NỘI DUNG TẤM VĂN BIA “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO”

  24/01/2017
Xem hình
Nội dung văn bia bằng chữ Hán

Tấm bia “HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO ” được gắn vào tường nhà Quan Cư, bên trái đền Thượng, có niên đại Ngày mùng 10 tháng 3 năm Canh Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ 15 triều Nguyễn (1940) do Bùi Ngọc Hoàn giữ chức Tham tri, hữu tuần phủ Phú Thọ soạn. Bia có ghi “Trước đây, ngày Quốc tế được tổ chức Xuân - Thu nhị kỳ. Năm Khải Định thứ 2 (1971) tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ lễ ấn định lấy ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch làm ngày  Quốc tế, tức trước ngày giỗ Tổ Hùng Vương một ngày, còn ngày giỗ (11-3) do dân sở tại làm tế lễ”.

1.      Dịch nghĩa:

KHẢO VỀ ĐỀN HÙNG VƯƠNG

Đền Hùng Vương là nơi thờ các vị vua thời Hồng Bàng tối cổ trong lịch sử nước Việt ta.

Vua Hùng Vương thứ nhất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 2879 trước công nguyên), đóng đô tại Phong Châu (tức nay là Bạch Hạc). Đặt quốc hiệu là Văn Lang, truyền 18 đời, đều xưng Hùng Vương, trải 2622 năm. Về sau bị Thục An Dương Vương chiếm đất (Kỷ nguyên dương lịch là năm 258 trước công nguyên). Còn nhớ các vị tiền vương thì dựng miếu ở núi Nghĩa Lĩnh (tức nay là núi Hùng), cấp tự điền tại thôn Cổ Tích của xã Hy Cương, là nơi đất cũ băng hà của vua Hùng đời thứ 18. Nay còn lăng ở bên cạnh miếu, con cháu là dân thôn Triệu Phú lập riêng một miếu ở lưng chừng núi để thờ (tức nay là đền Trung).

Dân xã Vi Cương cũng lập riêng một miếu ở dưới chân núi để thờ (tức nay là đền Hạ), trải các triều được ghi vào điển thờ của nước.

Năm Tự Đức thứ 27 (dương lịch là năm 1874), Tổng đốc Tam Tuyên (1)­­ Nguyễn Bá Chi vâng theo sắc của triều đình cho trùng tu đền Thượng.

Đến năm Duy Tân thứ 6 (dương lịch là năm 1912), Diên Mậu Quận công Hoàng Cao Khải trình tờ tư(2) xin chính phủ cấp tiền 2000 đồng để tu sửa. Tuần phủ Phú Thọ Chế Quang Ân lại phụng mệnh đứng ra khuyến khích mọi người góp tiền trùng tu nội tẩm và ngoại điện như quy thức hiện nay đang có.

Năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), tu tạo lăng trên đỉnh núi (lăng mộ tổ).

Trước đây, ngày quốc tế(3)­ lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ 2 (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc có tờ tư xin Bộ Lễ ấn định lấy ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm làm ngày quốc tế, tức trước ngày giỗ vua Hùng đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng 3) do dân sở tại làm lễ.

Lưng chừng núi có ngôi chùa cổ, tên là chùa Thiên Quang, năm Tự Đức thứ 3 (dương lịch là năm 1850), Hình bộ Thượng thư Nguyễn Đăng Giai nhân thấy chùa cũ nên cho trùng tu, đến năm Khải Định thứ 9 (dương lịch là năm 1924), Tuần phủ Lê Vân Đỉnh(4) lại cho tu bổ chùa.

Dưới chân núi, về hướng Nam có một ngôi miếu thờ hai vị công chúa: một vị tên là Tiên Dung công chúa, con vua Hùng Vương đời thứ ba (vua gả cho Chử Đồng Tử); một vị tên là Ngọc Hoa công chúa, con vua Hùng đời thứ 18 (vua gả cho Cao Sơn Thần núi Tản Viên Ba Vì Sơn Tây).

Đến năm Khải Định thứ 7 (dương lịch là năm 1922), miếu Giếng được trùng tu. Đến năm Bảo Đại thứ 10 (dương lịch là năm 1925) lại được tu bổ.

Lập bia ngày mồng 10 tháng 3 năm Canh Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1940) triều Nguyễn.

Tham tri, lĩnh chức Tuần phủ Phú Thọ là Bùi Ngọc Hoàn soạn.

 

Nội dung văn bia bằng tiếng Pháp

 

2.      Phiên âm:

HÙNG VƯƠNG TỪ KHẢO

Hùng Vương từ giả Việt tối cổ sử thượng Hồng Bàng liệt vương trị sở dã.

Hùng Vương đệ nhất (dương lịch kỷ nguyên tiền nhị bát thất cửu) đô Phong Châu (tức kinh Bạch Hạc) quốc hiệu Văn Lang, truyền thập bát thế, giai xưng Hùng Vương, lịch niên nhị thiên lục bách nhị thập hữu nhị. Hậu Thục An Dương Vương chiếm cứ kỳ địa (dương lịch kỷ nguyên tiền nhị ngũ bát) tồn tiền vương tự kiến miếu ư Nghĩa Lĩnh (tức kim Hùng sơn), cấp tự điền tại Hy Cương xã, Cổ Tích thôn, nãi Hùng Vương đệ thập bát thăng hà cố địa dã.

Kim thượng hữu lăng tại miếu bàng, tự nhi Triệu Phú thôn dân kiến biệt miếu ư sơn yêu dĩ phụng chi (tức kim Trung từ), Vi Cương xã hữu kiến biệt miếu ư sơn lộc dĩ phụng chi (tức kim Hạ từ), lịch triều liệt chi tự điển.

Hoàng triều Tự Đức nhị thập thất niên (dương lịch nhất bát thất tứ) Tam Tuyên Tổng đốc Nguyễn Bá Nghi phụng sắc trùng tu Thượng từ; Duy Tân lục niên (dương lịch nhất cửu thập nhị) Diên Mậu lang công Hoàng Cao Khải tư thỉnh chính phủ cấp ngân nhị thiên nguyên; Phú Thọ Tuần phủ Chế Quang Ân hựu phụng hành khuyển quyên trùng tu nội tẩm, ngoại điện như kim quy thức; Khải Định thất niên (dương lịch nhất cửu nhị nhị) tăng tu sơn lăng.

Tiền giả, quốc tế dĩ thu vi kỳ; Khải Định nhị niên (dương lịch nhất cửu thập nhất) Phú Thọ tuần phủ Lê Trung Ngọc tư thỉnh Lễ Bộ ấn định dĩ đệ niên tam nguyệt sơ thập vi quốc tế nhật, tức Hùng Vương đệ thập bát kỵ tiền nhất nhật dã. Kỵ nhật (tam nguyên thập nhật) do sở tại dân chí tế.

Sơn yêu hữu cổ tự, hiệu Thiên Quang tự, Tự Đức tam niên (dương lịch nhất bát ngũ thập) Hình bộ Thượng thư Nguyễn Đăng Giai, nhân cựu trùng kiến; Khải Định cửu niên (dương lịch nhất cửu nhị tứ) Tuần phủ Lê Vân Đỉnh hựu tăng bổ chi.

Sơn hạ Nam biên hữu miếu, hiệu Tỉnh miếu tự công chúa nhị vị: Nhất thị Hùng Vương đệ tam thế Tiên Dung công chúa (thích Chử Đồng Tử); nhất thị Hùng Vương đệ thập bát thế Ngọc Hoa công chúa (thích Cao Sơn Tản Viên Ba Vì Sơn Tây) Khải Định thất niên (dương lịch nhất cửu nhị nhị) trùng tu; Bảo Đại thập niên (dương lịch nhất cửu tam ngũ) hựu tăng quảng chi.

Hoàng Nguyễn Bảo Đại thập ngũ niên Canh Thìn tam nguyệt sơ thập nhật. Tham tri lĩnh Phú Thọ Tuần phủ Bùi Ngọc Hoàn phụng chí.

Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2008

Người dịch: Nguyễn Hữu Mùi

Cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm

 

Chú thích:

(1) Tam Tuyên: gồm Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang;

(2) Tư: Một loại giấy tờ tương tự như công văn dùng trong các Bộ, ngành hiện nay;

(3) Quốc tế: ngày tế do nhà nước đứng ra tổ chức

(4) Lê Vân Đỉnh: theo cách ghi này có lẽ đây là vị họ Lê, tên hiệu là Vân Đỉnh

Bùi Ngọc Sách (Theo Viện Nghiên cứu Hán nôm)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 6
  • 651
  • 1,308,446