Đóng góp của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng với nhà Đinh và nhà Lý

  19/07/2018

PGS. TS. NGUYỄN HỮU SƠN, Viện phó Viện Văn học phát biểu tại Hội thảo

1. Từ năm 1999, Bộ Văn hóa Thông tin đã có quyết định cấp bằng công nhận từ đường danh nhân lịch sử Bùi Quang Dũng (922-1018) ở xã Tân Bình, huyện Vũ Thư (Thái Bình) là di tích Lịch sử – văn hóa, đồng thời một đường phố ở thành phố Thái Bình cũng được vinh dự mang tên ông. Trên thực tế, mặc dùng nguồn tư liệu chính sử  không ghi lại được bao nhiêu song các thư tịch Hán Nôm (gia phả, bia ký) và các truyền thuyết trong dân gian đã xác định khá rõ những đóng góp của ông với triều đại nhà Đinh (968-980) và giai đoạn đầu của nhà Tiền Lê (1010-1018)…

          2.1. Đóng góp của Bùi Quang Dũng với nhà Đinh (968-980) và một thời ôm hận phục thù (980-1009)

          Bùi Quang Dũng sinh ở vùng Phong Châu – Bạch Hạc (tỉnh Phú Thọ ngày nay) vào năm Nhâm Ngọ (922) và lớn lên giữa thời Tiền Ngô vương (898-944), trưởng thành trong giai đoạn lịch sử đầy biến động với sự kiện Dương Tam Kha chiếm giữ ngôi sáu năm (945-950) và Hậu Ngô vương (951-965), đặc biệt với hai năm loạn 12 sứ quân (966-967)…

          Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận một thời tao loạn và việc Đinh Bộ Lĩnh (924-979) nổi lên chiếm giữ ngôi vua: “Đinh Mão, năm thứ 17 [967] (Tống Càn Đức năm thứ 5). Bấy giờ trong nước không có chủ, 12 sứ quân tranh nhau làm trưởng, không ai chịu thống thuộc vào ai. Đinh Bộ Lĩnh nghe tiếng Trần Minh Công là người có đức mà không có con nối, bèn cùng với con là Liễn đến nương tựa. Minh Công thấy Bộ Lĩnh dáng mạo khôi ngô lạ thường, lại có khí lượng, mới nuôi làm con, ơn yêu đãi ngày càng hậu, nhân đó giao cho coi quân, sai đi đánh các hùng trưởng khác, đều thắng được cả. Phạm Phòng Át đem quân về hàng (dưới triều nhà Đinh, Phòng Át làm Thân vệ tướng quân). Khi Minh Công mất, gặp lúc bọn con em của Ngô Tiên chúa ở Đỗ Động Giang hơn 500 người đem quân đến đánh, mới vào đến đất Ô Man thì bị người làng ấy là Ngô Phó sứ đánh bại phải trở về. Bộ Lĩnh nghe tin, liền cất quân đi đánh vùng sông và động ấy, không bộ lạc nào không hàng phục. Từ đó lại dân ở kinh phủ đều khâm phục theo về. Nhà Ngô mất”(1)

          Nếu tính đến thời điểm những năm loạn 12 sứ quân này thì Bùi Quang Dũng đã 45 tuổi, thuộc lứa tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, đã đến tuổi chín chắn, định hình tính cách và chiều hướng công danh, sự nghiệp. Trong bối cảnh loạn lạc, xuất hiện nhiều phe phái, vàng thau lẫn lộn, dù bị dụ dỗ, mua chuộc nhưng trước sau ông vẫn không qui thuận theo các cánh quân của Ngô Xương Xí (chiếm cứ vùng Binh Kiều, nay ở khoảng huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa), Kiều Công Hãn (chiếm cứ vùng Phong Châu – Bạch Hạc, nay thuộc huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ), Đỗ Cảnh Thạc (chiếm cứ Đỗ Động Giang, nay thuộc huyện Thanh Oai, ngoại thành Hà Nội) để rồi cuối cùng theo về với chủ tướng Đinh Bộ Lĩnh. Tài liệu Sự trạng cụ Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng chép: “Năm Đinh Mão (967), cụ theo Đinh Bộ Lĩnh dẹp 12 sứ quân. Năm Mậu Thìn (968), Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, hiệu Đinh Tiên Hoàng, cụ được phong chức Anh Dực tướng quân sung Điện tiền Đô chỉ huy sứ kiêm Thiêm sự”(2)… Xét ra, Bùi Quang Dũng còn hơn Đinh Bộ Lĩnh đến hai tuổi, vậy mà ông vẫn tôn phục, qui thuận theo. Hơn mười năm dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng (968-979), Bùi Quang Dũng đã hết lòng phò vua giúp nước. Có thể coi đây là những năm tháng tươi sáng, mãn nguyện nhất trong cuộc đời ông. Bằng bản lĩnh, tài năng và tầm nhìn xa trông rộng, Bùi Quang Dũng đã có công dẹp loạn Ngô Văn Kháng là con trai của Ngô Văn Trấn trướng hạ của Trần Lãm (Trần Minh Công) khi trước ở vùng Kỳ Bố – Bố Hải Khẩu (nay thuộc thành phố Thái Bình), đồng thời chú ý việc lập quê, lập làng, khai khẩn các nơi hoang phế thành ruộng cấy cày, xây dựng thần miếu và chiêu tập dân đến ở ấp Hàm Châu, qui về địa danh Bùi Xá (trạm, trại, làng họ Bùi). Thêm nữa, Bùi Quang Dũng còn coi trọng việc “gây dựng phong tục lễ nghi, để công điền cho dân làm mối lợi lâu dài”… Như vậy, có thể thấy trong hoạt động cụ thể, Bùi Quang Dũng đã coi trọng cả việc mở mang, phát triển đời sống kinh tế cùng với tạo lập, xây dựng thuần phong mỹ tục, tín ngưỡng, đời sống tâm linh, tinh thần xã hội. Phương thức “để công điền” vào thời kỳ ấy có ý nghĩa tích cực, mở đường cho chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và phổ biến trong suốt thời Lý – Trần (1010-1225). Việc chiêu tập dân và phát triển vùng kinh tế Kỳ Bố – Bố Hải Khẩu đồng thời cũng là vùng phên dậu đường biển quan trọng cho thấy tầm nhìn xa của Bùi Quang Dũng trong việc kết nối tiểu vùng duyên hải Bắc Bộ với toàn cảnh đất nước, giữa địa bàn mình chịu trách nhiệm với tổng thể cương giới vương triều nhà Đinh. Sự gắn kết nói trên càng trở nên quan trọng khi đất nước mới thoát khỏi ngàn năm Bắc thuộc, đang bước đầu xác lập quyền tự chủ, từng bước xây dựng, khẳng định và phát triển ý thức độc lập dân tộc(3)

          Trên một phương diện khác, khi Đỗ Thích sát hại Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn vào năm Kỷ Mão (979), liền sau đó Phế Đế Đinh Toàn nối ngôi rồi cũng bị Thập đạo tướng quân Lê Hoàn phế truất vào năm Canh Thìn (980). Trong thời điểm hai năm nước sôi lửa bỏng với những chuyện trọng đại diễn ra, vương triều thay bậc đổi ngôi, các tướng Đinh Điền, Nguyễn Bặc bị bắt giết, Bùi Quang Dũng biết mình thân cô thế cô nên buộc phải lui về động Trinh Thạch. Đương khi ấy có mấy tùy tướng đề xuất việc cầu viện binh nhà Tống đánh dẹp Lê Hoàn nhưng Bùi Quang Dũng kiên quyết chối từ, phân tích rõ cái lợi trước mắt của một dòng họ, phe nhóm đặt bên cạnh cái hại lớn lao, lâu dài cho quyền lợi cả dân tộc: “Không được! Nước ta từ khi nội thuộc đến nay đã hơn nghìn năm, dân sống lầm than khổ sở lắm rồi, nay dân mới được tươi tỉnh. Nếu ta sức yếu lại đi cầu cạnh nước kia, nước kia không phải nòi giống ta, hẳn sinh lòng khác, tham lợi nhân thể cướp nước ta, hẳn là dân ta lại bị thống khổ lần nữa. Công thì chưa chắc, tội đã rõ ràng. Ta không dám làm như thế”… Như vậy Bùi Quang Dũng đã đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết, tối cao, tối thượng, không gì có thể đổi thay, lay chuyển.

          Nhìn ngược trở lại, phía tân triều Lê Đại Hành cũng đồng thuận trong việc khẳng định vị thế và quyền lợi dân tộc lên trên lợi ích phe phóm, phe phái. Tài liệu Sự trạng cụ Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng tiếp tục cho biết: “Sau khi cụ vào Trinh Thạch động, Lê Hoàn mới biết và bảo với chư tướng rằng: Xưa ở triều nhà Đinh, ta có nói với vua Tiên Hoàng thăng cho hắn Thượng tướng, phong cho hắn tước Hầu, tưởng ngày nay cùng ta cộng sự, mà hắn lại dám quên ơn, phải đem quân mà đánh cho hả giận. Chư tướng tâu: Bệ hạ đừng nghĩ bực nhỏ! Nay quân Tống với giặc Chiêm phải liệu trước. Chốn ấy nhỏ nhặt, không phải phiền nhọc xe rồng, vả lại kẻ ấy không đủ sức kình địch với ta, phải đi lánh xa, cũng nên bỏ đấy để khuyến khích nhân thần về sau. Vua Đại Hành nghe lời chư tướng thôi không tiến đánh động Trinh Thạch nữa”… Như vậy, ngay cả trong cảnh là đối thủ của nhau nhưng cả hai lực lượng trên đều tự biết cần hòa hoãn với nhau vì đại sự quyền lợi quốc gia, dân tộc. Thực tế nói trên cũng cho thấy bản chất mối quan hệ cá nhân giữa Lê Hoàn với Bùi Quang Dũng khá tốt đẹp. Về phía Bùi Quang Dũng, ông gắn bó với vương triều nhà Đinh, trước sau vẫn giữ lòng trung với nhà Đinh và chính điều này khiến ông không thể mở lòng hòa hiếu, nhập cuộc được với tân triều Tiền Lê. Thêm nữa, ông còn viết thư kể tội thoán nghịch của Lê Hoàn, lại sai Ngô Văn Kháng tìm cách sát hại vua, sau tiếp tục thu phục Đinh Hy làm thích khách cũng không thành. Trong hoàn cảnh ấy, Bùi Quang Dũng kiên quyết thủ thế ở vùng động Trinh Thạch trong suốt ba mươi năm. Từ đây ông hiểu rằng cơ hội khôi phục nhà Đinh không còn, bao nhiêu ước nguyện chỉ còn là tâm sự hoài niệm, hồi tưởng một quá vãng vàng son đã xa vời. Có thể xác định Bùi Quang Dũng là nhà chính trị, quân sự và kinh tế nổi bật dưới thời Đinh, đặc biệt có công khẩn hoang, xây dựng vùng duyên hải Thái Bình.

          2.1. Đóng góp của Bùi Quang Dũng với nhà Lý (1010-1018)

          Do quan niệm Nho giáo “Trung thần bất sự nhị quân” (Tôi trung không thờ hai vua) nên trước sau Bùi Quang Dũng vẫn giữ lòng trung với nhà Đinh, bất hợp tác với Lê Hoàn và lui về quê nhà trong suốt ba mươi năm trường.

Mãi đến năm Kỷ Dậu (1009), Lý Công Uẩn (974-1028) phế truất Lê Ngọa Triều, lên ngôi vua, lập ra triều Lý. Thái Tổ ba lần cho người vời nhưng Bùi Quang Dũng đều thoái thác, lấy cớ tuổi già, sức yếu. Tài liệu Sự trạng cụ Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng cho biết, năm Tân Hợi, Thuận Thiên thứ 2 (1001), vùng Kỳ Bố – Hải Khẩu có giặc. Triều đình ba lần đánh dẹp nhưng đều bị bại. Tướng Nguyễn Uy dò biết lòng dân đều nhớ danh tướng đạo cao đức cả Bùi Quang Dũng bèn tấu về triều. Lý Thái Tổ lại viết thư, sai Nguyễn Uy đem đến động Trinh Thạch mời ông về triều, kể rõ sự tình vùng Kỳ Bố – Hải Khẩu. Đến lúc này Bùi Quang Dũng mới chịu về kinh thành Thăng Long và được vua trẻ Lý Thái Tổ (kém mình 52 tuổi) hậu đãi, đối xử như thầy, ban hiệu là “Minh Triết Phu Tử”. Vua lại lấy chức cũ Anh Dực tướng quân trấn đông Tiết độ sứ thời Đinh của ông trao cho con trai ông là Bùi Quang Anh. Hai cha con Bùi Quang Dũng – Bùi Quang Anh được phái về Kỳ Bố dẹp loạn. Khi ông tới nơi, giặc kéo nhau ra hàng, cùng theo về ấp Hàm Châu và ở lại đây… Toàn bộ những điều này xác định uy vọng lớn lao của danh tướng Bùi Quang Dũng ở chốn triều đình, giới vua quan cũng như trong lòng dân – kể cả số dân lưu tán, nghịch tặc – vùng Kỳ Bố – Hàm Châu (Thái Bình)… Rõ ràng vua Lý Thái Tổ đã có con mắt xanh, biết chọn mặt gửi vàng, tìm đúng người giao đúng việc. Cuộc hội ngộ muộn màng giữa Bùi Quang Dũng với đức vua Lý Thái Tổ thể hiện tính qui luật của cả một quá trình lịch sử, một cái kết có hậu cho xu thế đại đoàn kết toàn dân và cho vận hội đất nước, dân tộc(4)

Tài liệu Sự trạng cụ Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng ghi chép về những năm tháng cuối đời của Bùi Quang Dũng: “Cụ về trong bản ấp thăm từ miếu và mộ phần cha mẹ cùng gia cư của cụ người trong ấp gìn giữ đều còn như cũ. Cụ nghỉ ngơi nhàn nhã trong sáu, bảy năm. Vua Lý Thái Tổ thường sai người thăm hỏi luôn. Đến năm Mậu Ngọ, Thuận Thiên thứ 9 (1018), giờ Dần, ngày 13 tháng 3, cụ từ trần tại tư gia, hưởng thọ 97 tuổi”… Về phía triều đình, vua Lý Thái Tổ sai Bộ Lễ làm lễ cử ai và truy phong là Trinh Quốc Công. Tháng 8 năm ấy, vua ngự đề văn bia sự trạng ông; ngày 12-8, giao Thái sư Khuông Việt chép bản ngự chế lên bia đá. Thợ khắc đá Phạm Công Thắng vâng mệnh vua khắc bia. Sau đó, vua Lý cho người đem về từ đường ông ở ấp Hàm Châu để thờ. Năm Canh Thân, Thuận Thiên thứ 11 (1020), nhân đi tuần phòng phía đông, vua đến vùng Kỳ Bố và về ấp Hàm Châu viếng mộ ông. Tại từ đường thờ Bùi Quang Dũng, Thái Tổ ngự đề đôi câu đối:

– Bất sự nhị quân, trung liệt cao phong, Trinh Thạch động tam thập niên quán cổ.

     – Lực phù nhất thống, vân lôi chính khí, Hàm Châu ấp thiên vạn tải như sinh.

Bản dịch:

– Không thờ hai vua, tiếng trung liệt cao vời vợi, động Trinh Thạch ba mươi năm lừng tiếng.

– Hết sức giúp nền thống nhất, chí khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu vạn cổ vẫn còn.

Sau khi về kinh, Lý Thái Tổ còn xuống chiếu ban cho họ Bùi ở Hàm Châu ba ngôi cấm địa (nơi chôn cất Bùi Quang Dũng và song thân). Điều này xác nhận tầm nhìn xa rộng và sự tri ân của đức vua Lý Thái Tổ với bề tôi có công mà thêm một lần khẳng định những đóng góp thực sự hiệu quả của danh tướng Bùi Quang Dũng với vương triều Lý ở tuổi mãn chiều.

  1. Lời kết mở

          Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng sinh ra và lớn lên vào khúc quanh trọng đại của lịch sử, khi đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ. Do sự lựa chọn cá nhân, ngài dốc hết sức lực tuổi trung niên khuông phò nhà Đinh và những năm cuối đời trợ giúp cho nhà Lý. Điểm chung nhất ở ngài là tài năng hơn người và sự kiên định trong ý thức hướng về quyền lợi nhân dân, quê hương, quốc gia, dân tộc. Gần một ngàn năm đã qua đi nhưng tên tuổi của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng vẫn được nhân dân và gia tộc ghi nhớ, lưu truyền, còn mãi với quê hương, đất nước.

Tháng 6-2015

___________________

  • Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I (Ngô Đức Thọ dịch, chú). Nxb. KHXH, H., 1998, tr.211.

  • Bùi Xuân Sính: Sự trạng cụ Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng, trong tập Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng và họ Bùi ấp Hàm Châu. Tài liệu đánh máy, tr.13. Các trích dẫn sau đều theo tài liệu này.

      (3) Xem thêm Nguyễn Hữu Sơn: Lê Hoàn với Phật giáo và văn hóa – văn học Phật giáo thời Lê Hoàn, trong sách Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn. Nxb. Hà Nội, 2005, tr.325-349.

(4) Xem thêm Nguyễn Hữu Sơn: Văn chiếu đời Lý, in trong Thơ văn đời Lý. Nxb. Văn hoá – Thông tin, H., 1998; in lại trong sách Văn học trung đại Việt Nam – Quan niệm con người và tiến trình phát triển. Nxb. KHXH, H., 2005, tr.11-23.

PGS. TS. NGUYỄN HỮU SƠN, Viện phó Viện Văn học

Tin liên quan:

Họp bàn tổ chức giỗ 1000 năm Thái tổ Trinh Quốc công, Anh dực tướng quân Bùi Quang Dũng (25/07/2018)

Phát biểu đề dẫn hội thảo khoa học "Danh nhân Bùi Quang Dũng - cuộc đời và sự nghiệp"

Hội thảo: Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng trong bối cảnh chính trị, xã hội thế kỷ 10

Bùi Quang Dũng - Danh thần hai triều Đinh – Lý

THIÊN SÁCH THƯỢNG TƯỚNG TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng (922-1018) – trong tâm thức người dân và hậu duệ họ Bùi

Từ đường Thiên Sách Thượng Tướng quân Bùi Quang Dũng - Di tích lịch sử văn hóa quốc gia

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 11
  • 434
  • 1,430,476