LỊCH SỬ VỀ TRẦN QUỐC CÔNG BÙI TÁ HÁN

  06/03/2017

 

Theo tập sử liệu Phủ tập Quảng Nam ký sự, Trần Quốc công Bùi Tá Hán, người gốc Hoan Châu, sinh năm Bính Thìn – 1496. Từ năm Nguyên Hòa thứ 13 (Ất Tỵ, 1545), ông nhận được sắc chỉ Cần Vương phù Lê diệt Mạc từ vùng biên trấn Quảng Nam.

Theo sách này, việc thu phục Quảng Nam từ tay quân Mạc được Bùi Tá Hán tiến hành từ tháng Sáu năm Ất Tỵ mà điểm khởi binh là cửa biển Hội Thống, sau đó đi theo đường biển, vào trú quân ở Cù lao Ré (đảo Lý Sơn, nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi). Lấy Cù Lao Ré làm bàn đạp, Bùi Tá Hán cho đại binh tiến vào đất liền theo hướng. Đến tháng Tám cùng năm thì toàn bộ vùng đất Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn đã được quy thuận, dân chúng được vỗ yên.

 Tháng Giêng năm Nguyên Hòa thứ 14 (Bính Ngọ, 1546), triều đình phái sứ thần vùng đất này cho đến khi ông mất vào năm Mậu Thìn - 1568 với tước Trần Quận công (Phủ biên tạp lục ghi là Trấn Quốc công). Chính Nguyễn Kim trước khi mất cũng đã có thư gửi cho Bùi Tá Hán ủy thác trọng trách trong công cuộc giữ gìn vùng đất Quảng Nam (thư Nguyễn Kim cũng được đính kèm trong Phủ tạp Quảng Nam ký sự). Tài liệu cũng viết khá rõ về Bùi Tá Hán tiến quân chiếm lại đất Quảng Nam trong tay nhà Mạc, kể cả việc ông được chỉ dụ tiếp tuc trấn nhậm luôn ở Quảng Nam với chức Đô tướng Quảng Nam dinh, trông coi vùng đất này từ việc lớn đến việc nhỏ.
Để hiểu rõ hơn vùng đất Quảng Nam trong buổi đầu khai phá, tôi xin đề cập đến những chính sách của Bùi Tá Hán trong công cuộc phát triển kinh tế, canh tân xã hội ở vùng đất này khi được thu phục từ tay nhà Mạc.
1. NHỮNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Tuy là người có học vấn uyên thâm, thấm nhuần đạo nhân nghĩa của Khổng - Mạnh, nhưng Bùi Tá Hán không cầu mong đến việc thi phú kiểu Tống Nho mà quyết chí lập thân theo chí khí của người quân tử đơn thuần : khi nước nhà gặp nguy khốn, nhân dân còn cực khổ trăm bề thì phải đem tài sức mình ra giúp nước.
Trấn Quảng Nam thời ấy dân cư thưa thớt, từ huyện Hy Giang (tức huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam ngày nay) đến Đại Lãnh (tỉnh Phú Yên) chỉ ước chừng 10 nghìn hộ, với khoảng 5 vạn dân. Vậy mà đời sống còn quá sức nghèo khổ, việc đi lại khó khăn, cách núi cách song, thường xuyên bị hạn hán bão lụt. Vì thế, Bùi Tá Hán ra sức canh tân về mọi mặt. Tuy nhiên cũng nhờ đất rộng, người thưa, lại được yên bình và các chính sách về ruộng đất thoáng đạt nên nông dân nghèo từ các xứ Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Dương di vào đây để vỡ ruộng lập ấp. Vì thế, đối với dân di cư, Bùi Tá Hán chỉ định cho các quan huyện địa phương lo việc tiếp dân và điều hành mọi công việc liên quan đến số hộ di cư mới, tổ chức cho binh lính làm nhà giúp dân. Khi yên ổn chỗ ăn ở thì trích ruộng thục điền trong số ruộng đất ở các đồn điền giao cho mỗi một hộ một ít để tạm thời canh tác. Ông còn khuyên dân nên trồng khoai lang, rau ngắn ngày, để 3 tháng sau có cái ăn; cũng khuyên họ sau mùa cấy hái phải nỗ lực khai hoang làm ruộng, trích trữ lương thực để ổn định cuộc sống.
Về chính sách ruộng đất, ngoài việc khuyến khích khai hoang vỡ hóa, trong tờ biểu tâu năm Thuận Bình thứ 8 (Mậu Ngọ, 1558), nghĩa là đã sau 13 năm vỗ yên biên trấn, bước đầu canh tân xã hội, Bùi Tá Hán chủ trương đưa những ruộng đất nào trước đây do quân lính khai khẩn, nay đã thành thực điền thì đem làm công điền, giao cho các thôn xã phân cấp cho dân cày cấy và nộp tô thuế. Ông còn kiến nghị là phải khám đạc ruộng đất cho tất cả các loại ruộng công cũng như tư, phân định ra các hạng để quản lý.
Đối với việc tổ chức đời sống sản xuất và sinh hoạt, Bùi Tá Hán cũng đề ra những biện pháp hết sức cụ thể.
- Cho thực hành tiết kiệm, tích trữ lương thực, đề phòng ngặt nghèo, thiên tai bão lụt.
- Việc ở, việc mặc, kể cả cách dùng những dụng cụ sinh hoạt hằng ngày cũng được ông quan tâm chỉ giáo hết sức chi tiết và thiết thực. Ông vận động nhân dân nên đào giếng để có nước sạch dùng.
Trong tổ chức sản xuất, Bùi Tá Hán cũng đề ra một số chủ trương trên nhiều lĩnh vực như thuỷ lợi, đổi mới kỷ thuật cày cấy, khuyến khích các ngành nghề... Ông tổ chức cho dân đào kênh, đắp đê làm bờ xe nước để đưa nước lên đồng ruộng. Đối với các ngành nghề, ông chủ trương khuyến khích phát triển nghề thợ rèn, thợ mộc, thợ đúc, thợ dệt vải, dệt chiếu, chằm nón và không thu thuế các mặt hàng này.
Bùi Tá Hán cũng là người chủ trương cải tiến giao thông, bưu chính. Thấy việc giao thông đường bộ hết sức khó khăn, trắc trở, ông cho đắp một con đường Thiên lý rộng hai trượng rưỡi, từ huyện Hy Giang đến huyện Tuy Viễn (từ Duy Xuyên - Quảng Nam dến Phú Yên ngày nay), làm cầu cống, cũng cố hệ thống thuyền đò trên các con sông. Cứ 17 dặm đặt một dịch trạm để chuyến công văn giấy tờ. Ông cũng cho cải tiến thuyền bè đi lại trên sông, biển, thay thuyền ván bằng thuyền nan trét dầu rái, bởi vậy thuyền sẽ nhẹ và “bay”, thuận tiện cho việc ra vào sông biển.
Đối với việc chăm sóc sức khoẻ, nâng cao dân trí cho nhân dân, Bùi Tá Hán cũng hết sức chú trọng. Thấy dân chúng nhiều người chưa “phục thủy thổ”, thường sinh bệnh tật, Bùi Tá Hán có chế độ khuyến khích cho các thầy thuốc, trích một số ruộng đất công cấp cho các thầy thuốc để họ yên tâm định cư và có điều kiện chữa bệnh cho dân. Ông cũng cho trích ruộng đất công cấp cho thầy đồ lập trường nghĩa thục, đặc biệt là những xã thôn nào có hộ khẩu tăng nhanh, trẻ em đông đúc có nơi để học.
Đối với các loại hình sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng, Bùi Tá Hán chủ trương cho phép xây dựng chùa chiền để nhân dân cúng lễ; hạn chế việc ăn uống kéo dài, phí sức, tốn của trong hôn nhân, tang chế; khuyên các gia đình chỉ nên cúng tế ông bà, cha mẹ vào các dịp giỗ chạp hoặc Tết…
II. CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ
Trong Phủ tập Quảng Nam ký sự, tác giả họ Mai còn cho biết những chính sách mềm dẻo, khôn khéo, nhưng cũng hết sức tận tâm của Bùi Tá Hán đối với các các tộc người thiểu số ở vùng miền núi thuộc xứ Quảng Nam. Thấy nơi đây có nhiều dân tộc người thiểu số sinh sống, nhưng không “tuân theo vương hóa”, việc canh tác còn quá thô sơ, lạc hậu, lại hay đốt, phá rừng làm nương rẫy, thiếu đói thường xuyên, Bùi Tá Hán chủ trương dạy họ cày cấy, khuyến khích việc định canh định cư, giúp đỡ họ bớt khó khăn, giao hảo với người Kinh, xóa hố sâu ngăn cách Kinh - Thượng. Ông còn lập các chợ phiên làm nơi giao dịch giữa người Kinh và người Thượng, để họ có điều kiện trao dổi hàng hoá cũng như hòa hiếu với nhiều. Nhờ những chính sách này mà khi Bùi Tá Hán qua đời, nhân dân các dân tộc thiểu số tôn vinh ông như một vị thần quan trọng nhất trong đời sống tín ngưỡng của họ. Trong Vũ Man tạp lục, Nguyễn Tấn đã có nhiều chỗ đề cập đến vấn đề này, như nhiều miền Thượng đã thường xuyên lễ tế ông, xếp ông vào hàng thứ ba trong các thứ bạc thần linh, là “Thần Nông, Hậu Tắc, Trấn Bắc (tức Bùi Tá Hán), Xứ Xang”. Pho tượng Xích Y - một người thuộc tộc người thiểu số được thờ ở đền Bùi Tá Hán, được phong thần cũng là một minh chứng cho tinh thần hoà hiếu và tài năng thu phục miền Thượng của Bùi Tá Hán.
III. CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI BIÊN CƯƠNG
Phủ tập Quang Nam ký sự còn ghi chép về việc Bùi Tá Hán có những chính sách hết sức mềm dẻo đối với vùng biên cương ở phía Nam, ranh giới giữa Chiêm Thành và Đại Việt ở núi Đại Lãnh. Ông ý thức được “vùng nhạy cảm” của hai quốc gia, dân tộc trong tiến trình lịch sử, vì thế những chính sách của ông là làm thế nào để hai dân tộc giữ được mối hòa hiếu lâu dài.
Trước hết, để giữ yên vùng biên trấn, Bùi Tá Hán cho đóng 3 đồn lớn, mỗi đồn lưu trú 500 quân trải rộng từ bờ biển đến tận vùng núi Tây. Ông còn bố trí trong mỗi đồn có một viên quan văn để xử lý công việc hành chính và tham gia bàn bạc việc quân. Bùi Tá Hán cũng đã lập 3 trạm giao dịch ở vùng biên để người Kinh và người Chăm có thể mang lâm thổ sản, các loại nông cụ, đồ dùng sinh hoạt đến đây buôn bán trao đổi. Khi người Chăm muốn qua lại vùng biên để thăm bà con thân thuộc đều phải trình báo giấy tờ. Ông còn yêu cầu các quan văn võ phải dùng “lời lẽ nghiêm chỉnh, đúng mực và thái độ ôn tồn để chinh phục họ”. Nói chung, đối với người Chăm từ thời điểm Bùi Tá Hán trấn nhậm ở vùng đất này luôn được bình ổn.
Để có được những chính sách đối ngoại, đối ngoại trên thì ngoài tài năng của Bùi Tá Hán còn có chủ trương của triều đình nhà Lê ngay từ khi Lê Trang Tông mới thu phục lại một nửa đất nước (tức lúc Kinh thành Thăng Long và những vùng lân cận còn trong tay nhà Mạc). Trong thư của Phụ quốc đại thần Nguyễn Kim gửi cho Bắc quân Đô đốc Bùi Tá Hán (nguyên văn: “Phụ quốc chính Nguyễn Trí ư Bắc quân đô đốc Bùi công đài giám” đính kèm theo trong Phủ tập Quảng Nam ký sự) có một số đoạn liên quan đến những cải cách của Bùi Tá Hán. Theo nội dung thư này, thì Nguyễn Kim cho biết triều đình sẽ cho một số dân nghèo ở Thanh Hoá, Nghệ An vào đây lập nghiệp nhằm “lần hồi tích trữ lương thực để mưu kế dài lâu” và đề nghị Bùi Tá Hán: với người miền Thượng nên áp dụng chính sách mềm dẻo để phủ an dân chúng; với vùng biên cương, thì cố giữ ổn định, không để quân Mạc lợi dụng mối bất hòa giữa hai dân tộc Việt - Chăm từ trước mà liên kết với người Chăm, kể cả với Ai Lao chống lại nhà Lê.
Rõ ràng là qua những ghi chép trong Phủ tập Quang Nam ký sự có thể thấy, Bùi Tá Hán là người ngoài tài năng về quân sự còn là một nhà cải cách đầy tâm huyết, đã ghi một dấu ấn hết sức quan trọng đối với vùng đất Quảng Nam trước đây, tương đương các tỉnh Quản Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên hiện nay. Dẫu chỉ là những ghi chép ngắn gọn, nhưng Phủ tập Quảng Nam ký sự đã giúp chúng ta nhận diện được những chủ trương chính sách của Bùi Tá Hán trong trong việc tổ chức sản xuất, tổ chức đời sống sinh hoạt văn hoá, trong việc sử lý các mối quan hệ Kinh - Thượng, Việt – Chăm ở trấn Quảng Nam xưa kia. Có lẽ, nhờ những ghi chép đó mà chúng ta không những hiểu về vùng đất Quảng Nam trong buổi đầu khai phá mà còn hiểu ít nhiều về vùng đất này ở các thế kỷ sau.
Từ những điều ghi trên, theo Phủ tập Quảng Nam ký sự, cuộc di dân quan trọng thứ hai đến dải đất này phải kể đến đó là cuộc di dân vào thời Bùi Tá Hán khi ông được triều đình giao cho trấn nhậm vùng đất phương Nam, gánh vác một nửa đất nước, gần 25 năm.
Do đó trong đời sống văn hoá tín ngưỡng của nhân dân trấn Quảng Nam thuở xưa và cũng như đến ngày nay, Trấn Quốc Công Bùi Tá Hán luôn được dành một vị trí hết sức thiêng liêng. Bằng chứng là nhiều nơi còn thờ Bùi Tá Hán. Ngoài ngôi đền thờ Trấn Quốc công và lăng mộ của ông ở làng Thu Phổ, phường Trấn Phú, thành phố Quảng Ngãi đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa, còn nhiều nơi thờ cúng, dinh miếu thờ ông riêng như ở An Hải (huyện Lý Sơn); Long Phụng (huyện Mộ Đức); Sơn Hạ (huyện Sơn Hà); Trà Xuân (huyện Trà Bồng); tại cụm núi Ngũ Hành Sơn ở thành phố Đà Nẵng; tại đình Nam Chơn ở thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay tại đền thờ Bùi Tá Hán ở phường Trần Phú, thành phố Quảng Ngãi còn có 2 tượng gỗ cổ, một pho tạc Bùi Tá Hán, một pho tạc Xích Y và 10 đạo sắc phong thần của các đời vua: Cảnh Thịnh, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, với sắc tặng cao nhất là “Khuông đức tịnh biên, thọ đức mậu công huy liệt trác vĩ dực bảo trung hưng Thượng đẳng thần” và cho ghi quốc khánh cũng như tự điển.
Tứ Dương hầu Bùi Tá Thế, con trai và là cánh tay phải đắc lực của Bùi Tá Hán, Huy Xạ Xích - vị tướng người thiểu số cũng được sắc tặng là Trung đẳng thần, tôn thần trong hàng chục sắc phong thần khác.
Việc dân chúng thờ phụng và các triều đại sau này tôn vinh, chứng tỏ Bùi Tá Hán là một người hết sức đức độ, tài năng có nhiều công trạng. Chính điều này góp phần xác thực giá trị của những sử liệu trong Phủ tập Quảng Nam ký sự.
Tóm lại, Bùi Tá Hán hầu như không có hoạt động nào đối với Thăng Long, mà gắn bó nhiều và có công lớn với dải đất miền Trung. Song cần đặt những hoạt động của ông trong bối cảnh đất nước giữa thế kỷ XVI mới thấy được ý nghĩa lớn lao và đóng góp của ông với Thăng Long. Như mọi người đều biết, từ năm Quý Tỵ - 1533, một số trung thần của nhà Lê đứng đầu là Nguyễn Kim đã đưa Lê Duy Ninh lên ngôi vua (Lê Trang Tông), mở đầu cho công cuộc phục hưng nhà Lê. Cuộc nội chiến Nam – Bắc triều (nhà Lê – nhà Mạc) diễn ra ngày càng quyết liệt. Nhà Mạc chiếm giữ vùng Bắc Bộ, quyết giữ Thăng Long là trung tâm chính trị - kinh tế- văn hóa. Nhà Lê từng bước đẩy mạnh tấn công ra Bắc với đích cuối cùng là chiếm được Thăng Long. Nội chiến diễn ra ác liệt không tránh khỏi tình trạng các nước láng giềng (Trung Quốc, Chiêm Thành, Ai Lao) lợi dụng để xâm lấn, làm suy yếu lực lượng, có thể làm “phá sản”  mục tiêu  chiến tranh của hai bên. ở phía Bắc, nhà Mạc đã phải đổi một số đất để lấy hòa hoãn với nhà Minh; còn ở phía Nam, Chiêm Thành có thể nhân cơ hội này gây rối và hoàn toàn diễn ra khả năng nhà Mạc liên kết với Chiêm Thành để lấn đất, làm cho nhà Lê Trung Hưng. Bị ép từ hai phía.
Trong bối cảnh trên, Bùi Tá Hán nhận sứ mệnh “cầm gươm đĩ giữ cõi và tiếp tục mở cõi”, trấn trị vùng đất phương Nam được yên ổn, giúp cho nhà Lê Trung Hưng yên tâm tập trung lực lượng tấn công ra Bắc, với “đích ngắm” là Kinh đô Thăng Long. Có thể nói, sự nghiệp “giữ cõi” và “mở cõi” của Bùi Tá Hán đã gián tiếp giúp sức cho nhà Lê Trung Hưng thu phục lại Thăng Long hơn 40 năm sau đó.

BÙI THANH QUANG

Tin liên quan:

Tin liên quan:

Bùi Tá Hán (1496 - 1568)

Mấy nét về tình hình sưu tầm, dịch thuật, khai thác văn bản Hán Nôm ở Quảng Ngãi và những phát hiện về nhân vật lịch sử Bùi Tá Hán

Bùi Tá Hán và cuộc hành quân tái chiếm Quảng Nam

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 9
  • 300
  • 3,770,061