GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA CỦA “HÀM CHÂU BÙI GIA PHẢ KÝ”

  19/07/2018

Bùi Xuân Sính, hậu duệ đời thứ 34, Trưởng tộc họ Bùi đất Hàm Châu tại buổi hội thảo 

  1. Giá trị lịch sử và văn hóa của cuốn gia phả họ Bùi Hàm Châu:

Gia phả họ Bùi Thái ấp Hàm Châu (xã Tân Bình, TP Thái Bình) là cuốn gia phả quý hiếm còn lại ở Thái Bình. Cuốn gia phả này được trùng tu vào năm Đinh Dậu, đời vua Hiển Tôn nhà Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 38 (1777). Được trùng tu và bổ sung vào năm Khải Định thứ 3 (1918).

Gia phả ghi từ cụ Thái Tổ Trinh Quốc Công Bùi Quang Dũng đến đời thứ 30; và ghi rõ thế thứ bề bậc, tên húy, tên tự, tên hiệu, thụy, học vị, chức tước, ngày sinh, ngày mất, nơi an táng và sự trạng các bậc tiên tổ, nhất là những người có công dân, với nước. Nhiều nhân vật và sự kiện của dòng họ gắn liền với lịch sử dân tộc suốt 10 thế kỷ, trải qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn. Các thế hệ con cháu họ Bùi đều có những đóng góp xuất sắc, đặc biệt là những khúc quanh của lịch sử.

Thời Đinh có Tướng quân Bùi Quang Dũng phò tá Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất đất nước. Tướng quân Bùi Quang Đạt em trai của cụ Bùi Quang Dũng làm Kiềm Hành Tướng quân, hy sinh anh dũng tại chiến trận Kỳ Bố

Thời Lý có cụ Bùi Quang Anh được vua Lý Thái Tổ phong cho nguyên chức cũ của cha là Anh Dực tướng quân Trấn đông Tiết độ sứ, tước Tuy An hầu. Cụ Bùi Quang Chiếu là cháu nội của Thái Tổ tham gia chống Tống, bình Chiêm được phong Chinh Bắc Phó tướng quân, Bình Nam đại tướng quân, tước Uy Viễn hầu.

Thời Trần có Bùi Công Nghiệp, cháu đời thứ 9 của Thái Tổ là Phó tướng của Tướng quốc Trần Nhật Duật. Cụ chiến đấu chống quân Nguyên lập nhiều chiến công được phong Đại Tướng quân, tước Vĩnh Lâm hầu.

Thời Lê Trung Hưng có Sinh đồ Bùi Văn Kiệt cháu đời thứ 15 của Thái Tổ phò tá vua Quang Thiệu chống Mạc Đăng Dung sau lại cùng Nguyễn Kim đại thần nhà Lê phò tá Duy Ninh lên làm vua. Vua Trang Tôn tấn tước cho cụ là Đô thống Tương Dực công.

Đời thứ 18 và 19 có tới 16 người làm quan trong triều, đứng đầu là cụ Bùi Văn Đức làm quan Điện tiền Điểm kiểm, đã tập trung quân sỹ dưới quyền, thuê thích khách ám sát Trịnh Tùng định làm đảo chính ủng hộ triều Lê.

Thời Lê Mạt có cụ Bùi Ngọc Ẩm tự Văn Hòa là thầy đồ giỏi, có nhiều môn sinh, hàng trăm người đỗ đạt thành tài. Lê triều Cảnh Hưng năm thứ 42 nhà vua tặng cụ Quang Khiêm Đại phu. Cụ Bùi Đức Mại hiệu Hàm Châu tiên sinh nổi tiếng hay chữ. Lê triều Cảnh Hưng khoa Nhâm Ngọ thi Hương, đỗ Hương Cống (Cử Nhân), năm 29 tuổi thi Hội, đỗ Tam Trường. Năm 30 tuổi thụ chức Hồng Lô tự cáp Môn ty Phó sứ tại Quốc Tử Giám. Cụ Bùi Ngọc Trọng tự Thế Bảo phò tá suốt 2 đời vua Lê. Vua Lê Hiển Tôn phong cho cụ là Phụ Quốc Thượng tướng Thượng Trụ Quốc.

Thời Nguyễn có cụ Bùi Ngọc Kiểu được phong chức Kiến Công Đô úy phó Vệ úy. Cụ hy sinh anh dũng tại thành Gia Định. Có 2 anh em ruột là cụ Bùi Duy Kỳ và Bùi Duy Phiên cùng đỗ Tú tài khoa Tân Mão đời vua Minh Mệnh năm thứ 12 (1831). Cụ Bùi Duy Kỳ cùng với người anh họ là cụ Bùi Ngọc Chẩm bắt sống tướng giặc Trương Thận (Đoàn Danh Lại), được nhà vua trọng dụng bổ chức Binh bộ Tư vụ, sau được thăng chức tới chức Lại bộ Thị lang, Bố Chánh sứ Tuyên Quang, Quảng Bình. Cụ Bùi Duy Phiên học tiếp thêm, thi đỗ Tiến sỹ khoa Tân Sửu (1841) được bổ chức Hàn Lâm viện Biên tu, sau thăng bổ Tri phủ Quảng Uy…

Qua khái quát trên, có thể thấy gia phả đã ghi chép rất tỷ mỷ những sự kiện, con người, theo trình tự thời gian giúp cho người đọc dễ hiểu.

Lịch sử phát triển của làng Đồng Thanh xã Tân Bình được ghi chép khá chi tiết trong gia phả như “Hàm Châu Thái ấp đồ bản”, “Hàm Châu Thái ấp địa chí”, “Hàm Châu hương ấp danh hiệu lịch thế canh cải”, “Sự tích ấp Hàm Châu”, “Sự tích đình chùa ấp Hàm Châu”, “Điển tích các xứ đồng điền ấp Hàm Châu”. Để các thế hệ đời sau biết được sự hình thành của làng, tên làng xã qua các thời kỳ, lịch sử và tên gọi của đình chùa và các cánh đồng.

Vào năm Tân Mùi ­(971), sau khi dẹp được giặc ở xứ Kỳ Bố Hải khẩu, Tướng quân Bùi Quang Dũng được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Trấn đông Tiết độ sứ, trị sở đóng ở thành Kỳ Bố, kiêm lý 3 đạo trong tổng số 10 đạo của cả nước. Cụ quyên tiền bạc của các nhà giàu xây dựng 2 ngôi thần miếu ở Nhân Khê (Nhân Thanh) và Lương Lai (Đại Lai) đề thờ Lý Thiên Bảo và Lý Triệu Long, tâu lên vua Đinh sắc phong thần cho 2 tướng quân và sức cho dân các làng thuộc tổng Tri Lai cùng phụng sự.

Thấy vùng đất phía Tây bắc thành Kỳ Bố đất đai màu mỡ nhưng hoang phế, dân cư thưa thớt, cụ làm sớ tấu về triều xin vua được đem quân sỹ đến khai khẩn lập ấp. Cụ lại mua hết cánh đồng Hương Bài, đến chỗ vườn cao hình thể như trán con rồng, đằng trước có 2 cái giếng, nhân dân thường gọi là long nhãn (mắt rồng) để xây dựng một tòa nhà, hướng nam làm nhà tư, đưa vợ con đến ở và đặt tên ấp là Hàm Châu.

Vua Đinh Tiên Hoàng lấy số ruộng đất mới được khai phá ban cho cụ làm đất ăn lộc, gọi là Thái ấp Hàm Châu. Cụ đưa các gia đình thuộc hạ thân tín về ở cả trong ấp như gia đình ông Ngô Văn Gia, Đỗ Văn Mục, Đặng Văn Phú, Tạ Ban, Tạ Chi, Hà Trung, Trương Gián, Đào Văn Thịnh. Từ đó cụ ở hẳn ấp Hàm Châu và xứ Kỳ Bố để tổ chức sản xuất, xây dựng đình chùa, gây dựng phong tục lễ nghi đưa các hoạt động của nhân dân vào nề nếp. Cụ sớ tâu về triều lấy trại Linh Sa phụ thuộc vào Thái ấp của cụ gọi là làng Hàm Châu (ấp Hàm Châu và trại Linh Sa). Cụ tự bỏ tiền xây một ngôi thần miếu ở đống có hình con voi hiệu là Tượng Sa, xứ Lữ Đồng, rước chân nhang, duệ hiệu hai tướng quân Lý Thiên Bảo và Lý Triệu Long về thờ làm thành hoàng. Cụ xây một ngôi chùa ở đống có hình con Cá hiệu là Ngư Sa, xứ Lữ Đồng, đặt tên là Trang Nghiêm tự, cho tăng sỹ Phổ Đạt đến phụng sự. Cụ còn để công điền cho dân, ban cấp ruộng thần từ, phật tự.

Làng Đồng Thanh đã nhiều lần thay đổi tên gọi:

Thời Đinh là làng Hàm Châu gồm ấp Hàm Châu và trại Linh Sa

Thời Lý đời Lý Thần Tông, niên hiệu Thiên Thuận năm đầu (1128) làng Hàm Châu đổi tên là xã Châu Giang. Ấp Hàm Châu đổi là thôn Châu Kiều, trại Linh Sa đổi là thôn Dục Linh.

Thời Trần đời vua Trần Thái Tông, Kiến Trung năm thứ 2 (1226) xã Châu giang đổi là xã Châu Khê, thôn Châu Kiều đổi là thôn Bảng Kiều, thôn Dục Linh đổi là thôn Cổ Linh.

Thời Lê đời vua Thái Tông năm đầu (1434) xã Châu Khê đổi là xã Kim Thanh, thôn Bảng Kiều đổi là thôn Kim Bảng, thôn Cổ Linh đổi là thôn Địa Linh.

Thời Nguyễn, đời vua Dục Tông, niên hiệu Tự Đức năm 18 (1865) xã Kim Thanh đổi là xã Đồng Thanh, thôn Kim Bảng đổi là thôn Đồng Bảng, thôn Dục Linh đổi là thôn Tú Linh.

Sau cách mạng tháng 8/ 1945, khi thành lập xã mới thì thôn Đồng Bảng là thôn Đồng Thanh, thôn Tú Linh vẫn giữ nguyên tên cũ.

Làng Hàm Châu xưa kia có 2 vùng cao thấp khác nhau. Khu Linh Sa đất cao, nhân dân thường trồng cây Hương Bài (cây để làm hương) nên gọi là đồng Hương Bài. Còn đồng điền làng Hàm Châu là một vùng đất trũng cây cỏ rậm rạp đã được khẩn hoang thành ruộng cày cấy. Sự tích mở làng còn thấy ở tên các cánh đồng.

Đồng Bùi là tư điền của Trinh Quốc Công Bùi Quang Dũng, lưu truyền đời đời con cháu giữ làm tư điền, người làng nhân thế gọi là đồng Bùi. Đến triều Hậu Lê, đời vua Kính Tôn niên hiệu Hoằng Định năm cuối, cháu cụ Thái tổ đời thứ 18 là Bùi Văn Đức làm quan Điện tiền Đô Điểm Kiểm bất bình chúa Trịnh tiếm bức giết vua Kính Tôn nhà Lê. Cụ Bùi Văn Đức cùng với em ruột, em họ và các cháu tất cả là 16 người đều làm quan trong triều hội nhau đánh Trịnh Tùng để giúp vua Lê, nhưng không thành. Vì thế phải tản đi mỗi người một nơi. Người trong họ cũng phải lánh đi các nơi khác cả. Xứ đồng này bị bỏ hoang không cày cấy. Về sau làng Thắng Cựu tổng Tri Lai nhận trưng một nửa gọi là đồng Phân Khai (tục gọi là đồng Khơi). Làng Nhân Thanh nhận trưng một nửa gọi là đồng Báng

Xứ Mễ Tạo tục gọi là đồng Bữa Gạo. Xứ này cũng là ruộng tư điền của Thái Tổ giao cho người làng lĩnh canh, chiểu thời vụ mỗi mẫu nộp ba hộc gạo để làm nhật dụng nhà cụ. Vì thế người làng gọi là xứ Bữa Gạo.

Xứ Đông Biên tục gọi là đồng bà Là sau gọi là đồng Ban Chi. Nguyên khi trước cụ Thái Tổ phụng mệnh đi dẹp giặc. Khi dẫn quân đến ấp Lương Lai (Đại Lai), thuyền lương thực chưa đến nên quân sỹ bị đói. Có bà Là đem gạo nhà ra đãi quân sỹ. Đến khi cụ có Thái ấp mới lấy số ruộng này thưởng cho bà Là để trả ơn khi trước. Người làng nhân thế gọi là đồng Bà Là. Sau khi bà Là từ trần, hai con bà là Tạ Ban, Tạ Chi cày cấy xứ đồng này, người làng mới gọi là đồng ông Ban, ông Chi. Lâu ngày gọi là đồng Ban Chi.

Xứ Trung Độ tục gọi là đồng Gỗ. Nguyên khi trước cụ Thái Tổ tu tạo quân doanh và xây dựng hai ngôi thần miếu Nhân Khê và Lương Lai có quyên lấy 200 nén bạc của ông Đào Văn Thịnh để mua gỗ. Đến khi cụ có Thái ấp mới lấy số ruộng này cho ông Đào Văn Thịnh để trả số bạc quyên mua gỗ khi trước. Người làng nhân thế gọi là đồng Gỗ.

Xứ Sách Lang tục gọi là đồng ông Bốn sau phiên ra đồng Bún. Xứ ruộng này cụ cho em vợ là ông Vương Văn Sách. Cụ nhân lấy chữ Sách Lang làm tên hiệu cho xứ đồng này. Vì ông Sách là con thứ bốn nên người làng gọi là đồng ông Bốn. Lâu ngày phiên tiếng ra đồng Bún.

Xứ Tân Sa tục gọi đồng Gia. Xứ ruộng này của cụ Thái Tổ cho người bộ thuộc là ông Ngô Văn Gia quản canh. Người làng gọi là đồng ông Gia, lâu ngày gọi là đồng Gia.

Xứ Tây Biên tục gọi là đồng Mục do ông Đỗ Văn Mục quản canh.

Xứ Trung Phương tục gọi là đồng Phú do ông Đặng Văn Phú quản canh.

Xứ Trà Lễ. Xứ ruộng này nhân khi cụ Thái Tổ khai khẩn đồng điền ông Hà Văn Trung thường nấu nước trà dâng cụ, cho đinh phu uống. Khi có Thái ấp cụ cho ông Trung xứ này để thưởng công dâng trà khi trước. Cụ lấy chữ Trà Lễ đặt tên cho cánh đồng này. Lâu ngày phiên âm ra Trà Lẽ.

Xứ Trường Khê gọi là đồng ông Gián. Xứ này cụ cho người ta trông coi công việc khai khẩn đồng điền khi trước là ông Trương Văn Gián. Người làng nhân thế gọi là đồng ông Gián. Lâu ngày về sau phiên âm ra đồng Giáng.

Xứ Lệ Uyên tục gọi là Vực Hầu. Xứ này nguyên cổ tục gọi là Vực Hầu, vì vực sâu có nhiều Sò Vẹm sinh sống, không cày cấy được. Cụ cho người bộ thuộc làm tư điền để thu lợi về tôm cá. Cụ nhân cổ tục gọi là Vực Hầu mới lấy hai chữ Lệ Uyên làm tên gọi cánh đồng (Lệ là con Hầu, Uyên là con Vực).

Xứ Ngư Trại tục gọi là đồng Dổi. Xứ này ao ruộng lẫn lộn. Cụ cho những người bộ thuộc mỗi người một ít làm ruộng tư, thu lợi về tôm cá. Dân làng hàng ngày ra bắt tôm cá đem lên bờ sông bán. Người mua kẻ bán như cái chợ cá. Cụ nhân lấy hai chữ Ngư Trại đặt tên cho cánh đồng. Người làng nhân gọi là đồng Dổi, lâu ngày về sau phiên âm ra đồng Dụi.

Xứ Công Điền, Cụ Bùi Quang Dũng khai khẩn đồng điền được hơn 400 mẫu, phần để ruộng hương hỏa tư điền gia sản nhà cụ, phần để làm phần thưởng, phần giao quản canh. Còn một xứ đồng từ cạnh làng thông ra sông Cả (Trà Lý), cụ để làm ruộng công điền cho dân làng, trước để kính Thần từ, Phật tự và ruộng cúng tế, số còn lại cấp cho dân đinh ấp Hàm Châu và Trại Linh Sa cày cấy sinh nghiệp. Ai tuổi già tạ thế thì phải trả lại ruộng để cấp cho dân đinh mới lớn, không được bán. Người trong ấp cho là lộc điền nhà quan, nhân gọi là đồng Quan. Năm 1960 thành lập hợp tác xã nông nghiệp mới đổi là đồng Tân Tiến.

Đời vua Thánh Tông nhà Lý, niên hiệu Long Thụy Thái Bình năm đầu (1054) người làng phát triển ngày một đông, nhân đinh lên tới 200 xuất. Cụ Tuy An hầu Bùi Quang Anh lập ra 8 giáp để đưa các hoạt động của hương ấp vào nề nếp quy củ. Cụ chia làm 8 đoàn, cử những họ đến sinh cơ lập nghiệp ở làng trước đứng làm đầu đoàn. Những họ đến ở sau thì ghép vào đoàn nào cũng được, hợp thành mỗi đoàn từ 25 người hoặc lẻ 6,7,8,9 đến 30 người. Cụ lấy 8 chữ Thọ, Lộc, Trung, Nghĩa, Phú, Quý, Khang, Ninh viết vào 8 cái thẻ tre, cắm vào trong lọ, dâng lên thần miếu. Mỗi đoàn cử một người vào lễ thần rồi rút lấy một cái thẻ tre. Đoàn nào rút được chữ gì thì lấy chữ ấy làm tên giáp. Cụ rút được chữ Thọ nên giáp Thọ là đầu. Từ đấy về sau đời truyền nối dõi, bản ấp đình chung họ Bùi ở trước, giáp Thọ đứng đầu. Con trai giáp Thọ theo phong hóa các cụ mà biết giữ lễ phép, con gái họ Bùi theo giáo huấn các cụ mà ăn ở thuận hòa; nên người làng mới có câu: “ Trai giáp Thọ, gái họ Bùi

Họ Ngô rút được chữ Phú đứng thứ 2

Họ Đỗ rút được chữ Lộc đứng thứ 3

Họ Đặng rút được chữ Ninh đứng thứ 4

Họ Đào rút được chữ Trung đứng thứ 5

Họ Tạ rút được chữ Nghĩa đứng thứ 6

Họ Trương rút được chữ Quý đứng thứ 7

Họ Hà rút được chữ Khang đứng thứ 8

Với những ghi chép ở trên, người đọc biết được tổ chức, sinh hoạt, nếp sống văn hóa của làng Đồng Thanh ngày nay đã có từ rất sớm.

Truyền thống họ Bùi ấp Hàm Châu được ghi: “… Tiên thế để lại tổ tông, quan tước, duệ hiệu, tộc thuộc, thế thứ trước sau dĩ trí trung quân ái quốc, dựng ấp hưng gia, tu nhân tích đức, làm việc thiện, giữ mình tiếp người, luân thường đạo lý đầy đủ, không những để con cháu ta kê khảo xem xét mà chính là để con cháu ta noi gương thủ pháp

Gia phả họ Bùi Thái ấp Hàm Châu là một tổng hợp các bài văn tế, bản tựa gia phả, những điều quy ước… đều được dịch ra chữ quốc ngữ. Sự trạng của Tướng quân Bùi Quang Dũng theo bản chính chỉ diễn nghĩa nguyên văn, nhưng đến năm 1935 cụ Bùi Công Khoái dịch ra chữ quốc ngữ và diễn nghĩa ra theo lối có chương, có hồi để con cháu không biết chữ Hán dễ đọc, dễ hiểu và có sự hấp dẫn.

Sách được bố trí khoa học qua lịch đại thế thứ, sự trạng của mỗi đời người, mỗi nhân vật đều có lời bình ưu khuyết công bằng rõ ràng hợp đạo lý khiến người xem luôn thấy hứng thú và bổ ích. Hệ thống câu đối, biển khắc chữ Hán, bia đá ở nơi thờ tự là bút tích của các bậc minh quân như Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tông; của các bậc danh nho như Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Nguyễn Công Trứ, Khiếu Hữu Sử, Phạm Văn Thụ… đều được sao chép vào gia phả.

Giá trị văn hóa của cuốn gia phả nổi bật là giáo dục đạo đức “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Họ Bùi dạy con cháu cây phải có gốc, nước phải có nguồn, con cháu gốc ở tổ tiên. Và dặn con cháu hiếu nghĩa là cội nguồn của mọi sự phát triển.

Họ Bùi rất coi trọng việc ghi chép và giữ gìn gia phả vì rằng : “ …húy tự tổ tiên và quan tước, sự trạng với phần mộ và kỵ nhật đều chép ở đó. Họ hàng thế thứ trước sau, dòng dõi ngành kia phái nọ cũng chép cả ở đó. Người ta đã là người phải dốc lòng thờ phụng tổ tiên, nghĩ đến họ hàng mà chú ý lưu tâm vào phả ký mới phải? Có tổ tiên mới có cha mẹ, có cha mẹ mới có thân mình, có thân mình mới có vợ con, của cải, quan tước, nên phải nghĩ đến tổ tiên. Muốn nghĩ đến tổ tiên thì phải lấy phả ký làm rất quý báu mới được”.

        Họ Bùi lập gia phả rất sớm, ngay sau khi cụ Trinh Quốc Công Bùi Quang Dũng tạ thế. Thể lệ pháp thức phả ký theo phép Kinh Xuân Thu của Đức thánh Khổng Tử. Tên húy, tên tự, tên hiệu, tên thụy, ngày sinh, ngày mất nơi an táng, quan tước, sự trạng của các bậc tiền nhân đều được ghi chép ở trong phả ký đầy đủ cả. Nhưng vì sau những năm Chính Hòa (1680-1705), đời vua Hy Tông nhà Lê, giặc Kình ở huyện Thanh Lan (Đông Quan) khởi binh làm ngụy, đem quân qua sông Cả (Trà Lý) đóng đồn binh ở làng. Quan quân triều đình về tiễu trừ. Gia phả bị binh hỏa hủy liệt. Khi giặc bình rồi các cụ lần tìm người trong họ tản cư ở nơi khác đem về. May thay cụ Bùi Văn Lộc tản cư ở làng Cổ Ngựa, tỉnh Bắc Ninh đem gia phả về; chỉ có sự trạng, quan tước, duệ hiệu cụ Thái Tổ là còn được hoàn toàn. Từ đời thứ 2 trở xuống, đời thì còn được ít nhiều, đời thì mất cả. Khi ấy các cụ đã tu bổ ngay, nhưng chỉ có một bản mà thôi.

Đến năm Đinh Dậu, đời vua Hiển Tông nhà Hậu Lê, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 38 (1777) cháu đích trưởng của cụ Bùi Quang Dũng là cụ Giám Sinh Bùi Đức Mại, mới lo xa, hội họp trong họ trùng tu phả ký và làm thành 4 bản, giao cho các ông Bùi Đức Mại, Bùi Tử Trấn, Bùi Văn Phú và Bùi Xuân Thưởng giữ để đề phòng thất lạc. Khi đến thăm từ đường và chiêm bái cuốn gia phả cụ Tiến sỹ Nguyễn Duy Nghi cũng phải nức nở khen ngợi: “Quyển qia phả họ Bùi chép không những văn hay mà thực là khuyến trung, khuyến hiếu, khuyến thiện, mưu cho con cháu rất sâu, làm gương cho con cháu rất lớn.”

Năm Kỷ Sửu đời vua Minh Mệnh nhà Nguyễn năm thứ 10 (1829) quyển phả để ở Từ đường do trưởng tộc quản lý lại bị giặc đốt cháy. May sao quyển phả ở cụ Hiệu Sinh Bùi Tử Trấn giữ khi trước được con trai là Bùi Ngọc Chẩn đi dạy học ở nơi xa nhân giao cho em là Bùi Ngọc Huấn tản cư lên làng Võng Phan, xã Tống Trân, huyện Phủ Cừ, tỉnh Hưng Yên là còn giữ được hoàn toàn. Con trai cụ Huấn là cụ Bùi Ngọc Tấn lại giao cho em họ là Bùi Ngọc Hiền giữ. Cụ Bùi Ngọc Hiền mất khi con trai cụ là Bùi Ngọc Cường mới chín, mười tuổi chưa đi học. Lúc cụ yếu nặng giao cho vợ là cụ Khiếu Thị Chu giữ và dặn rằng: “ Phải giữ gìn quyển sách này cho cẩn thận, bao giờ con trai khôn lớn học hành thông thái thì giao cho xem”. Không may cụ Bùi Ngọc Cường năm 18 tuổi học hành mới thông thì đã từ trần. Cụ Khiếu Thị Chu gói quyển phả cẩn thận cho vào ống luồng làm cái trụ trên xà nhà. Cụ lại nuôi người cháu họ gọi bằng bác là Bùi Đức Tam làm thừa tự. Cụ Chu dặn rằng: “Ở trong cái trụ xà nhà ấy tiền nhân có để lại quyển sách quý báu lắm, về sau con cái hay người họ Bùi, ai học hành thông thái, thì lấy xuống cho xem”. Cụ Bùi Đức Tam cố nuôi cho hai con ăn học. May được người con thứ 2 là Bùi Công Khoái học hành chăm chỉ. Nhưng khi cụ Bùi Đức Tam từ trần thì con trai bé Bùi Công Khoái còn ít tuổi chưa xem được sách ấy. Khi yếu nặng cụ gọi Bùi Công Khoái lại, chỉ lên cái trụ xà nhà mà dặn rằng: “Trong cái trụ xà nhà ấy tiền nhân có để quyển sách rất quý báu, sau này học giỏi sẽ lấy xuống mà xem.”

Bùi Công Khoái vâng lời, đinh ninh ghi nhớ… Mãi đến ngày 12 tháng 5 năm Quý Mão (1903) nhân có trận bão to, nhà đổ, cái trụ vỡ ra trong có quyển phả bọc vải. Bùi Công Khoái lấy xem tường tận rồi đưa cho ông chú họ là cụ Hàn Lâm Bùi Đức Tuyên. Cụ lấy làm mừng rỡ, mới hội họp họ trùng tu thành 3 bản và viết các thế thứ đời sau nối tiếp vào, đệ trình lên quan Tổng đốc tỉnh Thái Bình là Phó Bảng Phạm Văn Thụ cáo hạ, đẩu chiếu, phê và đóng dấu kiềm trong phả làm bằng và giao cho mỗi chi giữ một quyển.

Trải qua những biến cố của xã hội và thiên nhiên tác động nhưng gia phả vẫn được dòng họ giữ gìn cẩn thận và truyền lại qua các đời cho đến ngày nay vẫn còn giữ nguyên vẹn cuốn gia phả trùng tu này.

Có thể nói là những người họ Bùi, rất coi trọng gia phả, coi việc biên tập, bổ sung gia phả là việc làm rất quan trọng, nghiêm túc và là tài sản vô giá của cả cộng đồng dòng họ. Các thế hệ trong họ giữ gìn, bảo quản cuốn gia phả cẩn thận như vật báu trong nhà. Chính vì thế mà con cháu họ Bùi ngày nay mới có cuốn gia phả quý hiếm mà kê khảo xem xét để noi theo sự nghiệp của tổ tông, giữ gìn huyết mạch, bảo thủ được đồng thân. Đúng như câu đối mà Bùi gia phả ký đã ghi:

“ Như sinh công đức truyền gia phả

  Bất tử tinh thần đại tử tôn”

 

  1. Một số chi tiết, nội dung cần được hiểu đúng khi nghiên cứu gia phả:

1-Văn bản nghiên cứu:

– Để nghiên cứu gia phả họ Bùi Hàm Châu cần căn cứ vào bản chính, nguyên văn chữ Hán hiện đang được lưu tại Từ đường thờ cụ Bùi Quang Dũng, là 1 trong 3 bản được trùng tu vào năm Khải Định thứ 3 (1918), đã được kiểm duyệt, đóng dấu kiềm của Tổng đốc Thái Bình Phạm Văn Thụ và dấu giáp lai các trang, vào năm Khải Định thứ 4 (1919). (có 4 bản, 1 bản gốc và 3 bản sao lại, đóng dấu)  Từ đó dịch ra, có bản dịch nguyên văn với chữ Hán. Lại có bản dịch của cụ Châu Xuyên Tử lạc Bùi Công Khoái dịch năm Bảo Đại thứ 10 (1935) được dịch ra chữ quốc ngữ và diễn nghĩa ra văn vần, dưới dạng chương hồi để con cháu trong ngành của cụ dễ xem, hấp dẫn người đọc.

Vì vậy khi nghiên cứu, cần căn cứ vào bản dịch và phần trình bày theo nguyên văn như bản chữ Hán, còn các bản dịch khác chỉ để tham khảo, đối chiếu thêm, không thể dùng đó để đánh giá, suy diễn…

– Một điều quan trọng khác khi nghiên cứu, tham khảo, cần đọc đầy đủ và thật kỹ, tránh việc đọc sơ, đọc đoạn một, như vậy sẽ không cảm nhận được liền mạch, cảm nhận hết. Vô tình, không phản ánh thật đúng và tinh tế những tư tưởng, tình cảm, quan điểm, hoạt động, sự kiện…về những nhân vật được nêu, nhất là cụ Bùi Quang Dũng. Và như vậy, sẽ khó tránh khỏi có những nhận định và đánh giá chưa thật phù hợp.

Chẳng hạn như khi nghiên cứu những chi tiết, hoặc một số chữ Hán trong gia phả. Từ chữ Hán phiên âm ra nghĩa Việt, rất khác so với khái niệm hiểu thông thường của chúng ta, như một số chữ :

+ gia phả bị hủy liệt: có nghĩa là bị rách, mờ, mất trang chứ không phải là bị hủy diệt nghĩa là mất hoàn toàn.

+ gia phả trùng tu : có nghĩa là sửa chỗ mờ, rách, mất trang hoặc bị cháy mất một phần nào đó, cho đúng lại với bản cũ, chứ không phải là làm mới hoàn toàn.

+ Có đánh giá viết rằng: gia phả soạn vào năm 1777 ghi chép những sự kiện cách đó chừng bảy, tám trăm năm thì độ chính xác đến mức nào khi nó đã bị hủy diệt. Ở đây cần xác định rằng cuốn gia phả này không phải bị hủy diệt nghĩa là mất hoàn toàn, mà bị hủy liệt. Đây là cuốn phả để ở Từ đường (tức là cuốn phả chính của dòng họ do Trưởng tộc giữ), ngoài cuốn này ra, trong dòng họ còn có những cuốn phả khác và cả phả chi, do các chi biên chép theo, vẫn còn ở thời điểm đó (thời điểm gia phả chính bị hủy liệt). Do vậy, mới có tư liệu để trùng tu chứ không phải là bị mất hết rồi, sau đó dựa vào trí nhớ để phục dựng và chép vào phả.

+ Hoặc như phải phân biệt và đánh giá được sự khác nhau hoàn toàn giữa nội dung, ý nghĩa trên bia đá khắc bài văn bia Ngự chế Bùi gia Thái tổ sự trạng đặt tại Từ đường với bia đá khắc nội dung bia ký mộ chí của 3 ngôi cấm địa đặt ở mộ, trong đó có bia ký mộ chí của cụ Bùi Quang Dũng. Có như vậy, mới phản ánh đúng những giá trị nghiên cứu về nội dung, chi tiết ghi trên đó.

– Từ xa xưa, cuốn gia phả họ Bùi Hàm Châu được coi như vật báu của dòng họ, được giữ gìn cẩn mật, không ai được phép tự ý cho người ngoài dòng họ xem mượn… Chỉ sau khi có nghị quyết 05 của Đảng và phong trào vấn tổ tìm tông, thì cuốn gia phả mới được Hội đồng gia tộc cho phép cung cấp bản sao cho các chi phái họ Bùi trong và ngoài tỉnh tham khảo tìm về cội nguồn và một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu, lấy tư liệu nghiên cứu về văn hóa lịch sử, truyền thống của địa phương.

2- Những trăn trở và đề nghị của dòng họ:

– Từ khi cuốn gia phả và một số nội dung trong đó, được một số nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử tham khảo, nghiên cứu và đưa lên thông tin. Đã có nhiều luồng ý kiến xuôi chiều, trái chiều về nội dung, nhân vật, tính chân xác cùng những sự kiện ở trong đó. Đây là lẽ đương nhiên, bởi để đánh giá cuốn phả cần phải có những dữ liệu, cơ sở tương thích để đối chiếu chứ không thể căn cứ vào những tư liệu, tài liệu không đủ sức thuyết phục. Tuy nhiên, điều này còn khó vì những nguồn tư liệu, tài liệu như vậy hiện nay hầu như không còn.

– Dòng họ Bùi Hàm Châu chúng tôi rất mong muốn hợp tác và nhận được sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử, các cơ quan chuyên môn, các ban, ngành, đơn vị… trong việc nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn nữa về cụ Bùi Quang Dũng và cuốn phả họ Bùi Hàm Châu. Chúng tôi sẵn sàng cung cấp những tư liệu, thông tin liên quan đến việc nghiên cứu.

– Ngoài việc nghiên cứu trên văn bản là cuốn gia phả với những nội dung được đề cập, cần tìm hiểu qua thực tế, qua những nơi mà cụ Bùi Quang Dũng đã để lại dấu ấn như các làng Bùi Xá được lập từ xưa đến nay vẫn còn. Nơi đây, thờ  cụ làm Thành hoàng, có cả sắc chỉ của vua ban như ở: xã Minh Lãng, huyện Vũ Thư có đền thờ cụ Bùi Quang Dũng cùng với pho tượng cổ của cụ. Hoặc như ở khu Từ – chùa Đồng Đức, xã Phúc Thành, huyện Vũ Thư thờ 4 vị Thánh trong đó, vị đầu tiên là Khai ấp Tiên công Bản cảnh Thành hoàng Bùi Quang Dũng, vị thứ hai là dũng tướng Bùi Quang Đạt, em trai của Khai ấp Tiên công Bùi Quang Dũng và còn nhiều nơi khác được nêu trong gia phả như vùng đất quê hương cụ, động Trinh Thạch nơi cụ ở ẩn…

Đồng thời, cần có sự tìm hiểu, nghiên cứu thực tế qua con người với các địa danh bởi vì vẫn còn đó những con cháu hậu duệ của các cụ họ khác, là các cụ đã được đề cập trong cuốn gia phả họ Bùi Hàm Châu, là những bộ thuộc của cụ Bùi Quang Dũng, hiện vẫn đang sống cùng nhau ở nơi đây, vẫn đang thờ các cụ đó làm Thủy tổ, và còn có những cuốn gia phả của riêng dòng họ mình.

– Dòng họ chúng tôi cũng xin đề nghị, đề xuất với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nếu cần thiết hãy tổ chức thẩm định và kết luận đối với những tác phẩm quý giá của vua Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tông còn được lưu trong cuốn gia phả họ Bùi Hàm Châu, qua đó đánh giá đúng hơn về cuộc đời, sự nghiệp và đóng góp của cụ Bùi Quang Dũng với đất nước.

Xin trân trọng cảm ơn.

Bùi Xuân Sính - hậu duệ đời thứ 34

Trưởng tộc họ Bùi đất Hàm Châu - Thái Bình

 

Tin liên quan:

Họp bàn tổ chức giỗ 1000 năm Thái tổ Trinh Quốc công, Anh dực tướng quân Bùi Quang Dũng (25/07/2018)

Phát biểu đề dẫn hội thảo khoa học "Danh nhân Bùi Quang Dũng - cuộc đời và sự nghiệp"

Hội thảo: Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng trong bối cảnh chính trị, xã hội thế kỷ 10

Đóng góp của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng với nhà Đinh và nhà Lý

Bùi Quang Dũng - Danh thần hai triều Đinh – Lý

THIÊN SÁCH THƯỢNG TƯỚNG TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng (922-1018) – trong tâm thức người dân và hậu duệ họ Bùi

Từ đường Thiên Sách Thượng Tướng quân Bùi Quang Dũng - Di tích lịch sử văn hóa quốc gia

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 13
  • 2605
  • 2,055,303