Nhà giáo Bùi Sĩ Liêm, một nhà nho đáng kính trọng

  05/02/2017

 

Ở nước ta ngày xưa có nhiều nhà giáo cũng là nhà nho được nhiều người kính trọng như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đặng Trần Côn, Vũ Tông Phan, Vũ Thạnh, Bùi Sĩ Liêm.

Bùi Sĩ Liêm (hoặc Bùi Vĩ Liêm, Bùi Liêm) là người làng Kinh Lũ (nay thuộc xã Đông Hưng) huyện Đông Quan, nay thuộc tỉnh Thái Bình. Ông sinh năm 1690, thuở trẻ đi học ở Quốc Tử Giám, Thăng Long, nổi tiếng là người học giỏi. Trong các buổi bình văn ở Quốc Tử Giám bao giờ văn ông cũng được xếp hạng ưu vì "lời văn đẹp đẽ phong phú hơn cả một thời" như Phan Huy Chú đã nhận xét. Ở kinh sư lúc ấy có câu nói: "Đông Quan Kinh Lũ, đương kim độc bộ" (Người làng Kinh Lũ Quan hiện nay học giỏi có một).

Năm 18 tuổi ông đỗ thi hương rồi lên học ở kinh đô. Năm 26 tuổi ông thi một lần đỗ ngay đình nguyên, đệ nhị giáp tiến sĩ khoa Ất Mùi (1715) đời Lê Dụ Tông và Trịnh Cương. Tính ông rất khảng khái, cứng cỏi. Ông thăng tiến khá nhanh trên đường sĩ hoạn, trong 16 năm đã từ hàm chánh thất phẩm lúc đầu lên đến chánh ngũ phẩm, giữ chức Thái thường tự khanh.

Năm 1731 Trịnh Giang kêu gọi các quan lớn nhỏ trình bày các kiến nghị cốt yếu, thiết thực với thời cuộc để ông ta chọn lấy những điều cần thiết mà thực hiện. Trịnh Giang ra chỉ dụ vào tháng 5 năm Tân Hợi (1731) thì tháng 6 Bùi Sĩ Liêm đã dâng lên tờ khải 10 điều, nội dung đại thể có các vấn đề chính như sau: 

1. Nêu lên sự nghi ngờ của nhân dân về việc Trịnh Cương ép vua Lê Dụ Tông, bắt vua thoái vị để làm thái thượng hoàng, khuyên Trịnh Giang nên nối chí tổ tiên tôn phù vua Lê. 
2. Nói về sự nhũng lạm của quan lại các cấp. Ông mong mỏi Trịnh Giang làm cho: "Cái cửa tà vọng cong queo vĩnh viễn đóng lại, con đường công bằng trong sạch được đi lại thong dong." 
Quan và lại đặt ra quá nhiều: "Dân ít quan nhiều chẳng khỏi nhũng tệ". Vì vậy cần phải: "Liệu việc bổ quan, xem đất mà chia trị", phải giảm viên chức thừa ở các phiên bằng cách sắp xếp công việc giữa các cơ quan nhà nước, phải chia đặt lại địa phương, phải ngăn ngừa việc cầu cạnh, chạy chọt, lạm bổ, thăng chức quá nhanh, tệ ăn chặn tham nhũng của quan và lại các cấp. 
3. Về ruộng đất ông đề nghị: người nào có ruộng tư đủ cày cấy thì không được chia khẩn phần ruộng công, thiếu mới được chia thêm. Nông phu, từ 100 mẫu trở lên là thượng nông phu, từ 100 mẫu trở xuống là thứ nông phu, từ 50 mẫu trở xuống là hạ nông phu. Nhà nước chỉ để cho thượng nông phu 15 mẫu cày cấy, thứ nông phu 10 mẫu, hạ nông phu 5 mẫu, còn thì đem chia cho nông dân cày cấy lấy thóc nộp tô thuế; đề nghị thực hiện trợ canh công điền và tư điền. 
4. Về việc học tập, thi cử ông cho rằng: "Đề thi văn cổ phải kiểm tra học lực nông sâu, văn kim hỏi về thời sự phải xét được mưu trí học trò ... làm cho các bậc túc nho thi có thể dễ đỗ mà bọn "nhãi ranh học vẽ" hết lối đánh lộn sòng, thì người thi đỗ ra làm quan mới có kinh luân hữu dạng, các bậc hiền tài cùng tiến thì thế đạo mới phát huy".
5. Ông còn đề nghị một số vấn đề khác như nuôi dưỡng và sử dụng hợp lý các loại binh lính, đối xử công bằng hợp lý giữa ưu binh (lính Thanh Nghệ và nhất binh (lính tứ trấn) không bóc lột công sức, tiền của binh lính, như thường xuyên cử người đi xem xét tình hình dân chúng, cải tổ hệ thống hiến ty, thực hiện đúng hiến chương pháp luật, trừng trị kẻ ác, khuyến khích việc thiện ..v.v... 

Tờ khải 10 điều này thực sự là một đề nghị cải cách khá toàn diện. Chế độ của họ Trịnh, sau hai cuộc chiến tranh với con cháu họ Mạc đã bị lật đổ và với họ Nguyễn ở Đàng Trong, đã được củng cố, tiến bộ, đưa xã hội Đàng Ngoài tiến lên trong các đời Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn và Trịnh Cương. Khi những thiếu sót và tiêu cực của chế độ ấy đã bắt đầu bộc lộ là Bùi Sĩ Tiêm đã nhìn thấy và đã phê phán. Tuy các kiến nghị giải quyết tình hình của ông có chỗ còn chưa phù hợp (như về ruộng đất, thuế má) nhưng cũng có nhiều điểm tốt, nếu được thực hiện sẽ làm cho xã hội được lành mạnh hơn. Song những nhận xét và kiến nghị của ông đụng chạm đến tất cả mọi tầng lớp xã hội từ nhà chúa đến các quan, đến lại và lính, đến các tầng lớp nông phu giàu có. Trịnh Giang lại là một nhà chúa hôn ám, ưa nịnh, kiêu ngạo. Vì thế tờ khải không được ai ủng hộ, còn Trịnh Giang thì tức giận cách hết quan chức và đuổi ông về quê.

Ông về làng mở thư viện, lập trường dạy học. Sĩ phu kính mộ ông có phong thái, tiết tháo lẫm liệt vì nói thẳng mà bị ghét bỏ, có tinh thần dũng cảm mà bị đối xử bất công đã đến theo học rất đông. Trong các học trò ông nhiều người đã trở thành các viên quan có danh vọng.

Ông mất dưới thời Trịnh Doanh là một nhà chúa sáng suốt. Hơn nữa những điều ông nói đã ngày càng lộ ra đầy đủ. Trịnh Doanh và triều đình thấy rõ ông là người sáng suốt, trung thực, dám nói thẳng mà bị đối xử bất công, đã truy trả hết chức cũ, tặng hàm tham chính và tước trung tiết hầu, lại cấp ruộng để thờ cúng.

Ngày nay, những nhận xét và đề nghị của ông, đặc biệt là về quan lại và học tập, thi cử đời xưa cũng khiến chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều.

(Theo www.nguoivienxu.vietnamnet.vn)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 10
  • 312
  • 3,770,073