MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC LÀM SÁNG TỎ TRONG TƯ LIỆU VỀ BÙI QUANG DŨNG (922-1018)

  19/07/2018

Khi nghiên cứu các tư liệu về cụ Bùi Quang Dũng – danh nhân triều Đinh – Lý ta thấy có một số tồn nghi cần được tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ. Đó là:

Một: Bùi Quang Dũng là một danh nhân nổi tiếng, là vị Khai quốc công thần triều Đinh, trải qua triều Tiền Lê, sang triều Lý. Khi cụ đã ngoài chín chục tuổi mà vẫn được vua Lý Công Uẩn trọng dụng; được vua Lý đánh giá rất cao, không chỉ phong cho chức, tước, bổng lộc, cụ còn được tôn hiệu là “Minh Triết phu tử”,…  Vậy mà chính sử không có ghi chép về cụ?

Hai là: Quê hương của cụ, nơi cụ sinh ra và gắn bó hơn 40 năm trước khi đến với Đinh Bộ Lĩnh. Động Trinh Thạch nơi cụ đã ẩn dật 29 năm, nếu giả thiết đây là vùng lân cận hay gồm cả vùng quê hương Bùi Quang Dũng ở triều Tiền Lê thì sao không để lại dấu ấn gì? phải chăng do chúng ta chưa có điều kiện nghiên cứu tìm hiểu kỹ?

Ba là: Thời gian 29 năm ở động Trinh Thạch là khoảng thời gian khá dài của một đời người, cùng thời gian đó xã hội Việt Nam đang có rất nhiều sự kiện to lớn diễn ra. Vậy sự trạng của cụ thời gian này ra sao?

Bốn là: Việc cụ Bùi Quang Dũng có công lao to lớn trong việc giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, được phong chức tước, bổng lộc thì đã rõ. Nhưng những dấu ấn để lại về công việc cụ thể thì chưa có ghi chép trong sử sách?

Đây là những câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Quang Dũng, lý giải được nó sẽ góp phần làm sáng tỏ hơn nữa trong việc khẳng định công lao to lớn của cụ đối với dân với nước. Đồng thời giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nguồn gốc của một dòng họ Bùi trong Cộng đồng họ Bùi Việt Nam. Dòng họ này xuất hiện khá sớm và có những đóng góp vẻ vang cho đất nước từ cách đây hàng ngàn năm.

Trong phạm vi của một bài tham luận tại hội thảo, không thể đưa ra luận bàn hết được tất cả các vấn đề đã nêu trên. Nên phần nghiên cứu và luận bàn sẽ được trình bày kỹ hơn trong cuốn sách : “Thái tổ họ Bùi ấp Hàm Châu – Đặc tấn Khai quốc Thiên sách Thượng tướng, Tĩnh An hầu, Minh Triết phu tử, Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng (922-1018)” cũng sẽ được giới thiệu trong dịp này.

Bài viết này, chỉ xin giới hạn trong phạm vi hẹp bàn về vị trí của Động Trinh Thạch ở đâu?

  1. Một số thông tin về thời gian ở động Trinh Thạch được ghi trong gia phả

Triều nhà Đinh niên hiệu Thái Bình năm thứ 10, vua Đinh Tiên Hoàng mất. Con vua Đinh là Thiếu đế còn nhỏ. Quan Thập đạo Lê Hoàn tiếm ngôi. Ông Đinh Điền và Nguyễn Bặc sai người thân tín đem mật thư đến báo, Cụ dẫn quân đi ngay, mới đến núi Ngôi Sơn thì được tin hai ông này đã tử tiết. Cụ ngửa mặt lên trời than rằng “Trời sinh ra ta, lại cho làm nên công nghiệp, sao lại xóa đi ngay thế vậy”. Cụ bảo với bộ thuộc tướng sỹ: “Ta dấn mình đánh dẹp hết sức phù nhà Đinh để có thiên hạ, nay kẻ ấy gian mưu cướp ngôi vua, dẫu chết cũng không từ chối. Nhưng bây giờ người trung nghĩa đồng tâm với mình chết rồi mà triều thần theo cả người kia; nay ta lấy độc lực khó đương lại được, nên phải về xứ cũ, sẽ liệu sau”. Cụ mới dẫn quân trở về Kỳ Bố.

Cụ trở về Kỳ Bố không được bao lâu lại nghe tin Lê Hoàn đã cướp ngôi nhà Đinh lên làm vua. Cụ bảo với bộ thuộc tướng sỹ: Người kia khí thế đang mạnh như lửa, ta chưa thể đánh ngay được. Vả lại thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa. Nay vua anh hùng đã mất rồi, chúa thượng yếu đuối và thơ ấu. Kẻ kia dẫu thừa thế mà đánh cướp như thế cũng là được thiên thời rồi. Giữ được đất Trường An hiểm trở thế là được địa lợi nữa. Gian thần su phụ cùng nhau phù đới thế là được nhân hòa. Ta nay gặp thời bất thường, quân tử ở ngoài điền dã, tiểu nhân ở chốn triều đình, đến nỗi vua mất, nước tan thế là thiên thời bĩ cực. Ở chốn hải tần đồng bằng nội khoáng, không có núi sông hiểm trở lấy gì mà nương tựa, thế là không có địa lợi. Trung nghĩa trơ trọi một mình, đất xa cùng tuyệt, thế là không có nhân hòa. Ta lấy một thành trơ trọi chống lại mà kẻ kia lấy thế lực cả nước đem binh áp đến, không khác gì đem phiến đá muôn tạ đè lên một quả trứng thì nát tinh ngay, không kịp vỡ nữa. Ta muốn trung thành báo ơn nước, nếu mà vội mải thì việc chưa ra đâu mà mình đã chết rồi, cũng là chết hoài mà thôi, còn ích gì nữa. Lời Khổng Tử nói: “ Lâm sự nhi cụ, hiếu mưu như thành” nghĩa là tới đến việc khó phải sợ, khéo dùng mưu kế mới nên. Trong binh pháp có câu: “ Kiến khả nhi tấn, chi nan nhi thoái” nghĩa là biết thế được mới tấn quân, biết thế khó khăn phải lui quân. Ta phải lấy những câu ấy làm phép. Kinh dịch lại có câu: “ Nguyệt cơ vọng quân tử chinh hung”. Nghĩa là việc đời như mặt trăng gần đến ngày rằm, đầy rồi phải khuyết, quân tử động dùng việc gì thì phải tai hung, thế là nói thời vận đã bĩ rồi, quân tử làm việc thì hỏng, tiểu nhân làm việc thì được. Nay kẻ kia cướp ngôi vua là việc tiểu nhân, ta giữ trung nghĩa là việc quân tử. Việc quân tử làm ở ngày nay thì phải hung họa. Ta ở đây không có ai hiệp lực, chống giữ khó thay nên phải tìm nơi rùng núi hiểm trở để giữ làm căn bản, tìm bạn trung thành, chiêu người nghĩa dũng cùng nhau đồng trí hiệp lực, nhằm lúc thuận lợi để phục thù cho vua ta, có thế mới được.

Tùy tướng là Nguyễn Văn Túy, trướng hạ là Ngô Văn Kháng bàn rằng: Sang cầu viện binh nhà Tống thì thế nào. Cụ nói: Không được, nước ta từ khi nội thuộc đến nay đã hơn nghìn năm, dân sống lầm than khổ sở lắm rồi, nay dân mới được tươi tỉnh, nếu ta sức yếu lại đi cầu viện nước kia, nước kia không phải nòi giống ta, hẳn sinh lòng khác tham lợi nhân thể cướp nước ta, hẳn là dân ta lại bị khốn khổ lần nữa. Công thì chưa chắc, tội đã rõ ràng. Ta không dám làm như thế. Cụ về ấp Hàm Châu dặn dò dân làng, khuyên nhủ quân sỹ và cho tản ra ở 5 làng Bùi xá và các thôn ấp xứ Kỳ Bố. Duy có 10 người thủ hạ không chịu lìa bỏ tình nguyện đi theo cụ, cụ mới sai thủ hạ, bộ thuộc đem cả vợ con gia quyến vào ở động Trinh Thạch. Lúc đó cụ đã 60 tuổi rồi.

Sau khi cụ vào Trinh Thạch động, Lê Hoàn mới biết và bảo với chư tướng rằng: Xưa ở triều nhà Đinh, ta có nói với vua Tiên Hoàng thăng cho hắn Thượng tướng, phong cho hắn tước Hầu, tưởng ngày nay cùng ta cộng sự, mà hắn lại dám quên ơn, phải đem quân mà đánh cho khỏi bực. Chư tướng tâu: Bệ hạ đừng nghĩ bực nhỏ, nay quân Tống với giặc Chiêm phải liệu trước, chốn ấy nhỏ nhặt, không phải phiền nhọc xe rồng vả lại kẻ ấy không dám kình địch với ta, phải đi lánh xa, cũng nên bỏ đấy để làm khuyến khích nhân thần về sau. Vua Đại Hành nghe lời chư tướng thôi không tiến binh vào động Trinh Thạch nữa (Những lời vua Đại Hành thương nghị với chư tướng được ông Đinh Hy thuật lại).

Năm Ất Dậu cụ bảo với bộ thuộc rằng: Lê Hoàn thừa thắng, binh khí sắc bén, nếu ra đồng bằng khó địch lại được. May được chốn này hiểm trở, một người địch được trăm người, ta viết thư kể tội ác người kia là thoán thí sai người cầm đến mắng khiêu khích để cho người kia tức giận, hẳn là đem quân thân hành đến đánh, ta thù hiểm lập mẹo mà thăm dò thì thế nào? Các bộ thuộc đều thưa rằng: Thế thì phải lắm. Cụ mới viết thư và hỏi các bộ thuộc: Ai táo gan dám làm việc này. Bộ thuộc ai cũng xin đi cả. Trong bộ thuộc có ông Ngô Văn Kháng đứng lên thưa rằng: Kháng tôi là kẻ hàng tướng, chủ công phủ dụ lấy chí thành tha cho tội chết. Kháng tôi dẫu chết cũng không dám dị tâm, lần này xin đi là thích khách, nếu không được sẽ bỏ thư ra riếc mắng, xin liều chết báo ơn Tiên Hoàng và chủ công. Ông Kháng cầm thư đến Trường An, gặp vua Đại Hành đang xem bơi thuyền ở bờ sông. Ông Kháng lần thẳng vào đâm nhưng không trúng liền bị bắt. Vua Đại Hành tra hỏi căn cớ và họ tên, ông Kháng không nói, ném thư ra riếc mắng, rồi tự tử ngay. (Ông Ngô Văn Kháng chết rồi, vợ con ông Kháng cụ nuôi nấng cả, về sau cụ đưa về làng, nay họ Ngô làng Đồng Thanh đều là con cháu ông Kháng cả).

Vua Đại Hành mở thư ra xem, biết là thư của cụ liền phát binh sai ông Đinh Hy đến đánh. Ông Hy dẫn quân đến động, không có lối vào, cụ sai thủ hạ đánh nhử. Ông Hy đuổi vào trong động, không biết lối ra. Cụ bắt được dụ lấy trung nghĩa, ông Hy cũng cảm tình than khóc, tình nguyện xin ở đấy và đem tình hình ở Trường An bẩm bạch với cụ.

Ông Đinh Hy ở trong động với cụ được một năm nghe lời trung nghĩa dỗ khuyên ngày thêm can đảm. Năm sau ông Hy cũng xin về Trường An làm thích khách. Vua Đại Hành bắt được, tra hỏi. Ông Hy nói rằng: Chốn đó là nơi thiên hiểm, chính trời để cho trùng hưng nhà họ Đinh lại đó, người hỏi làm gì. Ông Hy cũng tự tử. Vua Đại Hành cả giận toan đem quân đi thân chinh. Chư tướng can ngăn: Người kia khéo lấy trung thành cảm phục người ta như thế vả lại chốn đó xa xôi hiểm hóc chưa dễ phá được, bệ hạ đánh Nam dẹp Bắc lừng tiếng mọi nơi, nếu phen này đi không được việc gì, sợ người nước ngoài dòm ngó. Nay chỗ ấy sơn cùng đất hẹp không lo, đợi người ấy già chết ở đấy là hơn. Vua Đại Hành nghe lời chư tướng, thôi không thân chinh đi nữa. Trong năm ấy, bề tôi vua Đại Hành là Nguyễn Khanh mắc tội cũng vào Trinh Thạch động nương tựa với cụ nên các tin tức ở Trường An cụ đều biết hết.

Cụ vào động Trinh Thạch thủ hiểm ở đấy toan khôi phục nhà Đinh nhưng cụ xem khí vận nhà Đinh đã hết mà cụ ngày càng già yếu, vì thế trong khoảng 30 năm quanh quẩn ở mãi đấy.

Vua Lý Thái tổ, năm Thuận Thiên thứ 11, nhân đi tuần dụ xứ Kỳ Bá có đến thăm từ đường thờ Bùi Quang Dũng đã ngự đề đôi câu đối cho họ Bùi:

“Bất sự nhị quân, trung liệt cao phong, Trinh Thạch động tam thập niên quán cổ.

Lực phù nhất thống, vân lôi chính khí, Hàm Châu ấp thiên vạn tải như sinh:”

Nghĩa là:

“Không thờ hai vua, tiếng trung liệt cao vời vợi, động Trinh Thạch 30 năm lừng tiếng.

 Hết sức giúp nền thống nhất, chí khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu vạn cổ vẫn còn”.

  1. Vị trí Động Trinh Thạch ở đâu?

Cho đến nay, chưa có một tài liệu nào cho biết vị trí cụ thể động Trinh Thạch ở đâu. Tuy nhiên việc tìm ra động Trinh Thạch lại có ý nghĩa cần thiết, không chỉ để biết 30 năm cụ ẩn dật ở đó, mà còn giúp thêm tư liệu làm sáng tỏ sự trạng của cụ Bùi Quang Dũng và còn có thể tìm ra nguồn gốc xa hơn nữa của dòng họ Bùi ấp Hàm Châu (nếu như đấy là là quê hương của các vị tiên khảo của cụ…)

Trong nhiều năm qua, các hậu duệ của cụ ở ấp Hàm Châu cùng một số những người quan tâm đã dành nhiều tâm huyết và thời gian để tìm hiểu, song vẫn chưa có kết quả. Cụ Nguyễn Tiến Đoàn thì cho là động Trinh Thạch ở vùng Tam Điệp (Ninh Bình)[1]; Một số người cho rằng động Trinh Thạch nằm ở khu vực huyện Thạch Thành (Thanh hoá) vì ở đó có 1 số xã có tên chữ Thạch[2]; Một số vị khác lại cho rằng động Trinh Thạch nằm ở khu vực Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên…vì có thể đó là khu vực 3 đạo, dưới quyền của cụ (thực ra cũng chưa biết cụ quản lý 3 đạo gồm những đạo nào)

Tác giả, trong quá trình tìm hiểu và phân tích thì suy luận rằng; Động Trinh Thạch rất ít có khả năng nằm ở khu vực Tam Điệp hay Thạch Thành, vì vị trí này nằm sát ngay khu vực Hoa Lư là kinh đô của triều đình thời bấy giờ. Mặt khác, đây lại là nơi tiếp giáp với quê hương của Đinh Bộ Lĩnh, của Lê Hoàn. Nên ngay từ thuở cờ lau tập trận cùng Đinh Bộ Lĩnh và các tướng khác, Lê Hoàn đã rất thông thạo địa hình, địa thế.  Khu vực đó lại nằm kẹp khe giữa hai khu vực rất mạnh của triều đình là kinh đô Hoa Lư và đất Hoan Châu… Còn lại giả thiết về động Trinh Thạch ở các khu vực Thái Bình, Nam Định, Hưng Yên … thì cũng chưa hợp lý vì nơi các nơi đó đều là đồng bằng lại tiếp giáp với biển, không phù hợp với tư liệu mô tả việc Lê Hoàn cho quân đánh vào động thì đó là vùng rừng, đồi núi và như lời cụ nói nơi đó một người địch được hàng trăm người… Đó là chưa xét đến vấn đề quốc phòng, an ninh, phát triển sản xuất phục vụ đời sống, xây dựng lực lượng để có thể tồn tại dài lâu…

Tác giả  cho rằng vị trí động Trinh Thạch có nhiều khả năng nằm ở khu vực Bạch Hạc và những vùng lân cận dựa theo cơ sở sau:

Một là: Dựa theo câu nói của cụ Thái Tổ với thuộc hạ khi nghe tin Nguyễn Bặc, Đinh Điền đều đã chết: “Nhưng bây giờ người trung nghĩa đồng tâm với mình chết rồi mà triều thần theo cả người kia; nay ta lấy độc lực khó đương lại được, nên phải về xứ cũ, sẽ liệu sau”

Hai là: Nơi đó, cụ đã sinh ra và lớn lên cho tới thời điểm cụ vào theo Đinh Bộ Lĩnh. Khoảng thời gian trên 40 năm ở đây, cụ rất thông thạo địa hình, lại  là người đã học và nghiên cứu Kỳ Thư (có thể là Khổng đạo, Binh pháp, Kinh dịch…), cần phải áp dụng kiến thức thực tế trong việc tổ chức đời sống khu vực cát cứ, xây dựng lực lượng, luyện tập quân sự, thực hành các phương án theo binh pháp… Khu vực này, sau khi đã được cụ áp dụng kế sách đã trở thành một vùng trù phú, đời sống và an ninh tốt ở trong vùng, nên cụ được nhiều sứ quân biết đến (tất nhiên không có biểu hiện là do cụ tạo nên).

Đây cũng chính là khu vực phòng bị “như một chiến khu kháng chiến dự bị” nằm trong kế sách bình nhung mà cụ đã đem theo để ra mắt Đinh Bộ Lĩnh (như đã trình bày ở cuốn sách về cụ đã nêu phần trên – vì thế cụ mới được Đinh Bộ Lĩnh tiếp nhận và trọng dụng) và như lời cụ nói: chốn này hiểm trở, một người địch được trăm người. Chính điều này đã giúp cụ, sau khi biết tin Nguyễn Bặc, Đinh Điền đã chết, trong thời gian rất ngắn, cụ quay về Kỳ Bố cho giải tán lực lượng dưới quyền, thuộc hạ và thân nhân, dân chúng được di tản ra các vùng xung quanh để tránh bị tàn sát, cụ lặng lẽ trở vào động Trinh Thạch cùng toàn bộ gia đình, chỉ có 10 thuộc hạ thân tín tự nguyện đi theo. Mấy ngày sau đó, Lê Hoàn định đem quân tiêu diệt cụ thì mới biết cụ đã vào động rồi. Ta biết rằng cũng thời điểm đó: “Tứ trụ” Nguyễn BặcĐinh ĐiềnTrịnh Tú, Lưu Cơ muốn giữ ngôi nhà Đinh cho ấu chúa, nhưng bị Lê Hoàn đánh thua: Đinh Điền chết tại trận, Nguyễn Bặc bị bắt sống đem về chém tại Hoa Lư. Còn Lưu Cơ và Trịnh Tú thì bị phục kích ở Bãi Vàng. Hai ông cùng hai bộ tướng chống cự quyết liệt, giết được bốn tướng của Lê Hoàn, nhưng cuối cùng bị quân đông hơn bao vây tiêu diệt. Thế là hai bên có tám tướng chết ở trận đó. Thừa thắng Lê Hoàn tiếp tục tiến đánh và tiêu diệt tất cả các lực lượng chống đối khác. Vậy mà với cụ, mặc dù không có quân đi theo mà Lê Hoàn đã không làm gì được, thậm chí vài lần cho quân tiến đánh vào động thì quân của Lê Hoàn đều bị tiêu diệt và bị bắt sống.

Điều đó cho thấy khu vực động Trinh Thạch, phải là nơi có địa hình hiểm trở rất khó ra vào, đảm bảo an toàn lại ở gần quê hương hoặc những nơi lân cận, nơi có địa bàn trồng trọt sản xuất lương thực, tiện cho việc cung cấp cũng như tích trữ lương thảo. Việc chuẩn bị này có thể nằm trong kế sách từ trước đó. Cho nên khi có biến cụ đã rút lui về động một cách bí mật và mau lẹ, được nhân dân nơi đó tiếp nhận, bảo vệ, có thể ăn ở, có lực lượng để phòng bị khi bị tấn công.

Ba là: Khu vực vùng Bạch Hạc, tên địa danh này không thay đổi nhưng phạm vi của nó theo thời gian của lịch sử không phải như hiện nay. Theo tác giả thì khu vực động và vùng “chiến khu” mà Bùi Quang Dũng xây dựng có thể sẽ là từ vùng ngã ba Bạch Hạc (phía bên ga Bạch Hạc ngày nay), chạy dọc theo thượng nguốn sông lên khu vực huyện Lập Thạch và huyện Sông Lô ngày nay, mở rộng về vùng Tam Dương (Vĩnh Phúc), Sơn Dương (Tuyên Quang) đến sát dãy và cả vùng núi Tam Đảo. Khu vực này vừa là đồi trung du, rừng rậm tựa núi cao, núi cao hiểm trở, sông ngòi có thể nối giao thương giữa sông Hồng, sông Lô sang sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Tích, sông Đáy…. địa thế công thủ rất thuận lợi. Nhân dân trong khu vực này rất thuần chất, đoàn kết, lại có cảm tình và thần phục đức độ tài năng của Bùi Quang Dũng và gia đình cụ Khải Tá (thân phụ của cụ). Khu vực này, nền nông nghiệp và sản xuất thủ công tuy không phải là trù phú, nhưng có thể tự cung tự cấp cho nghĩa quân và nhân dân trong vùng, không phụ thuộc nhiều vào các khu vực khác.

Sơ đồ minh hoạ vị trí động Trinh Thạch:

  • Phạm vi khu vực trong đường chỉ đỏ

Bốn là: Khu vực động cũng không nằm trong vùng cát cứ của các sứ quân khác. Tuy gần với cát cứ của Kiều Lệnh Công (Phong Châu) và Kiều Tam Chế (Yên Bái), nhưng chỉ tiếp giáp 2 mặt lại bị ngăn cách bởi sông lớn mà không bị ở thế kẹp khe. Phía sau, tựa vào dãy Tam đảo với nhiều đường nhỏ, cùng các nhánh sông giúp bí mật xuyên rừng có thể tạo thế phòng thủ rất tốt. Mặt còn lại tiếp giáp phía đồng bằng (kéo dài từ phía thị xã Vĩnh Yên, Hương Canh, Xuân Hoà lại không bị ép bởi các lực lượng khác nên có thể phát triển lực lượng rất tốt (VD: có thể phối hợp ở thế tập hậu cho lực lượng chủ yếu của liên quân Đinh Bộ Lĩnh (ở Ninh Bình) và Trần Lãm (ở Thái Bình) tiến đánh Đỗ Động ở Thanh Oai, hay bao vây lực lượng của Lã xử Bình ở Cổ Loa.vv…)

Năm là: Khu vực động Trinh Thạch đã nêu trên cũng không chịu nhiều ảnh hưởng do sự tranh giành quyền lực của các thế lực trong và ngoài nước. Do đó, dân chúng được yên ổn sinh sống, làm ăn mà không bị tổn hại về người và của cải. Xem xét trong suốt chiều dài của lịch sử của đất nước thì vùng này luôn là vùng ít chịu ảnh hưởng của loạn lạc, của thiên tai địch hoạ và ít chịu sự hy sinh mất mát nhất trong chiến tranh, loạn lạc.

Xuất phát từ những lập luận trên, chúng ta sẽ đặt ra một câu hỏi: Với một địa bàn được cụ tổ chức tốt như vậy, lòng dân yêu quí cụ, chịu ơn cụ, đùm bọc chở che cụ suốt 30 năm sao không để lại dấu ấn gì cho đến nay? Theo tác giả có mấy nguyên nhân sau:

– Vào thời kỳ đó, và tiếp sau đó vùng này không có những sự kiện lớn xảy ra, nên sử sách có thể không ghi lại,

–  Để đảm bảo bí mật cho căn cứ, đảm bảo sự an toàn cho dòng họ của cụ và nhân dân nơi đây không bị  triều đình Lê Hoàn truy sát về sau nên các dấu tích cần được nguỵ trang.

Cho dù về sau cụ đã được triều Lý trọng dụng và cụ về Thái Bình định cư thì dòng họ Bùi và nhân dân ở quê cũ không thể không nhớ ơn cụ và ghi chép lại cho đời sau! Điều này chỉ có thể làm sáng tỏ, nếu như chúng ta đầu tư có trọng tâm vào việc khảo sát, bóc phủ các giai tầng lịch sử, văn hoá qua các thời kỳ lịch sử, qua những nghi lễ thờ cúng, qua các câu hát đồng dao hay các trò chơi dân gian… thì có thể có hy vọng?

[1] Nguyễn Tiến Đoàn, về cuốn: “Bùi gia lịch thế sự trạng” tìm được ở Thái Bình

[2] Ông Bùi Xuân Sính đã cùng bà con hậu duệ của cụ Bùi Quang Dũng đã nhiều lần đến tận thạch Thành để khảo sát, tìm hiểu và nghiên cứu.

Đoàn Huy

 

Tin liên quan:

Họp bàn tổ chức giỗ 1000 năm Thái tổ Trinh Quốc công, Anh dực tướng quân Bùi Quang Dũng (25/07/2018)

Phát biểu đề dẫn hội thảo khoa học "Danh nhân Bùi Quang Dũng - cuộc đời và sự nghiệp"

Hội thảo: Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng trong bối cảnh chính trị, xã hội thế kỷ 10

Đóng góp của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng với nhà Đinh và nhà Lý

Bùi Quang Dũng - Danh thần hai triều Đinh – Lý

THIÊN SÁCH THƯỢNG TƯỚNG TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA CỦA “HÀM CHÂU BÙI GIA PHẢ KÝ”

Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng với công cuộc khai khẩn lập ấp Hàm Châu hồi cuối thế kỷ X

Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng (922-1018) – trong tâm thức người dân và hậu duệ họ Bùi

Từ đường Thiên Sách Thượng Tướng quân Bùi Quang Dũng - Di tích lịch sử văn hóa quốc gia

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 13
  • 422
  • 1,430,464