Mấy nét về tình hình sưu tầm, dịch thuật, khai thác văn bản Hán Nôm ở Quảng Ngãi và những phát hiện về nhân vật lịch sử Bùi Tá Hán

  24/02/2017

Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, trải lịch sử chưa bao giờ là một trung tâm kinh tế, văn hoá hay trung tâm hành chính của đất nước. Điều đó cho thấy rằng tàng thư Hán Nôm không có, hoặc nếu có tồn tại ở Quảng Ngãi cũng không nhiều. Văn bản Hán Nôm phần nhiều tồn tại dưới dạng gia phả, văn bia, sắc phong, câu đối... mà đáng tiếc là do khí hậu, điều kiện lưu giữ, chiến tranh, kể cả ý thức của con người, chắc chắn cái vốn có cũng vơi đi không ít. Nói như thế, không có nghĩa là các văn bản Hán Nôm cổ còn lại không có gì để nói.

Sự ra đời của văn bản Hán Nôm không thể tách rời với quá trình khai phát vùng đất. Cần biết rằng, Quảng Ngãi xưa kia là Cổ Luỹ Động khi nhà Hồ có đất này đổi thành hai châu Tư - Nghĩa, sau bị nhà Minh xâm lược, đến vua Lê Thánh Tông đất này lệ vào Thừa tuyên Quảng Nam. Như vậy, nếu có văn bản Hán Nôm cổ nhất ở Quảng Ngãi thì cũng chỉ cách đây 500-600 năm. Đó là cách tính lý tưởng. Trên thực tế, cư dân Việt đến đất Quảng Ngãi còn thưa, việc học mới sơ khai, nên chắc sự ra đời của văn bản Hán Nôm cũng phải muộn hơn. Chúng ta cũng không quên đến cuối thời Lê xảy ra chiến tranh Nam –Bắc Triều, đến thời Lê Trung hưng thì xảy ra Trịnh Nguyễn phân tranh, kế đến Tây Sơn khởi nghĩa. Sự ra đời của vùng đất, của việc học, của khoa cử khá muộn ắt dẫn đến sự khiêm tốn ở số lượng, sự xuất hiện muộn của văn bản Hán Nôm.

       Tuy vậy, theo thống kê của chúng tôi, dưới triều Nguyễn, Quảng Ngãi đã có 139 vị đỗ Cử nhân, Phó bảng, Tiến sĩ và rất nhiều Tú tài. Con số ấy có thể xem là trung bình so với cả nước đương thời và khá nhiều so với các tỉnh từ Phú Yên đến Nam bộ. Tại Quảng Ngãi có văn miếu ở Phú Nhơn, ở huyện Bình Sơn và huyện Mộ Đức. Trong số các nhà khoa bảng ở Quảng Ngãi, có người làm quan lớn dưới triều Nguyễn như Trương Đăng Quế, Nguyễn Bá Nghi, Đỗ Đăng Đệ, Võ Duy Ninh, Trương Quang Đản, hoặc là các thủ lĩnh các phong trào yêu nước như Nguyễn Duy Cung, Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân, Lê Ngung, Lê Tựu Khiết, Nguyễn Thụy, Lê Đình Cẩn, Nguyễn Đình Quản... Có các nhà Nho đỗ đạt, hoặc không đi thi mà ở nhà dạy học nổi tiếng như Võ Duy Thành, Lê Trung Lượng, Phan Thanh... Và điều quan trọng ở đây là nhiều người trong số họ đã để lại những áng văn thơ Hán Nôm, ngoài ra còn không ít văn bản chữ Hán chép về họ.

       Về sách, chúng ta từng biết Trương Đăng Quế là đồng chủ biên các bộ sách lớn dưới triều Nguyễn: Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt truyện tiền biên, đồng biên soạn Hoàng Việt hội điển toát yếu, Đại Nam thực lục tiền biên, có các tập sáng tác Học văn dư tập, Quảng Khê văn tập, Nhật Bản kiến văn lục... Trần Công Hiến có Đại Việt thuỷ trình lục ký, Danh thi hợp tuyển,Nguyễn Trọng Biện có Hà đê tấu tư tập, Nguyễn Bá Nghi có Sư Phần thi văn tập, Đỗ Đăng Đệ có Tùng Đường thi thảo, Nguyễn Tán có Phủ man tạp lục... Đó là các sách biên soạn, trước tác có giá trị cả về địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hoá, được lưu giữ tại các thư viện trong nước, đã, đang và sẽ được dịch thuật, nghiên cứu bởi các cơ quan chuyên môn ở trung ương và các học giả. Điều chúng ta cần biết ở đây là, ngoài số sách như trên, các sách Hán Nôm hiện tồn ở Quảng Ngãi còn những quyển gì khác và tình hình sưu tầm, nghiên cứu, dịch thuật số thư tịch này thế nào? Trên thực tế, rất khó giải đáp một cách dứt khoát câu hỏi này, bởi ở Quảng Ngãi chúng tôi chưa hề có một chương trình điều tra tổng thể về sách cũng như về các tư liệu Hán Nôm khác. Ở đây chúng tôi chỉ có thể chỉ kể về quyển sách chép tay mang tên Phủ tập Quảng Nam ký sự, chép về việc vỗ về quy tụ miền đất Quảng Nam, đề cập trực tiếp nhân vật lịch sử Bùi Tá Hán (1496-1568) nguyên trấn thủ Thừa tuyên Quảng Nam (tức dải đất từ Quảng Nam đến Phú Yên ngày nay). Theo xuất xứ ghi ở cuốn sách, thì sách do một người họ Mai biên soạn vào khoảng đời Chánh Trị (1558-1571) nhà Lê, được tộc Bùi (của Bùi Tá Hán) lưu giữ tại đền Bùi Tá Hán (ở phía Tây thị xã Quảng Ngãi ngày nay). Đến năm Minh Mạng 5 (1824), người thư lại ở Phiên ty Quảng Ngãi là Lê Đăng Hiển đã sao lại tập sách (để chống cũ nát) làm hai bản và giữ ở nhà mình một bản (tại Mộ Đức, Quảng Ngãi). Đến năm Duy Tân thứ 8 (1914), cũng để chống cũ và nát, ông Lê Viết Hoà (cháu 4 đời của Lê Đăng Hiển) chép lại sách một lần nữa. Đúng là “tam sao” không tránh sao khỏi sự “thất bổn”! Nhưng biết làm sao vì điều kiện giấy má, lưu trữ của người xưa là vậy. Cụ Lê Hồng Long (nguyên đại biểu Quốc hội khoá I, nay đã mất), con trai cụ Lê Viết Hoà, sinh thời đã biếu lại bản sao lần thứ 3 này cho họ Bùi và nó đã được dịch in ở tập sách “Tư liệu thư tịch và di tích về nhân vật lịch sử Bùi Tá Hán” (Sở VHTT Quảng Ngãi xuất bản năm 1996). Nếu không có điều gì về xuất xứ sách, thì đây vẫn là tập tư liệu quý giá về Bùi Tá Hán và về quá trình khai phá, ổn định vùng Thừa tuyên Quảng Nam buổi ban sơ. Chúng tôi từng nói ở trên về sách Hán Nôm lưu tồn ở Quảng Ngãi nếu có cũng không nhiều. Tuy nhiên, nếu có điều kiện truy tầm được những sách đại loại như Phủ tập Quảng Nam ký sự 撫 輯 廣 南 記 事, chúng ta sẽ được nhiều tư liệu quý giá về nhiều mặt. Cá biệt, còn có những tư liệu Hán Nôm có tầm quan trọng liên quan đến chủ quyền quốc gia như các ghi chép về các hải đội Hoàng Sa – Trường Sa còn lưu giữ trên đảo Lý Sơn mà gần đây nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã biết.

       Về bi ký, văn bia Hán Nôm ở Quảng Ngãi, đáng chú ý là sự hiện diện của các văn bia về các văn quan võ tướng, các nhà khoa bảng các triều đại phong kiến, khả dĩ giúp chúng ta xác định, kiểm chứng các dữ liệu về năm sinh, năm mất, chức tước của họ, chí ít cũng giúp tránh được những sai lầm đáng tiếc khi nghiên cứu. Đáng chú ý trong số các bi ký có văn bia ở nhà thờ Huỳnh Công Thiệu tại An Trường (xã Phổ Ninh, huyện Đức Phổ) dựng năm Tự Đức thứ 28 (1876), nội dung ca ngợi Huỳnh Công Thiệu khai phá vùng đất hồi Nguyễn Hoàng mới vào trấn thủ. Văn bia Thần đạo bi minh do Tùng Thiện vương Minh Trinh viết về Trương Đăng Quế đề năm Kỷ Sửu 1889 (Thành Thái năm thứ nhất), đặt ở mộ Trương Đăng Quế tại xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Bia của Tiến sĩ Tạ Tương viết ca ngợi Nguyễn Hữu Mưu (Đông các Đại học sĩ) tại xã Nghĩa Lộ (thị xã Quảng Ngãi)... Ngoài ra, ở xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa cũng có bia của tên Việt gian Nguyễn Thân dựng trên núi Thạch Sơn. Bắt chước các anh hùng xưa, sau những “chiến công” đàn áp các phong trào yêu nước, tàn sát nhân dân, Nguyễn Thân cũng lập chùa gọi là “Bình man thạch tự” và dựng bia (!). Sự tồn tại của bia này cũng là một chứng tích cho thấy bộ mặt gian ngoan của Nguyễn Thân. Đó chỉ mới là một số bi ký mà chúng tôi biết được. Văn bia, bi ký Hán Nôm ở Quảng Ngãi hầu hết được tạo tác từ đá Non Nước của vùng Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) với những nét chạm khắc công phu tinh xảo, có thể xem như những tác phẩm nghệ thuật. Đáng tiếc là chúng tôi chưa có đề án để nắm hết các bia bảng cổ này, và do vậy, chưa khai thác, phát huy giá trị tư liệu cũng như giá trị nghệ thuật của chúng. Ngược lại, dù là nghìn năm bia đá, thì sự hao hụt của các bia Hán Nôm vẫn là rất thật: do quy hoạch, giải toả và do ý thức của con người. Đó là điều đặt ra cho chúng ta cần suy nghĩ.

       Đối việc bia đá đã vậy, còn đối với gia phả, câu đối, sắc phong cũng không tránh khỏi sự huỷ hoại bởi chiến tranh, thiên tai lẫn sự thiếu ý thức lưu giữ của con người. Trong rất nhiều gia phả bằng chữ Hán của rất nhiều gia tộc trong tỉnh, chúng tôi chỉ mới biết có các gia phả của dòng họ Bùi Tá Hán, Võ Duy Ninh, Trương Đăng Quế, các sắc phong, câu đối thì còn khá hơn, tại nhà thờ Trần Cẩm (Tham tướng cai phủ đời Lê), Bùi Tá Hán, Nguyễn Trọng Đôn, Lê Trung Lượng, Nguyễn Duy Cung... Mà phần lớn trong số đó, cũng chưa được sưu tầm, dịch thuật, khai thác hàm lượng tư liệu – văn hoá ẩn chứa trong đó. Điều này có nguyên do khách quan lẫn chủ quan: sự khó khăn về kinh phí để đặt thành dự án sưu tầm, dịch thuật, nghiên cứu; Sự khó khăn về chuyên gia dịch thuật và cả thái độ chưa xem trọng đúng mức đối với loại di sản này. Chúng tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta cần phải có giải pháp cho vấn đề. Đó là Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng như Trung tâm KHXH và NV Quốc gia cần có những dự án sưu tâm, khai thác các văn bản Hán Nôm còn tản mát đại loại như trên, ở các tỉnh cùng hoàn cảnh Quảng Ngãi, nhằm phục vụ cho lợi ích quốc gia nói chung, cho sự nghiệp “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” nói riêng.

       Tất nhiên, nếu được như vậy chúng tôi cũng ra sức phối hợp và giúp đỡ.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.93-98

HOÀNG NAM CHU

Sở VHTT Quảng Ngãi

Tin liên quan:

Bùi Tá Hán (1496 - 1568)

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 4
  • 503
  • 3,437,397