Hội thảo: Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng trong bối cảnh chính trị, xã hội thế kỷ 10

  19/07/2018

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đức Nhuệ, Viện phó Viện Sử học phát biểu tại Hội thảo

Trong Hồ sơ kiểm kê di tích lịch sử đợt I và đợt II (năm 1968) của Ty Văn hóa Thông tin tỉnh Thái Bình có đề cập đến nhân vật lịch sử triều Đinh là Bùi Quang Dũng – thủy tổ của dòng họ Bùi ở ấp Hàm Châu (nay thuộc xã Tân Bình, thành phố Thái Bình)[1]. Ấp Hàm Châu xưa là vùng đất được phong của Bùi Quang Dũng. Nội dung bài viết của nhà nghiên cứu Đặng Hùng đăng trên báo Thái Bình năm 2010 cũng cho biết về những đóng góp của nhân vật Bùi Quang Dũng đối với các triều Đinh, Tiền Lê và những năm đầu triều Lý. Tư liệu điền dã ở địa phương Thái Bình và nội dung bản Gia phả[2] của họ Bùi ở làng Đồng Thanh, xã Tân Bình cho biết Bùi Quang Dũng quê gốc ở miền Phong Châu (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), ông sinh năm Nhâm Ngọ (922), mất năm Mậu Ngọ (1018), hưởng thọ 97 tuổi. Bùi Quang Dũng sống gần trọn 8 thập kỷ trong thế kỷ X và hai thập niên đầu thế kỷ XI, do vậy những biến cố lịch sử to lớn trong thế kỷ X đã tác động mạnh mẽ đến chí hướng và hành động của Ông.

Thế kỷ X – thế kỷ bản lề, thế kỷ chuyển đổi từ thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc sang thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc ta – đã dồn dập diễn ra nhiều sự kiện trọng đại.

Dưới đây là tổng quan diễn biến lịch sử trong thế kỷ X và những yếu tố quan trọng nhất tác động đến sự nghiệp của danh nhân Bùi Quang Dũng:

– Năm 905, hào trưởng Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ lật đổ ách đô hộ của nhà Đường, tự xưng Tiết độ sứ, mở đầu nền độc lập tự chủ, thực hiện một số cải cách về kinh tế, xã hội và tổ chức hành chính của đất nước. Chính quyền họ Khúc tồn tại đến năm 930 thì bị nhà Nam Hán đem quân xâm lược. Khúc Thừa Mỹ bị bắt, nước ta lại bị nội thuộc vào triều đình Nam Hán[3].

– Năm 931, Dương Đình Nghệ, bộ tướng của họ Khúc đồng thời là một hào trưởng có thế lực ở Ái châu đem quân ra Đại La lật đổ chính quyền đô hộ của nhà Hậu Lương, xưng Tiết độ sứ, tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc. Năm 937, Kiều Công Tiễn – bộ tướng của Dương Đình Nghệ đã sát hại chủ tướng, đoạt chức Tiết độ sứ. Từ chỗ phản chủ, Kiều Công Tiễn nhanh chóng trở thành kẻ phản quốc. Được tin, Ngô Quyền từ Ái châu tiến quân ra thành Đại La, Kiều Công Tiễn đã sai người sang Nam Hán cầu viện binh, tạo điều kiện cho Hoằng Thao chỉ huy đại binh tiến xuống xâm lược nước ta. Cuối năm 938, Ngô Quyền đã đánh tan đại quân xâm lược Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Sau “võ công vĩ đại đến nghìn năm” ấy, mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đặt trăm quan, định ra triều nghi phẩm phục, đóng đô ở Cổ Loa với ý nghĩa phục hồi lại quốc thống. “Tuy chưa xưng đế và đặt niên hiệu nhưng chính thống của nước ta hầu như đã được nối lại” (Lời bàn của Lê Văn Hưu). Triều Tiền Ngô (Ngô vương Quyền) tồn tại không dài nhưng “quy mô đế vương cũng đã thấy được” (Lời bàn của Ngô Sĩ Liên).

  1. Trong hàng chuỗi sự kiện lịch sử trọng đại và dồn dập của thế kỷ X, chiến thắng Bạch Đằng giành độc lập dân tộc năm 938 tạo cơ sở cho sự ra đời của vương triều Ngô được coi như là một sự kiện mang tích bước ngoặt. Nó chấm dứt hoàn toàn và vĩnh viễn ách đô hộ của chính quyền phương Bắc kéo dài hơn mười thế kỷ, đồng thời mở ra một chương mới tươi sáng trong tiến trình lịch sử dân tộc. Sự kiện lịch sử trọng đại này được sử gia Ngô Thì Sĩ giành cho những lời tán dương xứng đáng: “… chiến thắng Bạch Đằng là cơ sở của việc phục hồi quốc thống. Về sau đến Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào dư âm lẫm liệt của trận ấy. Võ công lớn ấy còn vĩ đại đến nghìn năm, chứ có phải chỉ rạng rỡ một thời mà thôi đâu!”[4]. Khi Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thiết lập vương triều Ngô độc lập, tự chủ thì Bùi Quang Dũng đã bước vào tuổi trưởng thành nhưng Ông chưa có cơ hội tham gia vào các sự kiện lớn của đất nước.

Tồn tại từ năm 939 đến năm 965 (năm Ngô Xương Văn mất), triều đình Cổ Loa chia làm 3 thời kỳ: thời Tiền Ngô Vương (939-944); thời kỳ Dương Tam Kha nắm quyền (944-950) và Hậu Ngô vương (950-965).

Thời kỳ thứ nhất: Vương triều Ngô được thành lập trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Sau khi giành quyền tự chủ vào năm 905, họ Khúc đã có một số cải cách nhất định trên một số lĩnh vực nhưng về cơ bản nền kinh tế, chính trị – xã hội của đất nước vẫn chưa thật sự được phục hưng sau hơn 10 thế kỷ bị ngoại bang đô hộ. Tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc, Dương Đình Nghệ tự xưng Tiết độ sứ, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ nhưng thời gian tồn tại của chính quyền họ Dương quá ngắn ngủi (từ năm 931 đến năm 937) do đó chưa để lại được thành tựu nào đáng kể. Có thể nói, trong gần 4 thập kỷ đầu thế kỷ X, các chính quyền họ Khúc, họ Dương vẫn chưa tạo được sự chuyển biến thực sự mang tính bước ngoặt trên các lĩnh vực chính trị (như hoàn thiện bộ máy nhà nước, hệ thống pháp luật, quân đội…), kinh tế và văn hoá-xã hội.

Ý thức rất rõ việc “phục hồi quốc thống”, ngay sau khi xưng vương, Ngô Quyền không định đô ở thành Đại La – một trung tâm chính trị của các chính quyền đô hộ, một trung tâm kinh tế sầm uất của đất nước thời bấy giờ – mà chọn Cổ Loa – kinh đô của nhà nước Âu Lạc thời An Dương vương – làm kinh đô cho triều đại của mình. Trong gần 6 năm trị vì của Ngô vương Quyền (939-944), triều đình Cổ Loa tương đối yên bình. Với tài năng và uy danh “diệt giặc trong nước để trả thù cho chúa, đuổi giặc ngoại xâm để cứu nạn cho nước, xây dựng quốc gia, khôi phục quốc thống, công nghiệp thật là vĩ đại”, Ngô Quyền thực sự  khẳng định được vị thế của mình trước đội ngũ tướng lĩnh và quân dân. Những phức tạp chính trị – xã hội trong nội bộ triều đình Cổ Loa và bên ngoài bắt đầu diễn ra sau khi Ngô vương Quyền qua đời. Về đại thể, mô hình nhà nước vương triều Ngô vẫn còn trong tình trạng sơ khai, chưa hoàn thiện và chưa đủ khả năng quản lý đất nước một cách chặt chẽ. Ở địa phương, tổ chức công xã nông thôn với đặc trưng phân tán của nó vẫn còn tồn tại đậm nét. Tình trạng phân tán đó còn được duy trì với sự hiện diện của tầng lớp thổ hào. Đây là những thế lực vùng, sẵn sàng cát cứ, ly tâm với triều đình Cổ Loa khi có điều kiện.

Thời kỳ thứ hai: Năm 944, Ngô vương Quyền mất, thọ 47 tuổi. Trước đó, ông ký thác Ngô Xương Ngập cho người em vợ là Dương Tam Kha giúp đỡ việc triều chính nhưng Dương Tam Kha đã giành ngôi của cháu, tự xưng là Bình vương buộc Xương Ngập phải chạy trốn về miền Trà Hương (Nam Sách, Hải Dương) nương náu tại nhà Phạm Lệnh công (tức Phạm Phòng Át). Mâu thuẫn trong nội bộ triều đình Cổ Loa dẫn đến loạn lạc khắp nơi bắt đầu từ sự biến này. Trong chiến trận Bạch Đằng (938), dưới sự tổng chỉ huy của Ngô Quyền, các bộ tướng Dương Tam Kha, Ngô Xương Ngập, Đỗ Cảnh Thạc … từng sát cánh bên nhau chống giặc ngoại xâm. Sau khi vương triều Ngô thành lập, chính những tướng lĩnh này là trụ cột của triều đình Cổ Loa. Việc Dương Tam Kha tiếm quyền, truy sát Ngô Xương Ngập (người kế nghiệp Ngô vương Quyền) đã gây nên sự bất bình trong đội ngũ tướng lĩnh ở trong triều và thổ hào ở các địa phương. TheoCương mục cho biết: “Từ sau khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, thổ hào các nơi đua nhau nổi dậy”. Trên thực tế, từ sau năm 965, cục diện 12 “sứ quân” mới hình thành trọn vẹn nhưng trước đó đã có Trần Lãm hoạt động ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình). Cũng từ sau sự kiện Dương Tam Kha xưng là Bình vương, trị vì ở Cổ Loa thì tại nhiều địa phương, các thế lực vùng mới có điều kiện trỗi dậy mạnh mẽ. Về nhân vật Dương Tam Kha cùng với việc “tiếm quyền”, trước đây sử gia phong kiến cực lực lên án. Theo những nghiên cứu gần đây dưới nhiều góc độ khác nhau, nhân vật này đã được đánh giá khác trước. Theo nguồn sử liệu cho biết, năm 950, Ngô Xương Văn cùng các tướng Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi nhân đem quân đi dẹp loạn ở hai thôn Đường, Nguyễn (nay thuộc miền Ba Vì, Sơn Tây, Hà Nội) đã quay về Cổ Loa, giáng truất Dương Tam Kha xuống làm Trương Dương công và ban cho thực ấp ở Chương Dương độ. Sở dĩ Ngô Xương Văn không giết Dương Tam Kha vì nghĩ đến công nuôi dưỡng hay còn vì lý do nào khác? Chỉ biết rằng, sau này Dương Tam Kha được nhiều địa phương thờ phụng. Nơi thờ chính Dương Tam Kha là ở làng Chương Dương (huyện Thường Tín, Hà Nội). Ông được các triều đại quân chủ sau này ban nhiều đạo sắc, bao phong là Bột Hải đại vương.

Thời kỳ thứ ba: từ sau khi Ngô Xương Ngập chết, Ngô Xương Văn nối ngôi (sau năm 954), triều đình Cổ Loa ngày càng bạc nhược, suy đồi. Biểu hiện rõ nét nhất là việc Ngô Xương Văn sai người sang sứ nhà Nam Hán xin vua Nam Hán là Lưu Thạnh ban cho chức Tĩnh Hải tiết độ sứ kiêm Đô hộ – tức đưa nước ta nội thuộc vào nhà Nam Hán như trước kia. Mặc dù sau đó Ngô Xương Văn khước từ, không cho Cấp sự trung Lý Dư sang sách phong nhưng hành động đó cho thấy tính yếu hèn, nhu nhược của Ngô Xương Văn cũng như sự yếu hèn của triều đình Cổ Loa lúc bấy giờ. Tình trạng khủng hoảng quyền lực trong triều đình Cổ Loa thực sự diễn ra sau khi Ngô Xương Văn qua đời. Trong nước không người đứng chủ. Các tướng Kiều Tri Hựu, Lữ Xử Bình, Đỗ Cảnh Thạc tranh nhau làm vua. Đất nước thực sự rối ren, loạn lạc. Đây là điều kiện để cho các thế lực vùng, các thổ hào, hào trưởng, tập hợp lực lượng đem quân đánh lẫn nhau. Trong khoảng 2 năm (966-967), 12 “sứ quân” xây dựng lực lượng cát cứ, khuynh loát lẫn nhau.

Sử liệu chép về thời Ngô không nhiều nhưng chắc chắn từ sau khi Ngô Xương Văn giành lại được vương quyền (950) triều đình Cổ Loa không quản lĩnh được các địa phương như thời Tiền Ngô vương. Ngoài Trần Lãm ly khai với triều đình Cổ Loa và có ý đồ cát cứ từ trước, muộn nhất đến năm 951, Đinh Bộ Lĩnh đã xây dựng được một lực lượng tương đối mạnh hoạt động ở vùng Hoa Lư (Ninh Bình). Về thế lực của họ Đinh sau năm 950, chính sử cho biết: “Lúc ấy người động Hoa Lư là Đinh Bộ Lĩnh, cậy khe núi hiểm trở kiên cố, không giữ phận làm tôi…”. Sau, Đinh Bộ Lĩnh liên kết với sứ quân Trần Lãm, được ông trao cho binh quyền và trở thành một lực lượng mạnh trong cục diện các sứ quân đương thời.

  1. Thế kỷ X gắn với cục diện 12 “sứ quân”. Tuy cục diện này diễn ra ngắn ngủi, khoảng 2 năm (966-967) nhưng cũng cho thấy rõ sự ảnh hưởng đậm đặc của “thế lực vùng”, “thủ lĩnh vùng” mà tàn dư của nó còn rơi rớt lại ở những thế kỷ sau này. Qua khảo sát địa bàn quản lý và phạm vi hoạt động của các “sứ quân” sau này cho thấy tuyệt đại bộ phận các “sứ quân” đều tập trung ở dọc các dòng sông: sông Hồng, sông Đuống, sông Tích. Lấy Cổ Loa – kinh đô thời Ngô – làm trung tâm, thì gần là Yên Lạc (Nguyễn Khoan), Tế Giang (Lã Đường), Tiên Du (Nguyễn Thủ Tiệp), Tây Phù Liệt (Nguyễn Siêu) và xa nhất là Bình Kiều (Ngô Xương Xí), Hồi Hồ – Cẩm Khê (Kiều Thuận)… Sở dĩ có hiện tượng trên là do nguyên nhân bên trong và tác động từ bên ngoài. Trong công trình Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, tác giả Nguyễn Danh Phiệt cho rằng: “Về bên trong, điều có thể đoán định mà không sợ sai lầm trong buổi đầu giành lại và xây dựng nền độc lập tự chủ, chính quyền trung ương từ thời họ Khúc, họ Dương đến họ Ngô đã tiếp quản các đơn vị hành chính thời thuộc Đường, cũng chỉ giới hạn phạm vi kiểm soát được các vùng đồng bằng và trung du thuộc châu thổ sông Hồng là chủ yếu, và phần nào ở cùng sông Mã, sông Lam. Còn lại các vùng thượng du và vùng biên viễn vẫn nằm trong tình trạng rang buộc lỏng lẻo như trước…”[5].

Thời điểm này, Bùi Quang Dũng đã ngoài 40 tuổi, đã đủ độ chín để suy xét mọi việc, “bàn thế sự, luận anh hùng”. Tài liệu Gia phả cho biết, trong 12 sứ quân thời bấy giờ, các sứ quân Ngô Xương Xí ở Bình Kiều (Triệu Sơn, Thanh Hóa), sứ quân Kiều Công Hãn ở Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ) và sứ quân Đỗ Cảnh Thạc chiếm giữ miền Đỗ Động giang (thuộc Thanh Oai, Hà Nội ngày nay) biết rõ tài năng, đức độ của Bùi Quang Dũng nên cho người đến mời Ông về giúp nhưng đều bị từ chối. Ông đang tìm một bậc minh chúa, tìm một vị anh hùng thời loạn để phù trợ và người đó chính là Đinh Bộ Lĩnh, khi ấy đang là một thế lực mạnh hoạt động ở vùng rừng núi Hoa Lư (Ninh Bình) liên kết lực lượng với sứ quân Trần Lãm, đóng giữ vùng Bố Hải khẩu (Thái Bình).

Bằng nhiều biện pháp (liên minh, chinh phạt) Đinh Bộ Lĩnh đã hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước vào năm 967. Vương triều Đinh ra đời, mở đầu một thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài của quốc gia Đại Cồ Việt, Đại Việt – Việt Nam.

III. Thế kỷ X ghi nhận sự ra đời của quốc gia Đại Cồ Việt, mở đầu là triều Đinh (Đinh Tiên Hoàng đế). Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, dựng kinh đô ở Hoa Lư, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt “đắp thành đào hào, dựng cung điện, đặt triều nghi… đặt vạc lớn giữa sân, nuôi hổ dữ trong cũi…” để thi hành pháp lệnh. Về cơ bản, mô hình Nhà nước quân chủ tập quyền thời Đinh còn phôi thai, bộ máy Nhà nước, hệ thống pháp luật còn dân dã, thô phác. Trong hệ thống quan lại triều Đinh được ghi chép trong các bộ chính sử sau này chỉ thấy xuất hiện tên tuổi một số võ tướng gắn bó mật thiết với Đinh Bộ Lĩnh từ thời “dẹp loạn” như Định Quốc công Nguyễn Bặc, Lê Hoàn, Trịnh Tú, Lưu Cơ (Huân thần khai quốc), Phạm Hạp, Phạm Cự Lạng (dòng dõi cựu thần); Phạm Bạch Hổ, Trần Thăng, Ngô Nhật Khánh, Đỗ Thích (cựu các sứ quân hoặc dòng dõi các sứ quân); Ngô Chân Lưu, Trương Ma Ni, Đặng Huyền Quang (tăng lữ)… Nguồn tư liệu địa phương như thần tích, gia phả, bi ký ghi nhận thêm một số nhân vật khác  trong bộ máy chính quyền nhà Đinh buổi đầu như sứ quân Trầm Lãm; Tả bộc xạ Lê Lương (nguyên là một thổ hào lớn ở Thanh Hóa); Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng (Thái Bình) và Kiến Nghĩa hầu Nguyễn Tấn (Nam Định) được xếp huân thần khai quốc[6].

Theo các tài liệu đã dẫn trên, sau khi vương triều Đinh được thiết lập, Bùi Quang Dũng được Đinh Tiên Hoàng cử về trấn trị miền Bố Hải khẩu, nguyên trước là căn cứ của sứ quân Trần Lãm. Ông đã chiêu tập dân nghèo tổ chức khẩn hoang lấn biển, xây dựng làng ấp, phát triển sản xuất nông nghiệp tạo nên một miền quê trù phú. Ông đã để lại rất nhiều ân huệ cho các thế hệ nhân dân vùng Bố Hải khẩu (Thái Bình). Trong toàn bộ thời gian gắn bó với triều Đinh (968-979), hầu như Bùi Quang Dũng không tham gia vào đời sống chính trị ở kinh đô Hoa Lư mà gắn bó mật thiết với vùng đất Bố Hải khẩu – nơi ông trị nhậm, tổ chức mở mang khai phá với chức tước được phong là Trấn Đông Tiết độ sứ.

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị Đỗ Thích sát hại, Đinh Toàn lên ngôi khi mới 6 tuổi, Dương Thái hậu điều hành chính sự với sự trợ giúp của Phó vương Lê Hoàn. Nhân cơ hội này, nhà Tống (Trung Quốc) mưu đồ xâm lược Đại Cồ Việt. Tại triều dình Cổ Loa, được sự cổ súy của hàng ngũ tướng sĩ, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua (980). Để bảo vệ vương triều Đinh, một số cựu thần nhà Đinh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp dấy binh chống lại Lê Hoàn nhưng thất bại. Bùi Quang Dũng là một huân thần khai quốc triều Đinh nhưng ông không tham gia vào cuộc tranh chấp trên chính trường Đại Cồ Việt lúc bấy giờ mà lại rất tích cực tham gia vào công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm do Lê Hoàn lãnh đạo giành thắng lợi (981). Tuy nhiên Bùi Quang Dũng cũng không cộng tác với vương triều mới (triều Tiền Lê) mà ông lui về ẩn dật tại động Trinh Thạch khi mới bước vào tuổi 60. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, khi Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra triều Lý (1009), nghe danh tiếng của Bùi Quang Dũng ở miền Bố Hải khẩu đã cho người ra mời ông về giúp triều đình nhưng ông từ chối. Lúc này Bùi Quang Dũng đã bước vào tuổi 90 do đó việc Lý Thái tổ khẩn mời Ông về giúp việc chính sự chỉ có ý nghĩa tinh thần, phù hợp với đạo lý trọng xỉ (trọng tuổi tác). Lý Thái tổ muốn dựa vào uy tín của một bậc trưởng thượng để cố kết nhân tâm, nhất là trong buổi đầu triều Lý, tình trạng phân quyền cát cứ còn diễn ra ở một vài địa phương ngoại vi Thăng Long, trong đó có hiện tượng “nổi loạn” diễn ra ở vùng Bố Hải khẩu.

Như vậy, Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng sống và hoạt động gần trọn trong thế kỷ X – thế kỷ của những biến động lịch sử to lớn mang tính bước ngoặt. Thế kỷ X đã phản ánh tương đối trọn vẹn thực tế lịch sử – là thế kỷ tạo nên bước chuyển giữa hai thời kỳ khác biệt: thời kỳ Bắc thuộc, chống Bắc thuộc sang thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc Việt Nam, với sự ra đời của vương triều Ngô đóng đô ở Cổ Loa; vương triều Đinh, Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư với quốc hiệu Đại Cồ Việt. Thế kỷ X cũng đã đánh dấu bước trưởng thành của ý thức dân tộc với sự tự khẳng định ý chí tự cường, bản lĩnh dân tộc trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập non trẻ. Trong hành trình cùng Đinh Bộ Lĩnh “dẹp loạn”, phụng sự vương triều Đinh (968-979), tham gia cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 và những năm tháng đầu triều Lý, Bùi Quang Dũng đã thể hiện trọn vẹn tài năng, nhân cách của mình và có những cống hiến xuất sắc cho lịch sử dân tộc trong thế kỷ X.

[1] Dẫn theo Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước. Nxb KHXH, Hà Nội, 1990, tr.78, 133.

[2] Nhà nghiên cứu Đặng Hùng cho biết: Hiện nay đòng họ Bùi ở làng Đồng Thanh (xã Tân Bình, Thành phố Thái Bình) còn lưu một bản Gia phả cổ viết bằng chữ Hán (có đóng ấn vào năm 1919 của Tuần phủ Thái Bình khi đó là Phạm Văn Thụ). Trong các trang của cuốn Gia phả đều có dấu giáp lai của Lý trưởng  xã Đồng Thanh.

[3] Đây là thời kỳ Ngũ đại, thập quốc ở Trung Quốc, trong đó Nam Hán là một tiểu quốc do Lưu Ẩn thành lập năm 905, đóng đô ở Quảng Châu.

[4] Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb KHXH, Hà Nội, 1997, tr.140.

[5] Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước. Nxb KHXH, Hà Nội, 1990, tr.28.

[6] Nguyễn Danh Phiệt: Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước. Nxb KHXH, Hà Nội, 1990, tr.108.

PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ - Viện Phó Viện Sử học

 

Tin liên quan:

Họp bàn tổ chức giỗ 1000 năm Thái tổ Trinh Quốc công, Anh dực tướng quân Bùi Quang Dũng (25/07/2018)

Phát biểu đề dẫn hội thảo khoa học "Danh nhân Bùi Quang Dũng - cuộc đời và sự nghiệp"

Bùi Quang Dũng - Danh thần hai triều Đinh – Lý

THIÊN SÁCH THƯỢNG TƯỚNG TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng (922-1018) – trong tâm thức người dân và hậu duệ họ Bùi

Từ đường Thiên Sách Thượng Tướng quân Bùi Quang Dũng - Di tích lịch sử văn hóa quốc gia

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 11
  • 432
  • 1,430,474