HỘI HƯỚNG THIỆN ĐỀN NGỌC SƠN với sự nghiệp chấn hưng văn hoá Thăng Long

  24/01/2017

Image result for đền ngọc sơnVăn bia “Ngọc Sơn đế quân từ ký” do tiến sĩ Vũ Tông Phan soạn năm 1843 cho biết đích xác đền Ngọc Sơn do hội “Hướng Thiện” tạo dựng năm 1842 không chỉ để thờ thần thánh, mà còn là để cho...”sĩ phu  kết bạn với nhau yêu cảnh này, vì mến tên hồ này mà việc tàng chí khí, tu dưỡng, du ngoạn, nghỉ ngơi đều có nơi chốn”.

Vị hội trưởng đầu tiên của hội Hướng thiện gắn việc tàng khí, tu thân với tên hồ chẳng phải ngẫu nhiên.

     Tên hồ là Hoàn Kiếm, gắn liền với một thời đại thịnh trị ( đời vua Thái Tổ, Thánh Tông, thóc lúa đầy đồng, làng xóm yên vui...”), với một đỉnh cao văn hoá rực rỡ những tên tuổi Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Trạng Lường (Lương Thế Vinh), Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan) v.v...

     Trước khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, hoạt động của hội “Hướng Thiện” đền Ngọc Sơn do sĩ phu Hà thành lập ra, đã góp phần tích cực trong việc ngăn chặn “sóng lớn văn hoá giả” ở buổi đầu triều Nguyễn, chấn hưng văn hoá Thăng Long, đưa Hà Nội từ chỗ hoang tàn và suy đồi lên địa vị, theo nhận xét của phóng viên báo Le Courrir de Saigon, “thành phố đứng đầu vương quốc về nghệ thuật, về kỹ nghệ, thương nghiệp, sự giầu có, số dân đông đúc, sự lịch duyệt và học vấn”.

     Sau khi nước ta bị Pháp chiếm, hoạt động của một hội do sĩ phu chủ trương đương nhiên bị hạn chế, bởi lẽ tên giám mục kiêm do thám Puginier từng nhận định chính xác: “Cánh nhân sĩ là, và sẽ luôn luôn là thù địch với chính nghĩa của người Pháp”. Mặc dù vậy, phương châm hướng thiện, tu dưỡng đạo lý cổ truyền của Hội, khách quan có ý nghĩa tiến bộ nên khi có thời cơ “đạt”, Hội lập tức có liên hệ với cuộc vận động văn hoá xã hội yêu nước như trên đã nói.

     Kinh thành từng điển hình về trật tự, kỷ cương thì nay:

Quanh thành trộm cướp nổi triền miên

- Một đêm năm lần cháy trong phố.....

Và nơi xưa được coi là mực thước về thanh lịch, về thuần phong mỹ tục, thì bây giờ:

- Đi học chỉ cốt giật tiếng Nho.

- Đi buôn chửa giầu đã khoe của.

- Cư dân thường túm tụm ba hoa

- Bộ hành áo quần cực diêm dúa

- Sòng bạc tràn lan khắp gần xa.

- Chiếu rượu, sạp ca thâu sớm tối.

- Tâng bốc láng giềng, nịnh thân gia.

- Không còn nửa phân lòng trung hậu.....

(Vũ Tông Phan, cuộc đời và thơ văn – Văn học – 1995)

     Trước tình hình đó, ông nghè làng Tự Tháp bên Hồ Gươm Vũ Tông Phan cùng một số nhà khoa bảng có uy tín trong hội Hướng Thiện và ở Hà thành như phó bảng Nguyễn Văn Siêu, các ông nghè Nguyễn Văn Lý và Lê Duy Trung, ông Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng v.v... chủ trương chấn hưng văn hoá, ông cử Đặng Huy Tá giải thích rõ ngụ ý của tên “Trấn ba đình” khi Thần Siêu, hội trưởng thứ hai của hội “Hướng Thiện” (sau khi Vũ Tông Phan mất) đứng ra trùng tu đền Ngọc Sơn, xây thêm Đài Nghiên, Tháp Bút, Đình Trấn ba (Trùng tu Văn Xương miếu bi ký – 1865).

     Theo đúng lời dạy của Thánh hiền: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, các nhà Nho trong hội “Hướng Thiện” Ngọc Sơn bắt đầu công cuộc chấn hưng văn hoá từ việc hướng dẫn cho mọi người tu dưỡng chính bản thân mình, dựng “cột  trụ ngăn sóng lớn văn hoá giả” trước hết ngay trong tâm tính của mình, chính tâm (tức ngay thẳng tâm tính) bằng cái Thiện, hiểu theo ý rộng là “chủ trương làm những việc có ích cho người” (Vũ Tông Phan) nói chung (chứ không phải chỉ có việc từ thiện !) và ngăn chặn những dục vọng xấu xa, mà mặt thứ hai này thậm chí còn quan trọng hơn: “Người ta làm điều Thiện, không gì bằng ngăn lòng dục của người mà bảo tồn lẽ phải của trời” (Đặng Huy Tá).

     Để chấn hưng văn hoá theo phương châm trên, hội “Hướng Thiện” đã biến đền Ngọc Sơn thành một giảng đàn: đều đặn vào các ngày 2 và 16 (ÂL) hàng tháng, Hội tổ chức những buổi giang Thiện: kinh khuyến Thiện của Văn Xương đế quân, Kinh về lòng hiếu thảo (Văn Xương Hiếu kinh) viết: -Vạn ác dâm vi thủ. –Bách hạnh hiếu tác tiên,nghĩa là : “trong vạn tội ác, dâm đi trước, trong trăm trí tốt, hiếu đứng đầu”. Không phải chữ Trung mà là chữ Hiếu làm nền tảng cho tất cả: -Hiếu trị nhất thân, nhất thân tự lập. -Hiếu trị nhất gia, nhất gia tự thuận. -Hiếu trị nhất quốc, nhất quốc tư nhân. -Hiếu trị thiên hạ, thiên hạ tư bình, -Hiếu sự thiên địa, thiên địa tư thành thông.

     Ư thiên hạ vô phân quý tiện.   (lấy Hiếu răn thân, thì thân lập được; lấy Hiếu tề gia, thì nhà thuận hoà; lấy Hiếu trị nước, thì nước nhân nghĩa; lấy Hiếu trị thiên hạ, thì thiên hạ thái bình; lấy Hiếu phụng thờ Trời Đất, thì Trời Đất hoà hợp nơi thiên hạ không còn phân biệt sang hèn)......, Kính Đạo Nam (Bà Chúa Liễu Hạnh) như: Ái quốc caHợp toàn thể, Khuyến sĩ, Khuyến nông, Khuyến công, Khuyến thương, Dạy nữ công, Cần làm nghề..... Kinh tâm pháp, Đức Thánh Trần (Hưng Đạo), Phùng Tướng công (Khắc Khoan), Phạm Điện suý (Ngũ Lão) “giảng tại các đàn Thiện địa phương đến tận tháng Tám 1945.

     Cuối năm 1945, vào dịp giáp Tết độc lập đầu tiên Hồ Chủ tịch đã đến thăm hội “Hướng Thiện” Ngọc Sơn, trò chuyện thân mật với cụ hội trưởng Vũ Bội Hoàn (chắt nội cụ nghè Vũ Tông Phan) cùng một số hội viên và căn dặn: “Các cụ đã cao tuổi mà vẫn còn giảng “Thiện” cho bà con theo. Thế là rất quý. Tôi xin phép gợi thêm vài ý. Tôi nghĩ điều “Thiện” lớn nhất là yêu nước, yêu dân chủ, điều Ác lớn nhất là xâm lược, áp bức. Tôi đề nghị các cụ khi giảng “Thiện” nên chú ý khuyên đồng bào bảo vệ độc lập, tự do và tăng gia sản xuất, xây dựng dân chủ” (Báo Nhân Dân, 22 – 8 – 1995).

     Thiết tưởng, không ít bài kinh của hội “Hướng Thiện” vẫn còn nguyên giá trị đến ngày hôm nay, như bài sau đây trong Kinh tâm pháp:

LỜI THỀ

Từ rày giở về sau mãi mãi,

Thề không tham của cải của người

Thề không hoa nguyệt chơi bời

Thề chừa cờ bạc, thề thôi rượu càn

Thề không dám ăn gian, nói dối.

Thề không oán mới thù xưa.

Thề giúp kẻ sa cơ.

Thề trong việc “Thiện” từ giờ gắng công.

Ơn cha mẹ, thề không phụ bạc.

Thờ sống sao, thờ thác làm vậy.

Nước – Nhà nghĩa hợp xưa nay

Thề xin sau trước thẳng ngay một lòng

Có vợ chồng thề không lỗi đạo,

Sống thuỷ chung, giai lão bách niên.

Anh em nhường dưới kính trên,

Thề xin hoà mục cho yên cửa nhà.

Chơi với bạn, nếu mà lường gạt,

Thề xin cam trừng phạt lần hồi.

Thầy trò, nghĩa lớn ở đời,

Con mà bội bạc, Đức Ngài chứng tri...”

Xuân Bính Tý 1996         

Vũ Thế Khôi.

(Bài đã đăng trong tạp chí Xưa và Nay, số 30 tháng 8/1996)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 9
  • 17195
  • 4,331,416