Ông còn được xem là “ông tổ vẽ tem thư Việt Nam” cùng nhiều danh hiệu mà Nhà nước, giới văn nghệ sĩ và nhân dân tôn vinh. Nhưng ít người biết, phần lớn cuộc đời ông sống trong thanh lặng...

Người thầy kín tiếng

Bùi Trang Chước tên thật là Nguyễn Văn Chước, sinh ngày 21-5-1915, mất ngày 27-2-1992. Nguyên quán ông ở thôn Phú Xá, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm (nay là phường Phú Thượng, quận Tây Hồ), TP Hà Nội. Năm 15 tuổi, ông đã mồ côi mẹ. 5 năm sau thì bố ông mất. Người chú ruột muốn đưa ông vào Sài Gòn ăn học, nhưng ông đã thi đỗ và vào học rồi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, ông đã tỏ rõ là người say mê và có năng khiếu hội họa xuất sắc. Nhất là trong nghệ thuật đồ họa, ông luôn thể hiện là người cẩn trọng. Màu sắc, đường nét trong các tác phẩm của ông luôn kỹ lưỡng và chân xác. Vì thế ra trường, ông được giữ lại làm giảng viên. Nhưng do tình hình Chiến tranh thế giới lần thứ hai, năm 1942, nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương quyết định di chuyển Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương về hai nơi. Bùi Trang Chước được cử theo nhóm vào Đà Lạt, lập Trường Kiến trúc Đà Lạt.

 

 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra và giành thắng lợi, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Bùi Trang Chước hăm hở tham gia cách mạng và vốn đã nổi tiếng toàn Đông Dương về tài vẽ tem, ông được cách mạng giao nhiệm vụ vẽ tem và giấy bạc cho Nhà nước mới. Trong cuộc kháng chiến toàn quốc, ông lên Chiến khu Việt Bắc, lúc đầu công tác tại Ty Văn hóa-Thông tin Phú Thọ, rồi làm giảng viên Trường Cao đẳng Kỹ thuật Việt Nam.

Họa sĩ Thục Phi, nguyên Giám đốc Xưởng tranh cổ động Trung ương đã nói về người thầy của mình trong những năm kháng chiến gian khổ: “Thầy Bùi Trang Chước dạy chúng tôi bố cục, trang trí, viết các kiểu chữ, làm những tấm bằng khen, giấy khen… Môn học có vẻ khô khan. Đã vậy, thầy thường tỏ ra rất nghiêm… nên nói chung, chúng tôi chỉ mong mau thoát khỏi nhiệm vụ bài vở ấy để đi khắp xóm thôn, bãi ruộng, ven đồi ký họa”. Về sau này, khi ra công tác, họa sĩ Thục Phi mới thấm dần giá trị mà những môn học của thầy Bùi Trang Chước truyền dạy. Họa sĩ Thục Phi cùng nhiều bạn bè đồng môn càng hiểu thêm những cống hiến, hy sinh thầm lặng của người thầy, một họa sĩ tài hoa.

Ba dấu ấn đặc sắc

Nhà sử học Lê Văn Lan đánh giá: Họa sĩ Bùi Trang Chước “là người tạo ra rất nhiều dấu ấn đặc sắc để lại cho lịch sử một cách cần mẫn, cẩn trọng và nhất là lặng lẽ”. Riêng trong lĩnh vực đồ họa, theo đánh giá của nhà báo Sơn Định, ông để lại 3 đỉnh cao mà bất cứ ai trong nghề đều mơ ước.

Đỉnh cao thứ nhất là các mẫu đồ họa tem thư. Từ thời Pháp thuộc, chính phủ bảo hộ đã giao cho ông vẽ hàng chục mẫu tem. Đi theo cách mạng, ông miệt mài sáng tạo các mẫu tem của Nhà nước cách mạng non trẻ. Sự sáng tạo hình mẫu các họa tiết tinh vi và siêu nhỏ được ông vẽ bằng tay đã tạo nên sự độc đáo cho mỗi con tem sống mãi với thời gian. Nổi bật trong đó có thể kể như: Mẫu tem “Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và bản đồ Việt Nam” (1951); tem “Chiến thắng Điện Biên Phủ” (1954); tem “Mạc Thị Bưởi” (1956), bộ tem “Trần Đăng Ninh” (1956)… là những bộ tem quý, có giá trị thẩm mỹ cao. Ông không hổ danh là “ông tổ vẽ tem thư Việt Nam”.

 

Tranh sơn khắc Khu gang thép Thái Nguyên năm 1970 của họa sĩ Bùi Trang Chước lưu tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Dấu ấn nổi bật khác là ông đã sáng tác các mẫu huân, huy chương mà đỉnh cao là Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Huân chương Kháng chiến và các loại huy hiệu, trong đó có Huy hiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh cho chuyến bay vào vũ trụ của Việt Nam và Liên Xô; nhiều biểu trưng như biểu tượng của Tổng công đoàn Việt Nam, biểu tượng kỷ niệm Ngày Thương binh-Liệt sĩ… Thiết kế và bố cục mặt tiền Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các mẫu này sẽ mãi mãi hiện hữu, trường tồn cùng đất nước. Rất nhiều người Việt Nam hằng ngày vẫn treo những bằng khen, giải thưởng cao quý trong nhà hay đeo những huân, huy chương trên ngực, nhưng không biết đó là tác phẩm của họa sĩ tài ba Bùi Trang Chước.

Một đóng góp nữa của ông cho hội họa Việt Nam là sáng tác các mẫu tiền đồng cho ngành ngân hàng Việt Nam và Nhà nước Lào. Từ năm 1951, ông được điều về Nhà in Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đảm trách nhiệm vụ vẽ tiền cho đến lúc nghỉ hưu (trừ một số thời gian ông đi biệt phái thực hiện những nhiệm vụ đặc biệt của cách mạng). Do tính chất công việc của mình, ông thường giữ bí mật với cả vợ, con. Cả đời sống âm thầm, lặng lẽ với cây bút vẽ. Ngoài ra, họa sĩ Bùi Trang Chước còn sáng tác nhiều tác phẩm hội họa để đời như: Tranh bột màu và tranh lụa “Thiếu nữ” năm 1938 và 1939; tranh sơn khắc “Vịnh Hạ Long” năm 1960; tranh sơn khắc “Khu gang thép Thái Nguyên” năm 1970; tranh sơn khắc “Thủy điện Thác Bà” năm 1975; tranh sơn khắc “Phong cảnh chùa Thầy” năm 1982...

“Tôi vẽ mẫu quốc huy”

Vượt lên 3 đỉnh cao đó là mẫu Quốc huy Việt Nam được ông sáng tác từ năm 1953 đến 1955-một quốc huy biểu hiện được tâm hồn, tính cách của dân tộc Việt Nam, có tính thẩm mỹ cao, độc đáo, không thua kém bất cứ quốc huy nào trên thế giới.  Theo hồi ký của họa sĩ Bùi Trang Chước, năm 1951, Nhà nước ta có chủ trương vẽ quốc huy và năm 1952 thì phát động thi vẽ mẫu quốc huy. Lúc này, Bùi Trang Chước đang được biệt phái sang Văn phòng Chính phủ vẽ mẫu huân, huy chương và bằng khen của Nhà nước. Một cán bộ Vụ Pháp chế đã gợi ý ông tham gia vẽ mẫu. Ông đã miệt mài thực hiện 94 bản vẽ, 50 bản màu và 44 bản chì. Và từ khoảng 300 mẫu quốc huy do giới hội họa cả nước gửi về, Ban tổ chức đã duyệt chọn ra 15 mẫu (đều của Bùi Trang Chước) có sự thống nhất về ý tưởng để hoàn thiện.

Trong hồi ký “Tôi vẽ mẫu quốc huy” ông viết ngày 26-4-1985, mẫu ông chọn vẽ là mẫu hình tròn, hình cổ truyền giản dị của dân tộc. Về nội dung, Quốc kỳ là biểu tượng cho đất nước nên ông đã lấy nền đỏ, sao vàng để trang trí, qua nội dung này khẳng định từ ngày có Đảng lãnh đạo, cách mạng như có ngôi sao sáng dẫn đường. Xung quanh quốc huy là bông lúa, có mấy bông rủ vào bên trong ôm cái đe ở giữa phía dưới, tượng trưng cho công, nông nghiệp Việt Nam. Dưới ngôi sao gần giữa trung tâm nền là vòng cung mặt trời có tia chiếu sáng chung quanh, gợi lên hình ảnh buổi bình minh… Số mẫu này, ông vẽ làm hai bản. Một bản gửi lên Bác Hồ và được Bác góp ý: Hình tượng cái đe là thủ công nghiệp cá thể; nên dùng hình tượng tượng trưng cho nền công nghiệp hiện đại.

 

Một số mẫu tem thư do họa sĩ Bùi Trang Chước sáng tác

Cuối năm 1954, về tiếp quản Thủ đô, họa sĩ Bùi Trang Chước có điều kiện tiếp tục hoàn thiện mẫu quốc huy của mình. Ông đã tiếp thu ý kiến của Bác Hồ, thay cái đe bằng cái bánh xe để tượng trưng cho công nghiệp. Phía trên trong nền là ngôi sao, dưới ngôi sao ông để trống cho thoáng, không có mặt trời và tia chiếu sáng xung quanh như trước.

Đầu năm 1955, bản thứ 18 mẫu quốc huy của ông được duyệt chọn, chỉ còn đợi hoàn thiện để chính thức công bố thì ông lại nhận nhiệm vụ tuyệt mật, sang nước ngoài vẽ mẫu tiền cho Chính phủ. Bẵng đi một thời gian dài, ông được tin mẫu Quốc huy Việt Nam đã được duyệt và đã in chính thức. Ông xem thì thấy mẫu quốc huy đó từ hình dáng, hình thức trang trí họa tiết đến nội dung, bố cục trình bày đến 90% giống mẫu của mình đã được Trung ương sơ duyệt, nhưng tác giả của mẫu thì… không phải tên ông. Ông đã giữ im lặng trong một thời gian rất dài, đến tận năm 1984 mới viết hồi ký “Tôi vẽ mẫu quốc huy” để cho con cháu và học trò biết chuyện này. Các học trò của ông đề nghị ông viết thư gửi các đồng chí lãnh đạo có thẩm quyền giải quyết thì ông nói: “Chuyện này qua lâu rồi, gần nửa thế kỷ rồi”.

Sau khi ông mất, vợ, con và các học trò của ông đã đi tìm tài liệu có liên quan và gửi kiến nghị lên Chính phủ. Công văn số 42/TB-VPCP ngày 27-2-2004 thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải tại cuộc họp ngày 9-2-2004 chính thức công nhận: Họa sĩ Bùi Trang Chước là người đã vẽ mẫu Quốc huy Việt Nam-mẫu để làm cơ sở lựa chọn và hoàn thiện. Và thế là, sau 12 năm kể từ ngày ông đi xa, ông đã được công nhận chính thức là tác giả vẽ mẫu Quốc huy Việt Nam.  

Họa sĩ Bùi Trang Chước là người hiền hậu, cả đời ông cặm cụi lao động sáng tạo vì nhiệm vụ cách mạng được giao. Ông gần như không để tâm đến danh vọng, địa vị hay vật chất xung quanh. Khi về hưu hơn 10 năm, ông vẫn chưa được phân nhà, trước nỗi khổ của vợ con vì sống trong gian nhà chật chội, ông mới làm đơn xin cấp một căn hộ tập thể. Bất chấp nghèo đói, ông kiên cường cống hiến, dấn thân trên con đường nghệ thuật.

Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu từng có lần đến thăm gia đình họa sĩ Bùi Trang Chước và được gia đình cho xem một số bản vẽ, kể lại hành trình lao động nghệ thuật của ông. Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu cho rằng: “Con người-cuộc sống và tác phẩm, tác phẩm-cuộc sống và con người họa sĩ Bùi Trang Chước quyện chặt tạo nên một nhân cách-nhân cách người nghệ sĩ vì nhân dân, suốt đời lao động nghệ thuật đều lấy phục vụ nhân dân làm mục đích. Sáng tạo ra những tác phẩm là cá nhân nghệ sĩ, nhưng nghệ sĩ lại không nghĩ rằng đó là “của báu” dành riêng cho mình, mà cái lớn hơn là đem cống hiến cho đời, cho sự nghiệp phát triển nền văn hóa dân tộc. Bùi Trang Chước xứng đáng là một họa sĩ-nghệ sĩ chân chính. Người đời mãi mãi trân trọng và ngưỡng mộ nhân cách đó của họa sĩ”.

Họa sĩ Bùi Trang Chước từng được Trung tâm tiểu sử quốc tế Cambridge (Liên hiệp Vương quốc Anh) vinh danh sự cống hiến của ông với hội họa trong sách “Các nhà trí thức” xuất bản lần thứ 13 năm 1999. Viện nghiên cứu Tiểu sử Mỹ, bang North Carolina cũng ghi danh ông vào hàng ngũ những người xuất chúng trong sách “Những người xuất chúng quốc tế” năm 1998.

Bài và ảnh: BÁ QUÁT - TRẦN ĐÌNH