HỌ BÙI LÀNG TÂY HỒ, PHÚ HỒ, PHÚ VANG, THỪA THIÊN HUẾ

  04/02/2017

Cây có cội, nước có nguồn, con người có tổ tông. Tổ tông họ Bùi làng Tây Hồ nguyên gốc ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá thuộc Châu Hoan ngày trước. Trước thời Lê trung hưng, triều Lê bị họ Mạc chiếm ngôi, lúc ấy từ Nghệ An – Thanh Hoá trở ra đều bị chiến tranh tàn phá nặng nề, binh lửa liên miên, đất nước bị tách đôi thành Nam - Bắc triều (giữa triều Lê và họ Mạc), đời sống nhân dân vô cùng cực nhọc, họ phải bỏ làng đi khắp đây đó, một là để tránh nạn binh đao, hai là để vượt qua cơn đói khổ. Có người bị chết đói dọc đường, có người phải vùi thân nơi chiến địa. Đa số nhân dân bước vào con đường cùng không lối thoát.

Tiền thuỷ tổ của họ ta là ngài Bùi Công Hiền cùng với những đồng hương, đồng niên, đồng cảnh ngộ là các vị thuỷ tổ của các họ Hoàng, Trương Văn, Dương Văn, Dương Đức rời quê hương Thanh Hoá thiên cư vào đất Hoá Châu. Các ngài cùng nhau khai cơ lập nghiệp, định cư ở nơi đất này và đặt tên xã Dung Hồ, thuộc huyện Tư Vinh, phủ Triệu Phong. Từ đó về sau, nhân dân ngày càng sinh trưởng, làng xóm ngày càng trù mật, đất ruộng khai phá ngày càng rộng ra. Với sự tăng trưởng về nhiều mặt, Dung Hồ không thể giữ nguyên một xã. Vào năm Đại Chính thứ 11, các vị tiên hiền của các họ đồng thuận chia Dung Hồ thành hai xã: Đông Hồ và Tây Hồ.

Xã Đông Hồ thuộc tổng Dã Lê, huyện Phú Vang, đông giáp Xuân Ổ thuộc xã Kim Long, huyện Hương Trà, tây giáp xã Tây Hồ, nam giáp xã Lê Xá, bắc giáp Xuân Ổ. Tổng diện tích là 375 mẫu 2 xào 12 thước 1 tấc 8 phân.

Xã Tây Hồ (cùng tổng, cùng huyện với xã Đông Hồ) đông giáp xã Đông Hồ, tây giáp bờ sông Như Ý, nam giáp xã Lê Xá, bắc giáp xã Đồng Di. Tổng diện tích là 631 mẫu 8 xào 3 thước 4 tấc.

Ngài Bùi Công Hiền, thuỷ tổ của họ ta là vị tiền khai canh, khai khẩn của xã Dung Hồ trước đó được các đời vua triều Nguyễn ban tặng sắc phong với thần hiệu là: Bổn thổ khai căn, hiển tước thụ sắc phong, khai cơ nhị xã, Quản lãnh hầu Bùi Công Hiền đại quý công tôn thần. Hiện nay còn bảo tồn thờ tại từ đường họ Bùi cùng với vị tiền khai canh người họ Hoàng, thần chủ của ngài được đặt ở đình làng và có ngôi miếu tiền khai canh (miếu giữa) thờ ngài Bùi Công Hiền tiếp với ngôi miếu thành hoàng giáp xã Đồng Di để tưởng nhớ công ơn ngài Huỳnh.

Căn cứ công lao của các ngài được vua các triều đại ban sắc, vị thứ các họ tộc được xếp thứ tự như sau: ngài Bùi Công Hiền, họ thứ nhất là tiên tổ của hai xã Đông Hồ và Tây Hồ. Hai ngài khai canh Dương Văn Chinh và ngài Huỳnh, thứ nhì. Ngài khai canh Dương Dữ Tín và ngài thuỷ tổ Trương Văn, thứ ba.

Theo tác phẩm “Ô châu cận lục” của Dương Văn An thì tên xã Dung Hồ xuất hiện trước thời Lê trung hưng. Căn cứ vào gia phả của Họ thì từ khi ngài Bùi Công Hiền vào định cư lập nghiệp ở Dung Hồ đến nay đã là 17 đời, ước tính trên 500 năm. Như thế thì ngài thuỷ tổ họ Bùi ta cùng với ngài thuỷ tổ họ Hoàng và các vị khác từ Hoan Châu vào có thể từ thời Hồng Đức, niên hiệu vua Lê Thánh Tông.

người xưa có câu: “Cây có cội, nước có nguồn, chim có tổ, người có tông”. Nhờ công đức của họ Bùi ta mà con cháu từ đời này sang đời khác, trước truyền sau nối, luôn luôn giữ trọn hiếu nghĩa luân thường, không dám quên ơn tổ đức. Từ đời thứ bảy về sau con cháu ngày càng đông, bổn tộc đồng thuận chia làm hai phái:

  1. Giáp phái khởi thuỷ từ ngài cao tổ, Phủ sinh đồ Bùi Công Dục trở về sau

2.      Ất phái khởi thuỷ từ ngài cao tổ, Phủ sinh đồ Bùi Công Chương trở về sau. Ông tổ đời thứ 8 là Bùi Quang Trị nguyên trước xã Đông Hồ xin về bản quán và hình thành một phái nữa: Bính phái

Ngày 20 tháng Giêng năm Thành Thái thứ 16, Hội đồng bổn tộc công nhận Bính phái là phái thứ 3.

Từ đó đến nay họ Bùi ta có 3 phái đều ở xã Tây Hồ.

Họ ta từ trước đã có gia phả, tuy thế thứ tự trước sau có ghi chép và cước chú khá rõ ràng, nhưng ngày qua tháng lại, gia phả không khỏi bị mối mọt. Nhân ngày kỵ của tiên công, các vị trưởng lão trong họ đồng ưng xin toản tu lại. Nguồn gốc nhất nhất kê biên theo thứ tự trước sau không dám để sai sót với bản gốc.

Từ ngài thuỷ tổ đời thứ nhất trở đi đều ghi đầy đủ ở sau để biểu thị lòng hiếu nghĩa của con cháu, vậy từ đời thứ mười sáu trở về sau, tuy chưa được biên soạn tất sẽ phải nối tiếp.

Bản gia phả này được sao lại một lần nữa từ bản gốc đề ngày 20 tháng Giêng năm Ất Tỵ, niên hiệu Thành Thái thứ 16.

                                                                  Ngày 02 tháng 06 năm Ất Mão

                                                      Niên hiệu Bảo Đại thứ 10 (tức ngày 18/7/1939)

                                                                              Người thừa sao

                                                                               Bùi Công Dư

Dịch từ bản gốc Hán Tự

Ngày 16 tháng 4 năm 1999

Người dịch: Nguyễn Đình Thảng

Nhà giáo ưu tú

Khoa Hán tự, trường Đại học Tổng hợp Huế

Người chỉnh lý bản dịch

Tháng Giêng năm 2009-07-26

Bùi Quang Toại

Trưởng tộc họ Bùi Quang

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 9
  • 2539
  • 4,888,884