NHÀ VĂN THÂN YÊU NƯỚC BÙI VĂN DỊ VỚI SỰ NGHIỆP CHỐNG THỰC DÂN PHÁP, BẢO VỆ HÀ NỘI CUỐI THẾ KỶ XIX

  06/03/2017

Bùi Văn Dị chính là tên ông, nhưng Vua Tự Đức đã đặt cho ông tên chữ là Ân Niên, vì vậy sử sách triều Nguyễn khi nói tới ông đều chỉ dùng tên mới.

Ông sinh ngày 28 tháng Ba năm Quí Tỵ (ngày 17 tháng 5 năm 1833) tại làng Châu Cầu, nay thuộc thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Họ Bùi vốn không phải là họ gốc ở làng này, mà từ xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín (nay thuộc xã Triều Dương, huyện Thường Tín, Hà Nội) dời vào. Trên quê hương mới, họ Bùi qua các đời đều theo đuổi việc học, trong đó, thân sinh Bùi Văn Dị đỗ Tú tài.

Nối nghiệp nhà, Bùi Văn Dị đi học rất sớm và bộc lộ tư chất thông minh, có nhiều năng khiếu nên tiến bộ nhanh và đạt những thành tích xuất sắc, liền trong hai khoa thi Hương, ông đều đỗ Tú Tài, lúc mới 18 tuổi (năm Tân Hợi, 1851) và 20 tuổi (năm Quý Sửu, 1853). Chỉ hai năm sau, đến khoa Ất Mão (năm 1855), ông đã đỗ Cử nhân. Cứ tưởng rằng trên đà thuận lợi đó, ông sẽ còn sớm giành được những thành đạt rực rỡ tiếp theo, nhưng số phận run rủi, phải tới năm 33 tuổi, tại khoa thi Hội năm Ất Sửu (năm 1865), ông đã được chánh trúng cách, nhưng vào thi Đình lại bị đánh xuống Phó bảng, để rồi 20 năm sau dưới triều Thành Thái (1889 - 1907) mới được xét lại lấy đỗ Tiến sĩ - một việc trước đó và cả về sau chưa từng có trong lịch sử thi cử của chế độ phong kiến. Về sự kiện này, ngày nay nhắc lại, một mặt cũng không rõ nguyên nhân vì sử sách triều đình không ghi cụ thể, nhưng điều quan trọng là qua đó thấy được thực lực học vấn uyên bác của Bùi Văn Dị, đã buộc triều đình phải “sửa sai”! Âu đó cũng là một điều hi hữu trong lịch sử thi cử thời phong kiến (1).

Sau khi thi đỗ Cử nhân (năm Ất Hợi, 1855), ông bước vào hoạn lộ, một thời gian ngắn được bổ dụng ở các địa phương ngoài Bắc, sau đó ít lâu được tiến cử vào làm viẹc ở Nội các tại Kinh thành Huế. Bùi Văn Dị bước vào hoạn lộ đúng vào lúc đất nước đang trải qua những giờ phút khó khăn nhất. Lúc ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã bị thực dân Pháp chiếm đóng, triều đình Huế đã phải ký Hiệp ước Nhâm Tuất (5-6-1862) xác nhận quyền chiếm đóng của kẻ thù. Để rồi 5 năm sau, chúng lại đưa quân lần lượt đánh chiếm ba tỉnh miền Tây, nuốt gọn toàn bộ Nam Kỳ (năm 1867).

Chỉ không đầy ba năm sau khi Bùi Văn Dị vào kinh đô Huế làm việc thì xảy ra việc quân Pháp từ Sài Gòn kéo ra Bắc Kỳ, đây là lần ra Bắc Kỳ thứ nhất. Tướng giặc Gác-ni-ê (Francis Garnier) sua một loạt hành động khiêu khích đối với quân dân Hà Nội, đã nổ súng đánh chiếm thành Hà Nội (20-11-1873) rồi thừa thắng phái quân đánh chiếm các thành Hưng Yên (23 tháng 11), Phủ Lý (26 tháng 11), Hải Dương (3 tháng 12), Ninh Bình (5 tháng 12), Nam Định (12 tháng 12). Nhưng vào sáng ngày 21 tháng 12 năm 1873, trong khi kéo quân đánh nống ra phía Tây để nới rộng vòng vây đang ngày càng xiết chặt Hà Nội, quân Pháp đã rơi vào trận phục kích của quân dân ta tại Cầu Giấy, cửa ngõ phía Tây của Hà Nội, và chỉ huy giặc là Gác-ni-ê đã phải bỏ mạng.

Chiến thắng Cầu Giấy năm 1873 đã cổ vũ mạnh mẽ nhân dân Hà Nội và cả nước, dồn bè lũ thực dân Pháp ở Hà Nội và các tỉnh vào tình thế vô cùng hoảng loạn, nguy cơ bị tiêu diệt. Nhưng cơ hội quét sạch giặc đã bị bỏ qua, để dọn đường cho cuộc thương thuyết, vua Tự Đức đã ra lệnh triệt binh lên Sơn Tây, nới rộng vòng vây xung quanh Hà Nội. Mặc dù vậy khi ra tới Hà Nội, đứng trước tình hình tan rã của quân Pháp, phái viên Pháp là Philastre phải ra lệnh cho bọn Pháp ở các địa phương trả gấp các thành cho quan lại triều đình, rồi xuống tàu rút về Sài Gòn, chỉ để lại một trung đội hộ vệ viên lãnh sự Pháp tại Hà Nội.

Vua Tự Đức lúc đó chọn một số quan lại quê ngoài Bắc vốn quen thuộc với công việc và dân tỉnh, phái họ ra ngay Bắc Kỳ để phối hợp với các quan tại địa phương giải quyết các vụ rắc rối. Chính vào lúc này, Bùi Văn Dị được cử ra Ninh Bình cùng với các quan tỉnh tiếp quản, rồi giữ chức Án sát tỉnh này (năm 1874).

Năm sau (Ất Hợi, 1875), Bùi Văn Dị được điều động về Huế, làm việc tại Nội các. Năm ấy, nhân khoa thi Hội và thi Đình, ông được cử giữ chức duyệt quyền. Khoa thi này đã chọn được 11 Tiến sĩ, trong đó có hai người sau này đã trở thành những thủ lĩnh Cần Vương nổi tiếng là Tống Duy Tân đứng đầu cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh ở Thanh Hóa và Vũ Hữu Lợi mưu việc nổi dậy chống Pháp tại Nam Định. Cả hai người về sau đều bị giặc Pháp xử chém. Vũ Hữu Lợi chính là con rể của Bùi Văn Dị.

Năm Bính Tý - 1876, ông được cử làm Chánh sứ đoàn ngoại giao sang cống nhà Thanh. Đây là một ưu đãi của triều đình đối với ông vì chức quan của ông lúc đó còn thấp, nhưng nhờ có nhiều năm làm việc ở Nội các chuyên viết bút mực, nhiều lần đi theo nhà vua cùng nhau xướng hoạ nên Vua Tự Đức đã thăng cho ông chức Thị lang bộ Lễ để cầm đầu sứ bộ.

Cuối năm Mậu Dần - 1878, đoàn sứ bộ về tới Kinh thành Huế, vừa đi vừa về hết 20 tháng. Bùi Văn Dị được sung công việc Nội các như cũ, đến khoa Kỷ Mão (năm 1879) lại được cử tham gia chấm thi Hội và thi Đình lần thứ hai, cũng với cương vị duyệt, quyền. Vua Tự Đức biết và trọng tài năng của Bùi Văn Dị, nhưng vì chức vị ông còn thấp, nên trước đó đã phải giao thêm cho ông chức Quyền Tham trị Bộ Lai để hợp pháp hóa việc cử ông phụ trách việc chấm thi. Mãi đến năm 1881, ông mới lên chức đại thần chuyển sang quản lý Nha Thương bạc chuyên việc giao thiệp với Pháp và trông nom các thuyền buôn qua lại.

Bùi Văn Dị nhận chức mới được một năm tại kinh thành Huế thì năm sau quân Pháp lại từ Sài Gòn kéo ra Bắc Kỳ lần thứ hai. Lần này, cũng như chuyến kéo ra Bắc Kỳ 10 năm về trước, chỉ huy giặc Hăng-ri Ri-vi-e (Henri Rivière) sau hàng loạt hành động khiêu khích, lại nổ súng đánh chiếm thành Hà Nội (ngày 25 tháng 4 năm 1882), Tổng đốc Hoàng Diệu đã tử tiết với thành.

Rút kinh nghiệm lần thất bại năm 1873, khi ra nhận chức Tổng đốc, Hoàng Diệu tuy vẫn đóng một bộ phận quan trọng quan quân trong thành, nhưng cũng bố trí một số quân đóng phía ngoài để cùng nhau hỗ trợ tác chiến khi thành bị taqán công. Không những vậy, Hoàng Diệu cùng các quan lại có trách nhiệm ở Bắc Kỳ hồi đó còn trình lên triều đình một kế hoạch phòng thủ trên cơ sở ba miền rừng núi, trung du và đồng bằng hiệp đồng tác chiến khi hữu sự. Kế hoạch đó không được triều đình chấp nhận, nhưng đã làm cho các quan lại ngoài Bắc có ý thức về sự cần thiết đó nên đã có phần chuẩn bị về các mặt. Chính đó là điều kiện tốt cho các đạo quân của Hoàng Tá Viêm ở Sơn Tây và của Trương Quang Đản ở Bắc Ninh hình thành hai gọn kìm lớn thường xuyên xiết chặt vòng vây xung quanh Hà Nội.

Nhưng bất chấp tất cả, với lực lượng mới được tăng viện từ Sài Gòn ra, từ Pháp sang, Ri-vi-e lập tức cho quân ra đánh chiếm Hồng Gai (tháng 3 năm 1883), khống chế mặt biển Bắc Kỳ và áp đặt chủ quyền của tư bản Pháp trên vùng mỏ miền đông bắc. Chỉ mấy ngày sau, tàu chiến Pháp lại kéo tới chiếm đóng Quảng Yên. Rồi thừa thắng, Ri-vi-e trực tiếp kéo quân từ Hà Nội xuống đánh chiếm thành Nam Định (ngày 27 tháng 3 năm 1883).

Tình hình giặc Pháp lấn lướt ngoài Bắc không khỏi làm cho Bùi Văn Dị băn khoăn lo ngại, bộc lộ sự quan tâm sâu sắc đối với vận mệnh Tổ quốc. Ngay khi còn ở Nội các, và tiếp đó là sau khi đi sứ về (Mậu Dần, 1878), trong một số bài thơ của ông đã cho thấy rõ tâm trạng đó, tự trách mình tuy có “mộng ước với non sông” nhưng không đủ tài trí để đảm đương việc lớn giúp vua cứu nước:

Thơ dâng lệ những tuôn ròng,

Diệt thù hiểm nỗi mình không đủ tài

Tấm sơn dù thác khôn phai,

Bồng bềnh kiếp sống bạc phơi mái đầu”.

                                          (Hoạ nguyên vần thơ Vau răn bản các văn thần).

Khi lại trông đợi có người tai ra đảm đương việc nước, và nhắc nhở người cùng thời phải cảnh giác đối với mưu sâu của giặc:

Tin hồng từ năm trước,

Tiếng cuốc vọng canh khuya.

Cậy ai lo việc nước

Trong cuộc chớ u mê”.

(Tháng 7, sứ bộ đi ký định ước về vâng lên Vua làm thơ này).

Năm 1882, trước khi quân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai, Bùi Văn Dị đã dâng sớ lên triều đình xin đánh giặc. Nhưng cũng phải đến khi được cử ra giữ chức Khâm sai Phó Kinh lược sứ Bắc Kỳ, trực tiếp cầm quân ra Bắc đi kiểm tra, đôn đốc quan binh, phối hợp với quan lại các địa phương tổ chức việc phòng thủ Đánh giặc Pháp, Bùi Văn Dị mới thực sự có điều kiện bộc lộ hết tình cảm yêu nước nồng nàn của mình. Nhiều bài thơ của tập Du Hiên thi thảo trong thời gian ông cầm quân ngoài Bắc cho chúng ta hình ảnh một nhà nho yêu nước, một vị quan văn không quen công viẹc binh đao, những đến khi nhà nước có việc vàc có lệnh vua thì vẫn hăng hái xông pha, dũng cảm dấn mình vào nơi sóng gió, đầu tên mũi đạn. Lần theo bước chăn ông trong thời gian này trên địa bàn Bắc Kỳ thì thấy rõ điều đó, khi ở Sơn Tây lúc ở Hà Nội, Ninh Bình, lúc lại Hải Dương, Hưng Yên. Để rồi đến cơ hội khi quân Pháp kéo xuống đánh chiếm Nam Định, số còn lại ở Hà Nội còn bao nhiêu, Bùi Ân Niên đã kịp thời phối hợp với Tổng đốc Bắc Ninh là Trương Quang Đản điều quân tới áp sát bờ sông Hồng thuộc hai huyện Gia Lâm – Đông Ngàn (nay là huyện Gia Lâm và Đông Anh), rồi nổ súng vào trại Đồn Thủy của Pháp phía bên kia sông. Để giành thế chủ động, quân Pháp đã liều lĩnh vượt sông Hồng sang Gia Lâm, nhưng bị cánh quân Bùi Ân Niên, Trương Quang Đản phục kích sẵn đánh quyết liệt ngay khi chúng mới đặt chân lên bờ, buộc chúng phải rút lui về phố Dốc Gạch cố thủ qua đên. Đến sáng hôm sau chúng lại liều chết phá thế bị bao vây uy hiếp, nhưng quân ta bám chặt trận địa bắn lại quyết liệt buộc chúng phải vừa đánh vừa lùi. Đúng vào lúc đó, Trần Xuân Soạn và Nguyễn Cao kéo quân đến tiếp sức. Núng thế, quân Pháp phải kéo nhau xuống tàu chạy về cố thủ ở Đồn Thuỷ, vừa chết vừa bị thương lên tới gần 30 tên. Trận đánh này diễn ra trong hai ngày 19 và 20 tháng Hai năm Quý Mùi (27 và 28 tháng 3 năm 1883). Trận thắng không lớn, nhưng đây là trận đánh duy nhất Bùi Văn Dị trực tiếp chỉ huy trên chiến trường Bắc Kỳ. Điều đó làm cho ông thật sự phấn khởi và tin tưởng, thể hiện qua lời thơ sau:

Bờ Bắc trào mặt song

Gió Đông sạch chiến trường,

Ngất trời, quân dũng khí,

Nghe tiếng, giặc kinh hoàng.

Tiếc chưa kịp chặn hậu,

Ai rằng giặc khó đương?”.

(Liền hai ngày 19 và 20 tháng Hai quan quân giao chiến với địch).

Sau trận thắng, Bùi Văn Dị được thưởng Quân công kỷ lục hai lần và một đồng tiền vàng, lại được cử làm Tham tán quân thứ Bắc Ninh, cùng Tổng đốc Bắc Ninh là Trương Quang Đản chỉ huy lực lượng quân sự trong tỉnh, chuẩn bị đánh giặc khi chúng quay trở lại.

Để cứu nguy cho đội quân chiếm đóng ở Hà Nội, Ri-vi-e phải vội đưa quân từ Nam Định về. Và trong một trận đánh nống ra phía Sơn Tây, hắn lại cũng bị quân dân ta tiêu diệt tại Cầu Giấy (ngày 19 tháng 5 năm 1883), cùng chung số phận với Gác-ni-ê mười năm về trước (ngày 21 tháng 12 năm 1873).

Đến tháng 10 năm đó, lại có chiếu chỉ cử Bùi Văn Dị làm Tổng đốc Ninh – Thái (Bắc Ninh – Thái Nguyên), nhưng ông không nhân, một phần lấy cớ đang ốm nặng, mà cũng vì ông phản ứng lại lệnh bãi binh của triều đình. Trước đó ít lâu, Vua Tự Đức đã chết (ngày 17 tháng 7 năm 1883), rồi lại đến việc quân Pháp tấn công Thuận An buộc triều đình ký Hiệp ước Quý Mùi, còn gọi là Hiệp ước Hắc-măng (Harmand) ngày 25 tháng 8 năm 1883; để ngay sau đó lại quay ra thừa thắng đánh chiếm nhiều nơi (Sơn Tây, tháng 12 năm 1883; Bắc Ninh và Thái Nguyên tháng 3 năm 1884; Hưng Hoá tháng 4 năm 1884; Tuyên Quang tháng 5 năm 1884).

Hiệp ước Quý Mùi 1883 thực chất là một hàng ước với nhiều điều khoản vô cùng nghiệt ngã cho phía Nam triều, như Nam Kỳ vốn là xứ thuộc địa thì nay thêm xứ Bắc Kỳ trở thành xứ bán bảo hộ, Trung Kỳ là xứ bảo hộ của Pháp, phải gọi về toàn bộ số quân đã gửi ra chiến trường Bắc Kỳ và đình chỉ mọi hoạt động quân sự.

Bùi Văn Dị lại được triệu về Kinh làm Tả Tham tri Bộ Lại, đến khi mở Tòa Kinh Diên, ông lại được cử hàng ngày giảng sách cho Vua Kiến Phúc. Chính thời gian này, quân Pháp lại tạo áp lực mới, buộc triều định Huế ký thêm Hiệp ước Giáp Thân (còn gọi là Hiệp ước Pa-tơ-nốt) ngày 6 tháng 6 năm 1884, xác nhận quyền đô hộ lâu dài của chúng ở Việt Nam. Rồi đến khi vua Hàm Nghi lên ngôi (6-6-1884), ông lại được cử làm Tả Tham tri bộ Lại, kiêm Sung biện sứ vụ Viện Cơ mật. Chính thời gian này, phái chủ chiến trong triều do Tôn Thất Thuyết đứng đầu ráo riết chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến đấu sống mái với giặc Pháp khi thời cơ tới. Các quan chức văn võ đã từng cùng nhau tiễu phỉ, đánh giặc Pháp ở ngoài Bắc như Trương Quang Đán, Trần Xuân Soạn v.v... đều được phái chủ chiến trong triều chú ý đưa về Kinh. Bùi Văn Dị cũng nằm trong số đó, hơn nữa ông lại làm việc trong Viện Cơ mật, nên càng có điều kiện tham gia bàn bạc nhiều việc quan trọng. Nhưng ông đã không có điều kiện tham gia cuộc chiến đêm mồng 4 rạng sáng ngày mồng 5 tháng 7 năm 1885, vì ông có bệnh, nên trước đó đã được đưa về huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa để chữa trị.

Đến cuối năm1887, Bùi Văn Dị lại được lệnh gọi về triều. Lúc này ngồi trên ngôi vua là Đồng Khánh mới được Pháp dựng lên sau vụ phản công Kinh thành Huế của phái kháng chiến thất bại. Ông được cử giữ chức Tham sứ Bắc Kỳ , song thực dân Pháp đã can thiệp ngay vào quyết định đó của triều đình, nói rõ không nên dùng lại ông và “Yêu cầu cho về nghỉ hưu”  (1). Sự can thiệp thô bạo của phía Pháp ngoài lý do trước kia ông đã từng chống Pháp, chắc một phần quan trọng cũng vì con rể ông là ông Nghè Giao Cù (Vũ Hữu Lợi) mua đồ chống Pháp ở Nam Định và đã bị kết án xử tử. Chưa rõ vì một lẽ gì mà một ông vua thân Pháp như Đồng Khánh, do chính Pháp dựng lên, vẫn giữ lại Bùi Văn Dị ở triều, tuy rằng phải điều ông sang làm việc ở Nội các. Đến đầu năm sau (năm Mậy Tý, 1888), ông được thăng quyền Thượng thư bộ Lễ, kiêm Phó Tổng tài Quốc sử quán, biên soạn bộ sử lớn của triều Nguyễn là Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ, viết về triều Vua Tự Đức.

Đến khi Thành Thái lên ngôi (tháng 2 năm 1889), Bùi Văn Dị càng được trọng dụng. Ông không chỉ làm Kinh Diên giảng quan mà còn Phụ đạo đại thần dạy vua học, và chỉ mấy năm sau lại lên chức Thượng thư bộ Lại, phụ trách đại thần. Mặc dù hoạn lộ lúc này có thể nói là hanh thông, nhưng qua thơ văn, Bùi Văn Dị vẫn kín đáo bộc lộ nỗi buồn của một ông quan mất nước, vẫn nhớ tới ngôi nhà nhỏ ở Hải Nông ở miền núi đồi huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Cười với non xanh, đi lại về,

Mây canh hộ cửa ghép bằng tre...

Nhà bên có rượu thường mang biếu,

Đình mới sang năm gạt lệ nhòa”.

Với nỗi niềm tâm sự như vậy, đến năm Canh Dần, 1890 ông từ chức Thượng thư bộ Lại và Phụ chính đại thần, chỉ giữ chức Phụ đạo đại thần kiêm Phó Tổng tài Quốc sử quán. Những năm cuối của cuộc đời làm quan, Bùi Văn Dị dốc tâm huyết vào việc dạy học cho Vua Thành Thái, sau này cũng có chí hướng cứu nước, và vào việc biên soạn quốc sử; đồng thời biên tập hoàn chỉnh bộ thơ vịnh sử của Vua Tự Đức. Khối lượng công việc biên soạn và trước tác của ông hoàn thành trong những năm cuối đời, tất nhiên là làm theo lệnh vua, nhưng chắc cũng không ngoài mục đích phát huy nền văn học dân tộc, vì ông vẫn có lòng tin rằng, nền văn hoá đó vẫn còn chưa mất hẳn (Tứ văn do vị táng). Ông đã mất ngay tại bên bàn làm việc trong Quốc sử quán ở Huế. Đó là vào ngày mồng 4 tháng Tám năm Ất Mùi (ngày 22 tháng 9 năm 1895), hưởng thọ 63 tuổi.

*

                                                                  *   *    *     *

Một trăm mười lăm năm đã trôi qua (1895 - 2010), kể từ ngày Bùi Văn Dị (Bùi Ân Niên) trút hơi thở cuối cùng tại Kinh thành Huế. Ngày nay, với khoảng lúc thời gian cần thiết, lại có thêm những tư liệu mới bổ sung, chúng ta có điều kiện để đi tới một đánh giá đúng đắn về ông.

Trong hoàn cảnh Việt Nam đầy biến động, vào nửa sau thế ký XIX, Bùi Văn Dị - cũng như một số bạn bè đồng liêu của ông – đã có mặt trên đài chính trị với tư cách là một thân sĩ phu có lòng yên nước, thương dân, đến khi đất nước lâm nguy, bị ngoại bang uy hiếp thì theo lệnh vua, bôn ba trên con đường cứu nước, lúc cầm đầu sứ bộ ngoại giao sang nhà Thanh, có thời gian lại cầm quân ra Bắc đánh giặc Pháp. Điều đáng tiếc đối với ông là đã bỏ qua cơ hội hòa nhập với phong trào nhân dân yêu nước, được bột phát trong phòng trào Cần Vương, việc chống Pháp của ông vẫn có tính đơn độc, lẻ loi.

Trải qua nhiều chức quan lớn nhỏ, được nhiều đời vua trọng dụng, nhưng cuối cùng trước cảnh nước mất nhà tan, phải làm quan cho một triều đình bù nhìn ngày càng đi sâu vào con đường khuất phục, đầu hàng Pháp, Bùi Văn Dị đã dồn tâm lực vào công tác giáo dục - văn hoá và đã có những đóng góp lớn về mặt này. Nói đến đóng góp của ông về mặt văn hóa, ngoài Bộ Đại Nam thực lục (Đệ tứ kỷ) không thể không nhắc tới những tác phẩm thơ văn ông đã sáng tác, thư các tập Tốn Âm thi saoDu Hiên thi thảo, Vạn lý hành ngâm, Trí Chu thù xướng tập… Đó là những tác phẩm đượm tinh thần yêu nước, chống xâm lược, thể hiện một ý thức trách nhiệm cao cả đối với dân, với nước. Đó là những giá trị chân chính của truyền thống văn hóa dân tộc mà hơn bao giờ hết cần được làm sáng tỏ và đề cao trong bối cảnh hiện nay để phục vụ sự nghiệp cách mạng ngày càng phát triển và tiến tới.

Để có một cách đánh giá sát hợp nhất về giá trị của văn thơ Danh sĩ Bùi Văn Dị, thiết tưởng có thể lấy lời nhận định của một người bạn thơ văn gần gũi với ông, đồng thời cũng là một đỉnh cao của văn học nghệ thuật nước ta thời Nguyễn, đó là Tuy Lý Vương Miên Trinh, người đã được suy tôn là:

Văn như Siêu, Quán vô Tiền Hán (1)

   Thi đáo Tùng, Tuy nhất Thịnh Đường” (2).

Trong Lời đề từ viết vào mùa Đông năm Quý Tỵ (năm 1893) như sau: “Tiên sinh lấy năng khiếu để mà nghĩ, lấy sách vở, phong hóa để học, cho nên thơ làm 300 bài để khắc ý đến lấy sở đắc từ thời Hán - Ngụy xuống đến Vãn Đường, ý thơ trầm lắng mà sâu xa, tiết tháo cốt kết mà uyển chuyển, ngôn ngữ chặt chẽ mà trong sáng, khoáng đạt. So với cổ nhân cũng không thua kém mấy”.

“Lời đề từ” đó cũng có thể dùng để khép lại bài viết nhỏ này về một nhà văn hóa lớn.

 


 

(1) Về khoa thi này, trong bài “Những nhà khoa bảng Hà Nội thời Nguyễn được khắc trên bia Tiến sĩ ở Văn Miếu - Huế” của Nhà nghiên cứu Tăng Khôi (Trung tâm bảo tồn di tích cô đô Huế) có viết: “Thực ra khoa thi này dưới triều Thành Thái không có thực, chỉ duy nhất ông Bùi Ân Niên (Bùi Văn Dị) được vua ban đặc ân để dành bảng vàng và khắc tên riêng vào một tấm bia ở Văn Miếu, lấy khoa thi Ất Sửu (1865) dưới triều Tự Đức mà riêng ông đã đỗ Phó bảng để truy phong học vị Tiến sĩ cho ông”.

            Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam do Ngô Đức Thọ chủ biên (Nxb. Văn học, 2006) ghi  “Bùi Văn Dị 34 tuổi đỗ Phó bảng khoa Ất Sửu niên hiệu Tự Đức 18 (1865). Năm Thành Thái thứ 2 (1890) ông lại thi Hội đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ”. Thực ra, năm Canh Dần - 1890 không có khoa thi nào; có lẽ chỉ là việc xét lại học vị cho Bùi Văn Dị mà thôi (BT).

(1) Đại Nam thực lực, tập 36, tr 39.

 

(1) Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, hai danh sĩ Bắc Hà, bạn văn thơ của Bùi Văn Dị.

 

(2)Tùng Thiện Vương (Miên Thấm) và Tuy Lý Vương (Miên Trinh), hai thân vương triều Nguyễn nổi tiếng về tài làm thơ được tôn vinh còn hơn các nhà thơ lớn đời Đường (Trung Quốc) vào thời kỳ cực thịnh.

 

GS. ĐINH XUÂN LÂM

Tin liên quan:

Bùi Văn Dị

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 10
  • 8907
  • 3,809,417