Dòng họ Bùi Thủ Chân

  04/02/2017

Doanh nhân họ Bùi Việt Nam viếng mộ tổ họ Bùi thủ chân

Dòng họ Bùi ở xã Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là dòng Đại tông của vua Lê Lợi. Theo Gia phả: cụ sơ tổ của dòng họ này là Bùi Thủ Chân, vốn mang họ Lê (dòng dõi hoàng tộc nhà Hậu Lê), con của Cung vương Lê Khắc Xương, cháu của Lê Nguyên Long, chắt của Lê Lợi. Tính từ khi Bùi Thủ Chân về ở Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc tới nay, dòng họ đã tồn tại được 527 năm (1480-2007), có thêm hai nhánh: một ở Khoái Châu (Hưng Yên) và một ở Hoa Lư (Ninh Bình).
Nguồn gốc dòng họ

Bà Phạm Thị Ngọc Trần, vợ thứ hai của Lê Lợi, sinh ra Lê Nguyên Long ngày 20 tháng 11 Quý Mão (1423). Bà mất ngày 24 tháng 3 năm Ất Tỵ (1425), khi đó Nguyên Long mới 3 tuổi. Nguyên Long được giao cho Giám quan Bùi Cầm Hổ nuôi dạy. Sau này Nguyên Long lên ngôi (Lê Thái Tông) đã lấy con gái giám quan Bùi Cầm Hổ để trả cái ơn đó. Lê Thái Tông và thần phi Bùi Quý nhân sinh ra Cung vương Lê Khắc Xương ngày 4 tháng 5 năm Canh Thân (1440). Lê Thái Tông có bốn người con trai với bốn bà cung phi là:

  • Bà cả: Chiêu nghi Dương Thị Bí, sinh ra Lệ Đức Hầu Lê Nghi Dân
  • Bà hai: Bùi Thần phi, sinh ra Cung vương Lê Khắc Xương
  • Bà ba: Thần phi Nguyễn Thị Anh, sinh ra Lê Bang Cơ (vua Lê Nhân Tông)
  • Bà tư: Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao, sinh ra Lê Tư Thành (vua Lê Thánh Tông)

Năm Nhâm Tuất (1442), Lê Thái Tông bị cảm, băng hà tại Lệ Chi Viên, Lê Băng Cơ mới 2 tuổi được lên ngôi hoàng đế, tức là vua Lê Nhân Tông. Vào mùa đông năm Kỷ Mão (1459) Lê Nghi Dân giết vua Lê Nhân Tông và Thái hậu Nguyễn Thị Anh, tự mình lên làm vua và phong cho em là Lê Khắc Xương làm Cung vương, và Lê Tư Thành là Gia vương.

Các đại thần là Nguyễn Xí, Đinh Liệt xướng nghĩa giết phản nghịch giáng Nghi Dân xuống tước Hầu. Ngày 7 tháng 6 Canh Thìn (1460) triều thần đến đón Cung vuơng Lê Khắc Xương tôn lập hoàng đế, nhưng Lê Khắc Xương đã khước từ. Triều thần liền tôn lập Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi hiệu là Lê Thánh Tông (1460-1497). Sau đó Khắc Xương bị bức hại, khi chết để lại người con trai duy nhất là Lê Chân[3].

Quan Ngự sử Bùi Cầm Hổ có liên quan đến vụ án Lệ Chi Viên, nên năm Kỷ Hợi (1479), khi xét lại vụ án nay và minh oan cho các trung thần bị hại, vua Lê Thánh Tông đã ban chiếu truy liệt cho Ngự sử, như sau:

Công sử Ngự - Nhân minh quang đại hiếu-Trung liệt

Toa qua nghị giáo trừng Tiên Đế-trĩ đồng từ

Vân thiên quang - đạt Lý đức hiền nhân - Tuấn khuê

Kim huynh Vương - Phụng đức trung Bùi Tính.

Cửu truyền lưu nhân chí - Thấu quốc Đế Nhân tứ tông - tỳ phương".

Nghĩa là: "Ngự sử công Bùi Cầm Hổ thực là Đại thần trung liệt đã đùm bọc và nuôi dạy Tiên đế ta từ thuở ấu thơ. Nay được đèn trời soi tỏ đức hạnh của người sáng như sao Khuê. Từ nay huynh Vương được đặc ân mang họ Bùi để mãi mãi tỏ rõ lòng ân quốc tính của Tiên Đế đối với dòng dõi người có phúc thơm".

Từ đó Lê Chân được mang họ Bùi của bà nội, gọi là Bùi Chân.

Sự phát triển của dòng họ

Năm Canh Tý (1480), Lê Chân (lúc này là Bùi Chân) đưa bà và mẹ về tịnh dưỡng đoàn viên tại quê ngoại làng Thượng Trưng phủ Bạch Hạc trấn Sơn Tây, nay là xã Thượng Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc.

Vào thời nhà Mạc, Đức trai Bùi Hoằng là hậu duệ đời thứ 3 Bùi Chân, đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Tuất niên hiệu Đại Chính thứ 9 (1538) đời vua Mạc Đăng Doanh, đã hiến cho Thái thượng hoàng Mạc Đăng Dung kế sách giải pháp hoà bình trước sự thúc ép của nhà Minh. Tháng 8 năm Canh Tý (1540) Mạc Đăng Doanh tặng cho Tiến sĩ Bùi Hoằng "Kim tử vinh lộc đại phu" lấy chữ "Thủ" làm gương, và phong tước An Thủy bá. Vua Mạc tặng:

Tiến sĩ Bùi Hoằng An thủy bá là Thủ Ước

Hiển đức khảo tiên liệt Đức Nghị là Thủ Chính

Hiển đức tổ khảo tiên liệt là Thủ Chân.

Từ đây Lê Chân được gọi là Bùi Thủ Chân, là sơ tổ của dòng họ.

Họ Bùi Thủ Chân tồn tại và phát triển ở Thượng Trưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc và hai nhánh ở Tiểu Quan, Phùng Hưng, Khoái Châu, Hưng Yên và Gia Viễn, Hoa Lư, Ninh Bình ngày nay.

Ghi chú

  1. ▲ Hiếu học và khuyến học của dòng họ Bùi
  2. ▲ Gia phả của dòng họ này có sách "Bùi Gia Bảo Thủ Chân Thế Phả" do Quang Viễn Thọ Lộc Hầu (hậu duệ đời thứ 5 Bùi Thủ Chân) viết năm 1615. Bùi Công Tốn Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Sửu niên hiệu Chính Hoà thứ 6 đời vua Lê Hy Tông 1685 (hậu duệ đời thứ 7 Bùi Thủ Chân) viết tiếp. Đến Lương Công bộ Thận Trai ngự sử triều Lê Hiển Tông (hậu duệ đời thứ 12 Bùi Thủ Chân) viết tiếp tục.
  3. ▲ Có sách chép rằng Cung vương Lê Khắc Xương còn có người con nữa là Tĩnh Tu công (Lê) Lộc. Ông này có 2 con nghe nghịch thần dựng lên làm phản, bị Mạc Đăng Dung giết.
  4. ▲ Thời Phong kiến được vua ban cho chữ là điều vinh hạnh, vua Mạc Đăng Doanh tặng cho Bùi Hoằng và 2 đời (Tổ khảo và Khảo) chữ "Thủ". Bùi Chân được ban thêm chữ Thủ là Bùi Thủ Chân

(Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 7
  • 1793
  • 4,888,136