HỌ BÙI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM

  24/01/2017

Việt Nam có hơn hai trăm dòng họ. Ở mức độ khác nhau, họ nào cũng có đóng góp tó lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Công lao của mỗi dòng họ đối với Tổ quốc thường thể hiện tập trung ở nhữnAg người con ưu tú của dòng họ - các danh thần, danh tướng, danh sĩ, các nhà văn hoá, nhà khoa học, những người đã hy sinh cao cả vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong số hàng triệu người con ưu tú của dân tộc Việt Nam từ thời đại Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh, có hàng ngàn, hàng vạn người mang họ Bùi. Họ là các danh tướng, danh sĩ, nhà khoa học, nhà yêu nước; đã quên mình vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp và những tấm gương sáng về nhân cách của những người con ưu tú họ Bùi còn có ý nghĩa thời sự không chỉ đối với con cháu, hậu duệ họ Bùi, mà còn đối với cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là những người có trọng trách với đất nước hôm nay.

Trong sự nghiệp chống giặc xâm lược bảo vệ Tổ quốc, nhiều người con ưu tú họ Bùi đã dũng cảm chiến đấu hy sinh, để lại những tấm gương sáng cho muôn đời sau. Không thể kể ra hết được, xin nêu lên một số tấm gương tiêu biểu. Danh tướng Bùi Ban đã lập công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược dưới ngọn cờ của Lê Lợi. Nhà yêu nước và là môn sinh, đồng chí của Phan Bội Châu, Bùi Chính Lộ đã trọn đời hy sinh vì sự nghiệp chống xâm lược Pháp (1). Bùi Điều đã cùng Mai Xuân Thưởng - võ tướng khởi nghĩa chống Pháp trên địa bàn rộng lớn ở Nam Trung Bộ, từ Bình Định vào Bình Thuận. Nhà văn, nhà giáo, nhà báo Bùi Nguyễn Khiết đã xung phong ra trận và anh dũng hy sinh trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược 17/2/1979 ở tuổi 36. Nổi bật ở thời đại Tây Sơn là nữ tướng Bùi Thị Xuân, về trí tuệ, về khí tiết, về phẩm hạnh và công lao đối với Tổ quốc, được nhân dân vinh danh.
“Ngàn thu gương nữ kiệt,
Gương sáng hãng soi chung”.
Trong sự nghiệp dựng nước hơn hai ngàn năm, họ Bùi cũng có nhiều người con ưu tú và họ đã có đóng góp to lớn cho dân tộc, cho Tổ quốc.
Trong chiến tranh, phẩm hạnh, khí tiết, lòng trung thành của mỗi người với dân tộc, với Tổ quốc thể hiện tập trung ở sự sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Sự hy sinh là thách thức lớn nhất và hành động xả thân để cứu nước, vì nghiệp lớn đủ nói lên tất cả.
Trong hòa bình xây dựng đất nước, thách thức lớn nhất đối với quan chức ở chốn quan trường là gì? Nơi đây không yêu cầu phải hy sinh tính mạng như trên chiến trường. Phải chăng là “trung quân” – trung thành với vua? Trung thành với vua có đồng nghĩa với trung thành với Tổ quốc, với lợi ích tối cao của dân tộc?
Chỉ khi vua là minh quân như Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Quang Trung..., thì vua với Tổ quốc, với nhân dân là một, và trung thành với minh quân tức là trung thành với Tổ quốc, với lợi ích tối cao của dân tộc. Khi vua quan đã tha hóa, triều chính suy đồi, thì trung thành mù quáng với nhà vua có khi lại là phạm tội lớn, thậm chí là phản bội lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc. Do đó, ngoài trí tuệ, thì đức thanh liêm là đòi hỏi cao nhất đối với mọi quan chức ở chốn quan trường. Các quan chức không sợ liên luỵ đến bản thân và gia đình, không sợ mất bổng lộc, không sợ mất chức và dám can gián vua sửa chính sự để giữ yên xã tắc, là những người hy sinh lớn nhất cho đất nước.
Sự hy sinh nào cho Tổ quốc cũng rất lớn lao và cao cả. Nhưng sự hy sinh ở chốn quan trường bao giờ cũng khó khăn hơn sự hy sinh trong chiến tranh, nơi chiến trường.
Đã có hàng triệu, thậm trí hàng chục triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vì sự trường tồn của dân tộc Việt Nam. Nhưng chỉ có vài trăm quan thanh liêm, chính trực không sợ quyền uy, không sợ mất chỗ ngồi nơi công đường, dám can giám vua để giữ yên xã tắc. Họ để lại tấm gương sáng cho muôn đời sau. Trong số ít những người con ưu tú, siêu việt đó có nhiều người mang họ Bùi.
Bùi Cẩm Hổ, danh thần thời Vua Lê Thái Tông (1434 - 1442) là quan Ngự Sử trung thừa, tính cương trực, dám nói thẳng, không kiêng nể những kẻ quyền thế. Khi đại thần Lê Sát lộng hành trong triều, Bùi Cẩm Hổ đã dâng sớ hặc tội, yêu cầu phải trừng trị Lê Sát.
Bùi Dục Tài (1477 - 1518), danh thời từ đời Lê Túc Tông (1504) đến đời Lê Tương Dực (1510 - 1516) là Tả Thị Lang bộ Lại, thực hiện việc thuyên chuyển quan lại, thăng chức, giáng chức hết sức công minh, chính trực, thanh liêm. Vì ngay thẳng, chính trực, thanh liêm, ông đã bị bọn ninh thần, gian thần trong triều đình giết hại, bọn chúng còn giết hại cả Bùi Vĩ - con trai ông.
Bùi Sĩ Tiêm, danh thần thời Lê - Trịnh, là một quan triều đình rất thanh liên, cương trực. Năm 1731, Bùi Sĩ Liêm dâng tờ khải lên Chúa Trịnh gồm 10 điều vạch trần tình trạng tham quan, ô lại cường hào ức hiếp dân. Ông bị Chúa Trịnh Giang tước bỏ quan chức và đuổi về quê.
Thiết nghĩ, chúng ta cũng cần vinh danh và truyền bá sâu rộng cho hậu thế những hành động sáng ngưòi nghĩa khí của Bùi Cẩm Hổ, Bùi Dục Tài, Bùi Sĩ Tiêm – như tôn vinh Chu Văn An dâng “Thất trảm sớ”. Đã có hàng chục đường phố, hàng chục trường học mang tên Chu Văn An, sao không có một đường phố nào, không có một trường học nào mang tên ba danh thần họ Bùi tận trung với nước, tận hiếu với dân? Những hành động cao thượng và hi sinh lớn lao của Chu Văn An và ba danh thần họ Bùi ở chốn quan trường xưa vẫn còn có ý nghĩa thời sự nóng hổi đối với nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng và cuộc đấu tranh đẩy lùi sự tha hoá về tư tưởng, chính trị, về đạo đức, lối sống trong bộ máy Nhà nước các cấp hiện nay.
Con cháu họ Bùi có quyền tự hào với danh thần Bùi Viện - người mở đường duy tâm cứu nước cách đây gần 110 năm.
Vào những năm 60 – 70 của thế kỷ XIX, vận nước đến hồi suy vong, thực dân Pháp từng bước lấn tới chiếm toàn bộ nước ta. Vua quan triều Nguyễn bạc nhược, sợ giặc, quan lại tha hóa mất lòng dân. Nhiều danh thần, tướng sĩ yêu nước kiến nghị nhà vua sửa đổi triều chính, cải cách đất nước, lấy lại sức dân, chấn hàng đất nước. Nổi bật trong số đó là Nguyễn Trường Tộ (1) và Bùi Viện (1828 - 1878).
Hoàn toàn không cần thiết và không nên so sánh Bùi Viện với Nguyễn Trường Tộ. Nhưng cần thấy sự khác nhau giữa hai ông. Nguyễn Trường Tộ hơn Bùi Viện 11 tuổi, là con chiên ngoan đạo. Sau khi sang Pháp học đại học, Nguyễn Trường Tộ trực tiếp thấy được sự văn minh của Tây Âu. Điều đó đã thôi thúc ông đòi hỏi Triều đình cải cách tân đất nước. Trước khi sang Hoa Kỳ, Bùi Viện chưa sang Tây Âu. Bùi Viện đi Hoa Kỳ với hai mục đích:
1. Thiết lập bang giao với Hoa Kỳ - một cường quốc đang lên để “cân bằng” với Pháp, thực chất là nhờ sự giúp đỡ của Hoa Kỳ để chấn hưng đất nước mà đánh thắng Pháp.
 2. Học cái hay của Hoa Kỳ về kinh tế, giáo dục, kỹ nghệ, tổ chức bộ máy nhà nước để cách tân, quốc hùng đất nước. Về nhiều mặt, con đường sang Oasinhtơn là con đường mới chưa ai khai phá và xa xôi hơn, khó khăn hơn con đường sang Pari.
Nguyễn Trường Tộ và Bùi Viện đều là những nhà tư tưởng lớn với tầm nhìn vượt thời đại, có thể so sánh với Minh Thị Thiên Hoàng của Nhật Bản (1). Nguyễn Trường Tộ và Bùi Viện chỉ là những danh thần có tư tưởng “kinh bang tế thễ” nhưng không cỏ đủ quyền năng như Minh Trị Thiên Hoàng, nên không thể thực hiện được những tư tưởng lớn của mình. Nguyễn Trường Tộ và Bùi Viện sống cùng thời với Minh Trị Thiên Hoàng. Vào nửa sau của thế kỷ XIX, trước khi Minh Trị duy tân, chế độ phong kiến Nhật Bản cũng mục nát như chế độ phong kiến Việt Nam, tức là điều kiện xã hội như nhau. Chỉ khác nhau một điểm, điểm quan trọng nhất và quyết định nhất, là vua Nhật là người nhìn xa trông rộng và đặt việc chấn hưng đất nước lên trên hết; còn vua Việt Nam thì bảo thủ, nhu nhược.
Những tư tưởng lớn của Bùi Viện vẫn có ý nghĩa thời sự, ý nghĩa thời đại, ý nghĩa quốc tế cho hôm nay và ngày mai, cần được tôn vinh. Nhưng hiện nay, mới chỉ có một đường phố ở thành phố Hồ Chí Minh và một trường học ở Thái Bình mang tên Bùi Viện (2). Tại sao ở Hà Nội và các thành phố lớn như Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ và ngay tại Thái Bình - thành phố quê hương của Bùi Viện, không có đường phố nào mang tên ông? Liệu hậu thế (cho đến nay) đã đối xử công bằng đối với Bùi Viện chưa?
Các thế hệ con cháu họ Bùi đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Những người con ưu tú của họ Bùi nhiều như một rừng cây. Bài viết này mới chỉ nhắc đến những người cây cao nhất, to nhất trong rừng cây đó. Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tôi đề nghị:
Một là, tại Hà Nội cần có đường phố và trường học mang tên Bùi Viện và các trung thần Bùi Cầm Hồ, Bùi Dục Tài và Bùi Sĩ Tiêm.
Hai là, Ban liên lạc họ Bùi Việt Nam cần tập hợp tài liệu, biên tập một cuốn sách về họ Bùi trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, phát hành rộng rãi.
Ba là, các cơ quan chức trách của Đảng và Nhà nước (ở cấp cao, cấp quyết định) cần chỉ đạo biên soạn chuyên đề “Khí tiết quan trường nghìn năm soi tỏ” và đưa vào phần cứng của chương trình giảng dạy tại các lớp trung cao cấp chính trị ở Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, các học viện khu vực và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các danh nhân Chu Văn An, Bùi Cẩm Hồ, Bùi Dục Tài, Bùi Sĩ Tiêm, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện... phải là nội dung chính của chuyên đề này.
Những người mang họ Bùi hôm nay có quyền tự hào về những đóng góp to lớn cả họ Bùi vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Những con người ưu tú, tuấn kiệt mang họ Bùi là gương sáng soi chung. Mọi người Việt Nam, trước hết là những cán bộ chủ chốt các cấp trung ương đến địa phương phải noi gương và quan trọng hơn là hãy suy nghĩ và hành động như họ.
LÊ VĂN CƯƠNG
Thiếu tướng, PGS.TS,
Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược khoa học Công an
 

(1) Bùi Chính Lộ hoạt động trong “Việt Nam Quang phục hội”, nhiều lần bị địch bắt, có lần ông giả chết trong nhà tù và mật báo đem chôn sống, các đồng chí của ông đào lên cứu ông, tiếp tục ra hoạt động. Năm 1914, ông bị bắt lần nữa, ông đã tự tử.

(1) Nguyễn Trường Tộ (1830 - 1871), người Hưng Nguyên, Nghệ An, nhân sĩ yêu nước, theo đạo Thiên chúa. 1858 - 1861 học Đại học Xoocbon (Pari). Từ 1866 đề nghị triều đình cách tân đất nước, cử người sang Tây Âu học kỹ thuật, tổ chức bộ máy, cải cách giáo dục... Ông trình vua “Tám điều cấp cứu”, bị vua khước từ. Đến khi ốm nặng vẫn đề nghị cải cách.
(1) Minh Trị Thiên Hoàng trị vì ở Nhật từ 1868. Năm 1868 ông công bố “Chính thể thư” – văn bản cương lĩnh của đường lối duy tân Nhật Bản. Minh Trị duy tân có ý nghĩa như một cuộc cách mạng ở Nhật. Hiến pháp 1889 quy định Nhật Bản theo chế độ quân chủ lập hiến.
(2) Quang Khải, Bùi Viện - Sứ giả Việt Nam dân tiến đến Hoa Kỳ, Nxb. Lao Động, Hà Nội, 2008, tr. 5-6.
Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 16
  • 2343
  • 1,843,503