ĐÓNG GÓP CỦA CỘNG ĐỒNG HỌ BÙI VỚI THĂNG LONG – HÀ NỘI (p2)

  05/02/2017

>> ĐÓNG GÓP CỦA CỘNG ĐỒNG HỌ BÙI VỚI THĂNG LONG – HÀ NỘI (p1)

Mỗi địa phương (làng, xã, huyện, tỉnh) hợp thành đất nước ta có nhiều cộng đồng huyết thống cư tụ. Trong quá trình phát triển của lịch sử, các dòng họ ở từng địa phương đã đoàn kết dòng tộc, liên kết với các dòng họ khác thông qua các quan hệ hôn nhân, kinh tế, chính trị - xã hội để xây dựng và bảo vệ làng xóm, trực tiếp hoặc gián tiếp góp sức vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

4. Đóng góp về giáo dục

Theo thống kê của các sách Đăng khoa lục, từ thời Lý đến hết thời Lê, cộng đồng họ Bùi đã có 59 người đỗ đại khoa qua các kỳ thi được tổ chức tại Kinh đô Thăng Long.
Chia theo địa phương, Hà Nội là nơi có nhiều người đỗ nhất (24 người); thành phố Hải Phòng và các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình có 5 người; các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương có 4 người; các tỉnh Hà Nam, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc có 2 người; các tỉnh Nam Định, Nghệ An, Phú Thọ, Quảng Trị có 1 người
Chia theo thời kỳ, có 3 người đỗ vào các vương triều Lý - Trần - Hồ; 27 người đỗ thời Lê Sơ; 12 người đỗ thời Mạc và 17 người đỗ thời Lê - Trịnh. Điều đáng lưu ý là người mở đường khai khoa cho Thăng Long - Hà Nội là Bùi Quốc Khái (đã nêu ở trên) Khoa thi cuối cùng của nhà Lê tại Thăng Long (năm Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống - 1787) cũng có người họ Bùi đỗ, lại đỗ đẩu cả thi Hội và thi Đình. Đó là Bùi Dương Lịch - người làng Yên Đồng, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tỉnh.
Chia theo mức đỗ, trong 59 người có 4 Bảng nhãn, 3 người đỗ hang Nhất giáp, Nhị giáp Tiến sĩ, 19 Hoàng giáp và 33 người đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
Trong truyền thống học hành thành đạt của người CĐHB, xuất hiện một số người là anh em, cha con - ông cháu cùng đỗ. Một số trường hợp tiêu biểu :
Họ Bùi ở làng Đào Xá (nay thuộc xã Hoàng Long, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội) có Bùi Lô Phủ (Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo, 1442); cháu nội là Bùi Doãn Hiệp (Hoàng giáp khoa Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận, 1511), chắt (con Doãn Hiệp) là Bùi Trí Vĩnh đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi niên hiệu Đại Chính, 1535).
Họ Bùi làng Lai Xá (xã Trung Chính, huyện Lương Tài, Bắc Ninh) có Bùi Khắc Thẩm (Tiến sĩ khoa Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyễn, 1523); cháu nội là Bùi Lượng Thái (Tiến sĩ khoa Quý Mùi niên hiệu Diên Thành, 1583).
- Đặc biệt, họ Bùi làng Giáp Nhị (làng Sét), nay thuộc phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội có nhiều người đỗ đạt, từ Bùi Xương Trạch (Tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức, 1478), con là Bùi Vịnh (Bảng nhãn khoa Nhâm Thìn niên hiệu Đại Chính, 1532), cháu năm đời là Bùi Bỉnh quân (Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi niên hiệu Hoằng Định, 1619); cháu xa đời là Bùi Huy Bích (Hoàng giáp khoa Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng, 1769); ngoài ra còn rất nhiều người đỗ Hương cống, Cử nhân.
5. Đóng góp về văn hóa, văn học
Các sách Đăng khoa lục cho biết, các nhà khoa bảng họ Bùi đã để lại một nguồn thơ văn khá lớn, nhiều người có thơ được chép trong Hoàng Việt thi tuyển.
Trên mặt trận văn hóa, người của CĐHB có nhiều đóng góp với Thăng Long. Người đầu tiên phải kể đến là Bùi Xương Trạch. Ông là tác giả của Quảng Văn đình ký khi vào năm Hồng Đức thứ 24 (Quý Sửu, 1493), Vua Lê Thánh Tông cho làm đình Quảng Văn ở cửa Đại Hưng (nay là khu vực giáp chợ Cửa Nam) để lấy nơi công bố các chỉ dụ, giảng giải điều lệnh cho dân chúng biết. Trong bài Ký, Bùi Xương Trạch nêu rõ chủ trương của triều đình là cốt phổ biến rộng rãi “chính giáo, mệnh lệnh, pháp độ điển chương của nhà nước”. Ông đã khái quát được chủ trương của Vua Lê Thánh Tông là “đổi mới việc chính trị cho dân, mở rộng đường giáo hóa”. Vì vậy, bài Ký được nhà vua khen ngợi, truyền lại cho nhiều đời sau. Ông còn có các bài biểu chép trong Hoàng Việt văn tuyển. Thời Lý Thánh Tông, Hoàng giáp Bùi Phổ (1463 - ?, người làng Lê Xá, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng) là thành viên của Hội Tao Đàn.
Vào giữa thế kỷ XIX, một số di sản của văn hóa Thăng Long gắn liền với công sức, trí tuệ của họ Bùi Phất Lộc. Trước hết, phải kể đến Bùi Huy Đoàn (đời thứ 13 tính từ cụ tổ đầu tiên ở ngõ Phất Lộc. Ông đã mở nhà in lấy tên hiệu của ông là Như Nguyệt đường để khắc ván, in sách với mong muốn truyền bá văn hóa, truyền dạy kiến thức trong dân chúng, ca ngợi các gương anh hùng dân tộc, truyền thống hiếu học, khoa cử của các bậc tiền nhân. Đến đời thứ 14 có Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng (1794 - 1862) đã cùng các nhà văn hóa nổi tiếng như Tiến sĩ Vũ Tông Phan, Phó bảng Nguyễn Văn Siêu và nhiều văn than, nho sĩ khác lập ra Văn hội Thọ Xương, Hội Hướng thiện để cổ súy cho văn hóa Thăng Long, ngăn chặn các luồng văn hóa độc hại. Với tư cách là Hội phó Văn hội Thọ Xương, ông tham gia tích cực vào việc khắc ván, in sách, lưu trữ các tác phẩm văn học, các giáo trình có giá trị, biên tập tài liệu, soạn giáo trình, văn bia, giảng đàn. Đặc biệt, dựa vào “hậu phương” là người vợ tảo tần và giỏi giang buôn bán, ông đã chu cấp kinh phí cho các hoạt động của hai tổ chức Hội trên đây, cho việc xây dựng, tôn tạo nhiều công trình văn hóa như đền Ngọc Sơn, Văn chỉ Thọ Xương (lập năm Mậu Tuất đời Minh Mạng, 1838) ở phố Bạch Mai. Gọi là Văn chỉ, nhưng thực chất là Văn từ, vì được xây dựng khá quy mô, như một tòa miếu. Trong Văn chỉ có Bảng Tiên hiền ghi tên những vị danh nho tài cao đức trọng là người trong huyện hoặc từ nơi khác đến sinh sống, học tập, dạy học như Vũ Thạnh, Vũ Tông Phan, Nguyễn Văn Lý, Phạm Đình Hổ, Phạm Quý Thích, Nguyễn Văn Siêu... (1) Tư liệu của Cử nhân Bùi Huy Nam (họ Bùi Phất Lộc), Văn phòng Ban Liên lạc CĐHB Việt Nam.1). Việc lập Văn chỉ Thọ Xương thể hiện cho sự phản kháng của giới văn sĩ Thăng Long đối với việc “hạ cấp” vị trí của Thăng Long, của Văn Miếu - Quốc Tử Giám của nhà Nguyễn.
6. Tính cách người họ Bùi
Tính cách theo Từ điển bách khoa (có khi gọi là tính nết) là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn định của từng người, là nội dung của hành vi và quy định phương thức hành vi đặc trưng của người đó trong những điều kiện và hoàn cảnh sống nhất định, thể hiện thái độ của họ với thdees giới xung quanh và bản thân, Tính cách là thái độ đã được củng cố trong những phương thức và hành vi quen thuộc (2).
Nét nổi bật trong tính cách của người CĐHB là tính khẳng khái, thể hiện ở sự bộc trực, dám nói thẳng, không chỉ dám can gián vua, chúa mà còn dám “đương đầu” với cả các thế lực có nhiều quyền hành trong triều, không màng quyền lợi, thậm chí biết là sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi vẫn sẵn sang “xả thân vì nghĩa lớn”. Có thể nêu một vài ví dụ điển hình :
- Thời Trần, vào tháng Tư năm Nhâm Thân niên hiệu Trùng Hưng (tháng 5 năm 1392), Vua xuống chiếu cầu lời nói thẳng. Bùi Mộng Hoa (không rõ chức quan) dâng sớ cảnh báo về “Thâm tai Lê sư” (mối nguy hại của việc Lê Quý Ly thoán quyền). Đáng tiếc, Thượng hoàng Nghệ Tông xem xong tờ sớ của Bùi Mộng Hoa lại bảo cho Hồ Quý Ly biết. Ít năm sau, Hồ Quý Ly thâu tóm quyền hành trong triều, Mộng Hoa phải trốn đi ở ẩn. Sử thần Ngô Sĩ Liên đã dẫn lời của Kinh Dịch :” Vua mà không cẩn mật thì làm hại đến bề tôi” để thẳng thắn phê phán việc làm sai nguyên tắc của Trần Nghệ Tông “đã trưng cầu lời nói trung thực, rồi lại đem nói lời trung thực ấy bảo với người bị chỉ trích, thì có đời nào lại hành động như thế bao giờ?”; đồng thời ca ngợi hành động dũng cảm và cảm thông với số phận “không may” của Bùi Mộng Hoa “Mộng Hoa không gặp được vua sáng suốt, là tự long trời, mà cũng là việc không may cho nhà Trần”  (1).
- Thời Lê Sơ, Bùi Ư Đài là nhân vật được sử cũ nhắc đến nhiều lần. Vào tháng Sáu năm Giáp Dần, niên hiệu Thiệu Bình (tháng 7 năm 1434), nhân thấy tai biến và điềm gở dồn dập xảy ra, ông đã dâng sớ gồm bốn điều, trong đó có hai điều :
+ Trong Kinh thì chọn những bậc lão thành thuộc các bậc hoàng huynh, quốc cữu, am tường, thông thuộc các điển lệ và việc cũ để dạy vua; bên ngoài thì cắt đặt người hiền giữ chức sư phó để làm cột trụ cho triều đình, làm gương cho trăm quan;
+ Đầu thời Lê (chỉ khi Lê Thái Tổ 1428 - 1433), một số quan văn võ phạm tội đều phải chịu tội đồ, tội lưu là có ý răn dạy những kẻ gian tà. Nay lại cho họ được khai phục để cai quản quân dân; đó là làm trái ý của tiên đế, không hợp với ý trời.
Hai điều trên đây trong tờ Sớ thực chất là nhằm cải tổ lại triều chính, chọn người tài giỏi để dạy vua khi vua còn nhỏ tuổi, lại mới lên ngôi (Thái Tông lúc đó mới 11 tuổi), chọn người hiền để cai trị quân dân, loại bỏ quan lại gian tà, nhũng nhiễu. Đó thật là những điều tâm huyết, muốn làm triều đình được vững vàng, nhà nước được hùng mạnh, để đưa đất nước vượt qua những khó khăn sau khi Lê Thái Tổ vừa mất. Tuy nhiên, hai điều trên đây đã động chạm đến Lê Sát, một võ quan dốt nát, lộng quyền. Vào đầu năm Giáp Dần - 1434 này, chính Lê Sát đã xin vua phục chức cho một loạt quan lại như Trình Hoành Bá, Lê Quốc Khí, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư có tội, từng bị Lê Thái Tổ nghiệm trị (1). Nhiều quan trong triều đã phản đối, nhưng Lê Sát lại cho (những quan bị cách chức) là “có tài” nên đã cho chép hai điều để dâng lên Vua Lê Thái Tông vào tâu với vua rằng, Ư Đài đã có ý ly gián vua tôi”. Khi đó, Vua Lê Thái Tông dù còn nhỏ tuổi nhưng cũng đã thấy những điều có lý trong tờ sớ của Bùi Ư Đài nên cho rằng “Những lời Ư Đài nói đâu đên như vậy”. Tuy nhiên, Lê Sát là kẻ thâm thù, nhất là với những người có ý chống lại mình, nên đã tâu lại với vua đến vài bốn lần. Mặc dầu vậy, Vua vẫn không nghe. Đáng tiếc khi đó, một số quan, đứng đầu là Nguyễn Thiên Hựu đã vào hùa cùng Lê Sát nên Vua Thái Tông buộc phải theo ý của họ. Kết cục là Bùi Ư Đài bị đày đi châu xa. Về việc này, sử nhà Nguyễn đã phê phán thái độ thiếu công minh của các quan như Nguyễn Thiên Hựu. Ba năm sau, vào tháng Sáu năm Đinh Tỵ (tháng 7 năm 1437) khi Lê Sát đã bị trị tội lộng quyền, Bùi Ư Đài được khai phục quan chức.
Người thứ hai nổi tiếng có dũng khí của CĐHB thời Lê Sơ là Bùi Cẩm Hổ với tính “cứng cỏi, bạo nói, không sợ quyền thế”, đã chỉ trích gay gắt sự chuyên quyền của Lê Sát, nên bị Sát trả thù, điều đi làm An phủ sứ Lạng Sơn. Song khi được trở lại Thăng Long sau ba năm bị điều ra biên ải, Bùi Cẩm Hổ đã cương quyết làm rõ tội lỗi của Lê Sát khiến cho viên quan lộng quyền này bị tội chết hơn một tháng sau đó. Thẳng thắn đấu tranh làm rõ tội lỗi, trừng trị kẻ chuyên quyền làm loạn triều đình, để đề cao kỷ cương phép nước, song Bùi Cầm Hổ vẫn thể hiện một sự bao dung, nhân từ, đánh giá đúng công lao của Lê Sát, nên ông đã xin Vua Thái Tông cho Lê Sát được tự tử ở nhà, không phải ra pháp trường. Hành động cao cả này của ông đã được Vua khen “là người trọng nghĩa, cương trực”, còn Phan Huy Chú thì đánh giá: “Bùi Cầm Hổ là người lấy thẳng để báo oán, như thế thật hiếm có trong thiên hạ”  (1).
Thời Lê Sơ, CĐHB còn có một vị quan nổi tiếng khác. Đó là Bùi Xương Trạch nổi tiếng thanh liêm, kiệm ước, không mưu tính lợi riêng, có đức độ, rộng rãi khiến người đương thời kính phục. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí viết về ụng: “Ông gặp thời ra làm quan, tự đảm nhận trách nhiệm kinh bang tế thế, mà khiêm giới, thanh liêm, kiệm ước, không mưu tính tài sản riêng tư một mảy may nào. Bổng lộc được bao nhiêu đều chia hết cho họ hàng làng mạc. Lòng tốt và danh vọng lớn của ông được người đời tôn phục”.
Thời Lê - Trịnh, Bùi Sĩ Tiêm khi làm quan trong triều cuối những năm 20 của thế kỷ XVIII đã biết rõ Trịnh Giang là kẻ dốt nát, chuyên quyền, nhưng vẫn can đảm làm tờ Sớ gồm 10 điểm, vạch rõ những bất cập, những yếu kém và cả những tiêu cực trong các ngành, bộ của nước nhà và đề ra hướng khắc phục. Trịnh Giang xem xong tờ Sớ đã ‘đùng đùng nổi giận, đoạt hết quan chức và đuổi ông về quê” (tháng Ba năm Tân Hợi, 1731). Mười năm sau, khi Trịnh Doanh lên ngôi, ông mới được trả lại quan chức.  
Không chỉ khẳng khái trong quá trình làm quan, người của CĐHB còn thể hiện sự khẳng khái trong đối sách với kẻ thù xâm lược. Sử cũ cho biết, vào năm Đinh Hợi, 1407, nhà Minh sai bọn Trương Phụ đi tìm, dò hỏi những người có tài, có đức, thông suốt năm kinh, văn hay, học rộng, thạo việc, am hiểu thư toán, nói năng hoạt bát, hiếu đễ, chăm làm ruộng, tướng mạo khôi ngô, gân sức cứng rắn, cùng những người hiểu biết nghề cầu cúng, làm thuốc, xem bói đang ẩn dật trong các làng quê, rừng núi để đưa sang Kim Lăng “đào tạo”, trao cho quan chức rồi đưa về  trấn trị các phủ, châu huyện. Khi lệnh ban ra, rất nhiều kẻ thuộc diện “bon chen” đua nhau hưởng ứng, Riêng có Bùi Ưng Đẩu (người huyện Sơn Vi, nay là huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, đỗ Thái học sinh năm Canh Thìn, 1400)  đã cáo từ với lý do “bị bệnh đau mắt”, cùng với một số người nữa như Lý Tử Cấu trốn ẩn không ra. Bùi Ưng Đầu đã thấy rõ âm mưu thâm hiểm của nhà Minh, nên ông thực hiện câu ngạn ngữ lan truyền “Dục hoạt, nhập ẩn lâm san; dục tử Minh triều tố quan” (muốn sống thì ẩn ở núi rừng; muốn chết thì ra làm quan với nhà Minh). Quả nhiên, về sau, khi Lê Lợi phất cờ tụ nghĩa, những kẻ làm quan với nhà Minh có nhiều tội ác với nhân dân đều bị trừng trị (1) . Tư liệu này cho thấy, Bùi Ưng Đầu là con người tự trọng, có lòng yêu nước cao, không vì một chút danh vọng, quyền lợi do kẻ thù ban cho mà cam tâm làm tay sai cho giặc, đi ngược lại quyền lợi của đất nước, của dân tộc. Phương châm xử thế của ông là khi thế giặc mạnh, chưa có “minh chủ” nên hành động tốt nhất là bất hợp tác với giặc, không để giặc dùng tài năng, uy tín của mình vào mục đích cai trị đất nước lâu dài.
Vào thời thuộc Hồ, CĐHB còn có một nhân vật nổi tiếng khác. Đó là Bùi Nột Ngôn, từng làm quan đến chức Thẩm hình dưới triều nhà Hồ. Năm Tân Mão – 1411, ông được Trần Quý Khoáng cử làm Phó sứ (Chánh sứ là Hành khiển Hồ Nghiện Thần) sang nhà Minh xin cầu phong, dâng tờ biểu cùng đố cống phẩm. Khi bọn Thần, Ngôn đến Yên Kinh, vua Minh bèn sai Hồ Nguyên Trừng mượn cớ là “tình nghĩa cố cựu” ra tiếp, hỏi về tình hình trong nước mạnh yếu, thực hư thế nào. Hồ Nghiện Thần nói cho Nguyên Trừng biết mọi nhẽ, nhưng Bùi Nột Ngôn “không chịu khuất phục”. Vua Minh giả vờ phong cho Trần Quý Khoáng làm Bố chánh sứ ở Giao Chỉ, Nghiện Thần làm Tri phủ Nghệ An. Trở về nước, Bùi Nột Ngôn đem hết việc Nghiện Thần tiêt lộ tình hình trong nước và nhận quan chức của nhà Minh. Quý Khoáng bèn bắt giam Nghiện Thần  rồi giết đi (1).
Từ những tư liệu về các vị quan nêu trên cho thấy, trong con người các CĐHB nói chung, các vị quan nói riêng có sự kết hợp giữa lòng yêu nước, lòng khao khát được “thành danh, lập công, lập ngôn, lập đức” với tính tự trọng, sự khẳng khái, bộc trực, sự liêm khiết, tính sâu sát cụ thể, tận tụy với công việc. Cùng một việc làm, mục đích trước tiên là bày tỏ lòng yêu nước (không chỉ trong thời loạn, mà cả trong thời bình), mong muốn đóng góp xây dựng triều chính, nhưng bên trong hàm chứa cả sự khẳng khái, tính bộc trực và lòng tự trọng. Nói một cách khác, sự đa diện trong tính cách của người họ Bùi thể hiện qua một việc làm, việc hành động.
Còn có thể nói thêm nhiều điều về các hoạt động, những đóng góp, qua đó cũng thể hiện năng lực, nhân cách, tính cách của người CĐHB. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một số mặt trái trong con người họ Bùi. Nếu trong lúc đất nước bị họa ngoại xâm, tuyệt đại đa số người của CĐHB (và các cộng đồng dòng họ khác) đều thể hiện lòng yêu nước, bất hợp tác với giặc, sẵn sàng xả thân vì nền độc lập tự do của Tổ quốc thì cũng có kẻ hèn nhát đầu hàng, phản lại đất nước. Cũng vào thời thuộc Minh, nếu Bùi Ưng Đầu bộc lộ sự khẳng khái, bất hợp tác với giặc thì Bùi Bá Kỳ lại thể hiện sự hèn nhát, cơ hội (2). Thời Nguyễn, trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ Hà Nội và vùng phụ cận, có những gương “quyết chiến” và chiến đấu dũng cảm như Bùi Văn Dị (hay Bùi Ân Niên) thì lại có Bùi Thức Kiên hèn nhát bỏ thành Hà Nội chạy ra ngoài (1). Trong khi có nhiều vị quan họ Bùi hằng trăn trở vì con đường đi lên của đất nước, tìm ra được các kế sách để đưa vận dân, vận nước thoát khỏi bĩ cực, hướng tới “thái lai” thì cũng có người lại chỉ biết chơi bời, thậm chí có hành động làm “trò cười”, như Bùi Khoan (thời Trần, lập mưu lừa vua uống hết 100 thăng rượu !). Những con người đó dù chỉ là số rất ít, nhưng là những “con sâu bỏ rầu nồi canh” của CĐHB.
Thưa toàn thể quý vị trong Hội thảo, trên đây chúng tôi trình bày một số suy nghĩ bước đầu về những hoạt động, những đóng góp của CĐHB đối với sự phát triển của 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (chủ yếu trong thời phong kiến tự chủ). Trong Hội thảo này, còn có 12 báo cáo khác, làm rõ hơn những đóng góp cụ thể của CĐHB trên các lĩnh vực, thông qua một số nhân vật cụ thể. Đó là :
1. Báo cáo của GS, TS, NGND Nguyễn Chính Trung về Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng – người có công mở mang, ổn định vùng đất ven biển Thái Bình dưới triều Đinh, Tiền Lê, giúp Lý Thái Tổ ổn định đất nước, chuẩn bị các tiền đề cho cuộc định đô ở THăng Long.
2. Báo cáo của ông Bùi Thanh Quang về Bùi Tá Hán - người nhận sứ mệnh “mang gươm đi giữ cõi và mở cõi” ở cương giới phía Nam, bảo vệ Thăng Long từ xa; báo cáo của Tiến sĩ Nguyễn Đức Nhuệ Tiến sĩ Chế khoa, về Thượng thư Bùi Khắc Nhất – người có công giúp triều Lê Trung Hưng trong việc giành lại Thăng Long và ổn định tình hình Thăng Long cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII.
3. Báo cáo của GS, TSKH Vũ Hy Chương về quan Ngự sử Bùi Cẩm Hổ, báo cáo PGS, TS. Vũ Duy Mền về Hoàng giáp Bùi Sĩ Tiêm - những người con của CĐHB từ những năm tháng làm quan ở Thăng Long, quả cảm, dám can ngăn vua, đàn hặc quan thoán quyền, đề xuất các giải pháp ổn định triều chính và đất nước, cho dù phải chịu thiệt thòi về quyền lợi, thậm chí cả bị mất chức, bị đuổi về quê; báo cáo của PGS. TS. Lê Văn Cương tập trung phân tích về đề nghị cải cách của Bùi Viện trong bối cảnh nước nhà cuối thế kỷ XIX.
4. Báo cáo của PGS, TS. Đinh Khắc Thuân về Bùi Quốc Khái – vị khai khoa của đất Thăng Long; báo cáo của PGS, TS. Nguyễn Minh Tường, của Nhà nghiên cứu về Hà Nội Nguyễn Vinh Phúc về các hoạt động trên mặt trận văn hóa của Hoàng giáp Bùi Huy Bích, của Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng. Báo cáo của Họa sĩ Trần Khánh chương nói về môi trường phố phường Hà Nội đã tạo ra một phong các vẽ tranh của một Họa sĩ họ Bùi - phong cách Phố Phái, đã đạt Giải thưởng Hồ Chí Minh.
5. Báo cáo của Giáo sư Đinh Xuân Lâm về đóng góp của Phó bảng Bùi Văn Dị trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp để bảo vệ Hà Nội và vùng phụ cận.
6. báo cáo của PGS. Lê Mậu Hãn về đóng góp của cụ Bùi Bằng Đoàn đối với Chính phủ liên hiệp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong những ngày tháng “nóng bỏng nửa sau năm 1946, khi Hà Nội là tâm điểm về chính trị, ngoại giao giữa nước Việt Nam và nước Pháp.
Mỗi báo cáo đề cập đến một lĩnh vực, có cách tiếp cận, các viết khác nhau, song đều đã làm rõ được những đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp của người CĐHB dựa trên nguồn tư liệu phong phú, tin cậy. Đây là nguồn tư liệu quý của CĐHB. Từ các báo cáo này, chắc chắn, mỗi người trong CĐHB thấy được và tự hào, trân trọng với những đóng góp của cha ông; thấy được nguồn lực lớn lao của cộng đồng mình, phải có trách nhiệm động viên nhau phát huy những truyền thống, những đức tính quý báu mà cha ông tạo dựng, cùng các dòng họ khác đóng góp vào công cuộc xây dựng Thủ đô, xây dựng đất nước hôm nay.
 

(1) Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2004, tập 1, tr. 563.

(1) Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, bản dịch, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1992, tập 1, tr. ..(1) Các tháng trong các báo cao của Hội thảo được ghi bằng chữ hoa, là tháng theo lịch Âm; để phân biệt với tháng theo lịch Dương, viết bằng số La Mã.  Các tháng ghi bằng số La Mã nhưng được trích dẫn theo sử cũ cũng là theo lịch Âm.

(2) (1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tập Một, tr. 786, 790, 853.

(1) Tư liệu của Cử nhân Bùi Huy Nam (họ Bùi Phất Lộc), Văn phòng Ban Liên lạc CĐHB Việt Nam.

(2)  Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2005, tập 4, tr. 427.

(1) Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám Cương mục, bản dịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tập Một, tr. 687.

(1) Khi Lê Thái Tổ vì hạn chế về nhận thức đã nghi kỵ Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, bọn Trình Hoành Bá (và các quan cùng phe cánh) đã ra sức xúc xiểm, khiến cho các đại thần có công như Trần Nguyên Hãn, Phạm văn Xảo (và nhiều vị quan không vừa ý với bọn Lê Sát, Trình Hoành Bá) đều chị họa. Về sau Lê Thái Tổ nhận ra bọn Hoành Bá là bọn tiểu nhân, xảo trá, đảo diên nên đã trị tội. Đến đây (đầu năm Giáp Dần, 1434), Lê Sát lại cho rằng bọn bá có tài, xin vua cho phục chức. Việc này đã bị Nguyễn Thiên Tích, Bùi Cầm Hổ phản đối quyết liệt.

(1) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1992, tập 1, tr. 236.

(1) Khâm định Việt sử thông giám Cương mục, sđd, tr. 736.

(1Khâm định Việt sử thông giám Cương mục, sđd, tr. 747.

(2) Bùi Bá Kỳ nguyên là tỳ tướng của Trần Khát Trân. Nhà Hồ lên thay nhà Trần, Bá Kỳ chạy sang Trung Quốc. Khi  Trần Thiêm Bình từ trong nước chạy qua Lào để sang cầu viện nhà Minh, sau đó nhà Minh đưa Thiêm Bình về nước, Bá Kỳ không ủng hộ, nên bị nhà Minh đưa đi an trí. Thiêm Bình bị nhà Hồ bắt giết, nhà Minh lại cho triệu Bá Kỳ về, dụ dỗ sẽ lập lại con cháu nhà Trần, Bá Kỳ sẽ được làm bầy tôi phụ tá. Sau đó, Bá Kỳ theo Trương Phụ cùng đội quân xâm lược nhà Minh về nước (tháng Chín năm Bính Tuất, 1406), được trao chức Tham nghị, nhưng không làm gì cả, chỉ ở nhà riêng, lại thu nạp những viên quan cũ của nhà Trần bị sa cơ lỡ bước. Đến tháng Mười năm Đinh Hợi - 1407, Trần Nguyệt Hồ nổi dậy chống lại nhà Minh, Bá Kỳ bị nghi ngờ có lòng phản lại, bị nhà Minh bắt đưa trở lại sang Kim Lăng.
(1) Trong lần thực dân Pháp tấn công vào thành Hà Nội (ngày 20 tháng 11 năm 1873, trong khi Nguyễn Tri Phương cùng con trai là Phò mã Nguyễn Lâm đã anh dũng chiến đấu (Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương, Nguyễn Lâm hy sinh ở cửa Đông Nam) thì Thự Tổng đốc Bùi Thúc Kiên, Án sát Tôn Thất Trắc theo Cửa Bắc trốn khỏi thành, chạy ra làng Nhân Mục (huyện Thanh Trì).

BÙI XUÂN ĐÍNH

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 8
  • 501
  • 3,770,262