KHÚC KHẢI HOÀN CA TRONG NGÀY VUI ĐẠI THẮNG 30 THÁNG 4 NĂM 1975

  04/05/2017

Còn ít thời gian nữa là đến ngày kỷ niệm 42 năm giải phóng miền Nam Thống nhất Tổ quốc (30/4/ 1975 – 30/4/2017). Ngày mà cả dân tộc ta đã phải đi trên một chặng đường dài 21 năm mới tới được điểm tận cùng trên con đường giang sơn thu về một mối. Trên con đường chông gai nhưng vinh quang đó, đã có biết bao con người ưu tú của dân tộc ta ngã xuống, trong đó có những người con họ Bùi đã ghi dấu ấn cho biểu tượng chiến thắng vinh quang này. Nay một số các anh đã không còn, nhưng tên tuổi và hình ảnh thì mãi mãi còn lại với non sông đất nước ta. Tôi muốn qua bài viết này, ký thác tình cảm thiêng liêng của người lính cùng thời, cùng chung trận mạc, cùng giây phút đó, gửi đến các anh giờ đã ở nơi thăm thẳm bóng người!

Một ngày tưởng chỉ có vui, ấy vậy mà Chính ủy đã khóc, Sư trưởng đã khóc và tôi nghĩ mọi chúng ta đều đã khóc. Chúng ta khóc vì bóng dáng những người thân, dù còn sống hay đã mất tất cả đều đã dồn về, cùng chúng ta bước lên một ngả mới mà lịch sử dân tộc đang mở ra.

Bằng cách nhìn minh mẫn giàu trí tuệ, bằng trái tim của người chiến sĩ rộng lớn yêu thương và kiêu hãnh. Vị tướng chỉ huy cuộc mít tinh mừng ngày đất nước hoàn toàn thống nhất tổ chức giữa Sài Gòn ngày 15 tháng 5 năm 1975, đã nói, “Tổ quốc đã chiến thắng, Việt Nam đã chiến thắng, không có người Việt Nam nào thua trong cuộc chiến tranh này!”. Đó là một ngày hội tưng bừng của Sài Gòn chính thức bước vào kỷ nguyên mới. Một Sài Gòn kiên trung bất khuất và hết sức sang trọng. Mọi người xúc động nhìn lên kỳ đài cờ hoa rợp trời, dàn kèn đồng thổi những bài hành khúc có từ ngày 23 tháng 9 năm 1945. Và người ta lên tiếng hỏi nhau, ai đang nói mà hay vậy? Tổ quốc Việt Nam chiến thắng, không một người Việt Nam nào thua trong cuộc chiến tranh này. Trời ơi nghe ông ấy nói mà tôi cay mắt muốn khóc đó.

Vị tướng ấy là Trần Văn Trà, ngày đó ông là Chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố. Ông chính là người con của mảnh đất nghèo Quảng Ngãi.

Vào cái ngày Quân giải phóng tràn ngập thành phố Sài Gòn, có một người con của vùng lúa Thái Bình, trung úy Đại đội trưởng bộ đội xe tăng – thiết giáp Bùi Quang Thận đã trở thành anh hùng với kỳ tích cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập. Còn Chính ủy lữ đoàn ấy, Thượng tá Bùi Tùng là người đã kê chiếc túi dết da bò lên bậu cửa của tòa nhà tráng lệ kia để thảo văn bản đầu hàng cho vị tổng thống bất đắc dĩ Dương Văn Minh kịp thời đọc vào chiếc máy ghi âm do một nhà báo Tây Đức cho mượn.

Khi cuốn băng được mang tới phòng thu âm của của đài phát thanh Sài Gòn, các nhân viên ở đấy đã nói với chiến sĩ ta, chúng tôi đã đợi các vị từ sớm nay. Tưởng như bất kỳ ai cũng đều lường tính được tình hình ắt sẽ phải diễn ra như thế. Một ngày đã đi vào lịch sử dân tộc như một cái mốc không thể nào quên đã diễn ra một cách ôn hòa, khiến những người khách nước ngoài lúc đó có mặt tại thành phố không khỏi ngỡ ngàng, họ kinh ngạc trước một toàn cảnh Việt Nam mới mẻ và hấp dẫn. Người ta thấy cần phải hiểu Việt Nam nhiều hơn và bằng cách nhìn cách nghĩ khác. Người ta nhìn thấy hiền hiện trong mắt mình hình ảnh chiến sĩ Quân giải phóng dũng mãnh, nhân từ và độ lượng, người ta cũng thấy từ đó đã toát lên một phẩm chất anh hùng của một dân tộc có văn hóa anh hùng.

Ông Dương Văn Minh tổng thống Việt Nam Cộng hòa nguyên là viên tướng có học và có tâm, nhưng đúng là ông chưa bao giờ nghĩ tới một chuyện sẽ có một ngày mình phải đứng ra đọc một văn bản đầu hàng do chính đối phương thảo hộ. Lại như anh Bùi Tùng một sĩ quan chỉ huy binh chủng tăng – thiết giáp, học hành đã nhiều, nếm trải không ít, trận mạc không thiếu, nhưng cũng chưa bao giờ anh nghĩ đến chuyện sẽ có một ngày tự mình phải xoay sở giải quyết một công việc động trời như vậy. Đấy là việc chuẩn bị đầu hàng cho một nhà nước tay sai đã lỗi thời, đấy là việc khai tử cho một chính thể đã không còn sức sống. Tự cổ chí kim, vô tiền khoáng hậu, trong hàng vạn kho lưu trữ, hàng vạn thứ hồ sơ văn bản, không thấy một văn bản nào lại như văn bản mà anh đã viết cho ông Minh đọc hôm đó. Trên đời này có biết bao nhiêu nhà văn bản học, nhưng chỉ anh mới tạo ra một văn bản đặc biệt, nó vượt qua mọi quy chế, mẹo mực thể thức. Nó rành mạch nhất, dễ hiểu nhất và giản dị nhất. Anh lấy một tờ giấy trắng trong cuốn sổ công tác, tờ giấy sẫm mùi mồ hôi lính, và anh điềm tĩnh đặt bút: “ Tôi, tổng thống Việt Nam Cộng hòa tuyên bố…”.

Anh Bùi Tùng đặt bút viết những chữ vàng ấy trong lúc các chiến sĩ của mình đã lăn ra ngủ trên khắp những hành lang dài hun hút, họ nằm ngổn ngang gối đầu lên ba lô, lên súng, lên cả những hòm đạn, ngủ mà mồ hôi vẫn chảy ra ròng ròng khắp mặt khắp cổ. Những khuôn mặt măng tơ, những khuôn mặt dầu dãi, áo quần tất cả đều lấm láp, đó là những tấm áo chiến bào của trên nửa thế kỷ trường chinh gian khổ.

Không có gì bề bộn bằng lịch sử, nhưng cũng không có gì kỹ lưỡng bằng nó, chính lịch sử đã lựa chọn ra những người thảo văn bản và người đọc văn bản buổi trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Một ngày tốt nhất trong hơn hai mươi mốt năm của cuộc chiến tranh giải phóng, một kết thúc có hậu trong tinh thần Việt Nam muôn đời, để sau nhiều năm nhìn lại con cháu không phải ngậm ngùi tủi hổ về cha ông nó.

Ít người biết cách đó hai ngày lữ đoàn tăng trên đường hành quân thần tốc đã có lúc dừng lại ít phút ở cái chợ Đường Cái Quảng Nam quê anh. Anh Tùng đã được gặp mẹ giữa đám đông bà con từ các ngả đổ ra. Họ đón các anh, họ đổ ra đường để tìm người thân. Mẹ già cầm tay người con trai sau hai chục năm xa cách và rưng rưng, bà kêu thất thanh “Ông trời ơi, thằng con trai tôi nó về đây nè!”. Có thể lời kêu chan hòa nước mắt ấy của bà đã thấu đến ông trời, ông trời mỉm cười ghé mắt nhìn xuống cái dải đất hẹp một bên là núi dài một bên là biển rộng kia và ông quay sang truyền lệnh cho một vị thái thượng lão quân râu dài tóc bạc nào đó ngồi trước một đống sách cao như núi, hãy ghi ngay tên thằng nhỏ vào sổ thiên tào, cắt cử nó phải làm công việc ngàn năm có một.

Thực sự anh con trai bà đã làm nổi việc đó bởi vì anh là một chiến sĩ quân đội nhân dân, nhân dân đẻ ra các anh, nhân dân nuôi dạy các anh, không phải thế các anh sẽ không làm được gì hết, các anh lại càng không phải thần thánh chi hết! Cũng nên nhớ đây là một lời hẹn mang tính chân lý của lịch sử, một lời thề trước non sông đất nước, lời thề danh dự của một quân đội, của một Đảng. Trên chúng ta còn có tổ tiên, còn có dân tộc, còn có Tổ quốc.

    Bùi Quang Thận nhận lệnh nhảy ra khỏi xe tăng, băng qua khoảng sân rộng lát đá, ôm theo lá cờ lấm láp bụi đường, bước nhanh trên những bậc thềm cao. Lúc bấy giờ gần như đông đủ các quan chức chủ chốt của chính quyền Sài Gòn đều đã có mặt, họ đứng dàn thành hàng ngang dưới bậc thềm thấp nhất, hết sức chỉnh tề, im lặng và ý tứ.

    Khi bước tới chân cầu thang, ngẩng lên Thận đã nom thấy một đồng đội đang vác một cây cờ lớn dũng mãnh như một cơn lốc cuốn phía trên đầu anh. Cũng chưa rõ là đơn vị nào, chỉ đoán là một đồng chí thuộc cánh bộ binh. Giữa giây phút nhiều phân vân, có bàn tay ai đó đặt lên vai anh: “Sao không dùng thang máy lên cho nhanh”. Rồi người đó đẩy anh vào cái hòm kín như bưng. Thang máy vẫn chưa lên được vì hai cánh cửa còn đang cắn chặt đầu cán cờ của Thận, anh cố hết sức kéo ra mà không sao kéo nổi. “ Mắc vậy làm thế đâu có được”. Người ấy vừa ôn tồn nói vừa lấy ngón tay ấn nhẹ vào nút điện, lập tức cánh cửa từ từ nhả ra. Rồi họ được nhấc bổng lên như có một phép thần. Lúc họ bước ra mảnh sân thượng vắng vẻ, đàn bồ câu thấy động vỗ cánh bay vù vù. Cột cờ trên nóc dinh cũng có hệ thống điều khiển tự động rất hoàn hảo, ấn vào một nút điện thế là cờ tụt xuống, lại ấn vào một cái nút khác thế là cờ mới bay lên. Thận lúi húi gấp nhanh lá cờ cũ nhét vào túi dết bên sườn thì cũng là lúc anh bạn bộ binh từ trong cầu thang nhô ra. Lịch sử là thế, hết sức thần tình và hết sức khó hiểu. Hình như nó có cách xui khiến cho con người được nó lựa chọn gặp một chút may mắn nào đó, chỉ một chút thôi, vậy là quá đủ.

Anh chiến sĩ vác cờ chạy bộ trên cầu thang ngày ấy đâu phải tầm thường, đó là một con người có thừa lòng quả cảm, ý chí tiến công cao, ý chí lập công của anh là một ý chí xung thiên, khả năng chọn lựa thời cơ của anh cũng rất chuẩn, chỉ những người lính xuất sắc nhất, đã dãi dầu trận mạc, có mang trong mình bản lĩnh của những bậc tướng tương lai mới có thể cả quyết lao lên trong cảm khái chiến thắng như anh đã lao lên ngày hôm đó. Tưởng như cái vinh quang làm người cắm cờ kết thúc một cuộc chiến kéo dài đã nằm trong tầm tay, vậy mà chỉ vài ba tích tắc, anh bỗng thành kẻ đến muộn. Biết làm sao, sẽ còn phải mất nhiều thời gian, nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm cái hẫng hụt này mới được lấp đầy. Cũng không sao, chưa có cái gì gọi là quá ghê gớm, ở đời còn lắm chuyện lớn hơn nhiều, chuyện cắm cờ dẫu có vinh quang nhưng chưa phải đã là lớn nhất, cái lớn lao hơn hết là buổi ấy mỗi người chúng ta đều đã có cơ hội được nhìn thấy cái cỗ máy đất trời chuyển động, nhìn thấy một nửa dân tộc mình trở về trong một ngày Tổ quốc hoàn toàn thống nhất. Và hơn ai hết những người lẽ ra phải được trông thấy ngày vui này, đáng hơn mọi chúng ta, nhưng họ đã không bao giờ còn được thấy, đó là các anh các chị, những đồng đội, những người đã ngã xuống dọc con đường dài nhiều máu và lửa suốt những thập kỷ quật cường vừa qua.

Thế còn cái người đã góp một tay giúp anh Thận trong việc cắm cờ, người ấy là một nhân viên phục vụ ở phủ tổng thống, nơi có lúc chúng ta thường quen gọi là sao huyệt cuối cùng, hang ổ cuối cùng. Người ấy đang còn sống, ở nước ngoài, cũng đã già lắm rồi, tôi vẫn hay tán chuyện với ông qua Email, nhưng chuyện trò xem ra còn hóm hỉnh, ông vẫn hay kể chuyện này như một kỷ niệm đẹp và luôn luôn hỏi thăm các anh.

Ông nói giành được độc lập tự do rồi, phải lo sử dụng được tự do, độc lập làm sao cho ích nước lợi dân, giành là một việc, sử dụng nó như thế nào lại là một việc, cũng không thể bảo việc nào hơn việc nào, hình như cả hai việc đều rất khó. Có độc lập tự do mà không biết sử dụng nó cho đúng cho tài thì trước sau cũng lại để mất, có nhiều cách đánh mất độc lập tự do. Bà con người Việt chúng ta ở nước ngoài họ cũng đau đáu từng ngày mong cho đất nước phồn vinh trở thành con rồng, con hổ trong khu vực. Tôi tin là nếu ông già này về nước hôm nay thì chắc chắn băn khoăn trong lòng ông sẽ được giải tỏa nhiều hơn và rằng ông sẽ thấy giá trị của độc lập tự do trên đất nước ta, dân tộc ta đang ngày càng tỏa sáng với năm châu bốn biển như thế nào!

Bùi Hoa Nam

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 4
  • 510
  • 3,437,404