Cao Thị Tính (1793-1853) - vợ của Tú Lĩnh  Bùi Huy Tùng, con dâu đời thứ 15 của dòng họ, đã “mở mang cơ nghiệp nền móng gấp mấy lần tiền nhân” (Gia phả họ Bùi.Phất Lộc -Thăng long, VHv. 1337). Nhờ sự buôn bán tảo tần, phát đạt của bà mà Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng có được một nguồn lực kinh tế lớn để đóng góp xây dựng các di tích của Thăng Long và các làng quê vùng phụ cận; vào việc tổ chức các hoạt động văn hóa giáo dục.  Không những vậy, Bùi Huy Tùng chủ trương dùng nguồn vốn để mở mang thêm các cửa hiệu buôn bán. Một loạt các cửa hiệu như: Nghĩa Lợi, Việt Hương, Phúc Long, Hưng Ký … của các doanh nhân, doanh thương là con cháu họ Bùi được mở ra lúc đó, cũng như sau này ở khu vực Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Gai. Để kinh doanh và kích thích lòng tự tôn dân tộc, Bùi Huy Tùng chủ trương tôn trọng, đề cao hoạt động của giới doanh thươngvà tuyên truyền, cổ vũ cho các hoạt động buôn bán; khác hẳn với tư tưởng dưới thời trước và của nhiều người đương thời khi chỉ coi trọng những người thuộc tầng lớp nho sỹ, khoa cử, coi thường tầng lớp doanh thương. Đây không chỉ là một tư tưởng tiến bộ ở thời đó mà còn thể hiện tầm nhìn xa rộng. Tất cả các hoạt động buôn bán này của họ Bùi Phất Lộc tồn tại đến năm 1945 - 1946. Có thể nói, họ Bùi Phất Lộc là điển hình cho hiện tượng một cộng đồng dòng họ mở mang phố phường, phát triển buôn bán ở phố phường Thăng Long từ thời Lê - Trịnh đến thời Nguyễn. 

BÙI XUÂN ĐÍNH

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 6
  • 2412
  • 4,649,898