PHÁT HIỆN HỆ THỐNG 7 TẤM BIA ĐÌNH - LÀNG THÁI GIAO(1) VỚI "BÙI THỊ KÝ KỴ ĐÌNH VU BI KÝ"

  25/01/2017

Vừa tôi đã tiến hành khảo sát Đình - Làng Thái Giao nơi thờ vọng Đức Thánh Tản Viên, và toàn bộ hệ thống văn bia hiện có tại đình. Để có cơ sở khoa học xem xét toàn diện quá trình hình thành và xây dựng của ngôi đình - văn chỉ, chúng tôi trình bày một số kết quả nghiên cứu sau:

A. Về hệ thống các văn bia

1. Tiền nhân công đức bi ký

Bia không đề người soạn. Bia một mặt khổ 45x75cm. Trán bia chạm khắc “Lưỡng Long triều nguyệt”, diềm bia có hoa lá cánh điệu.

Nội dung:

Công đức các vị tiền nhân của 4 giáp, đã xây dựng nên ngôi Văn chỉ thôn Liên Đường, tổng Vĩnh Xương, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội(2). Bia có bài vị của cụ hội trưởng Hội tư văn như sau.

Bản thôn o văn hội trưởng Lê Quý Công tự Nhân Hiền, hiệu Bảo Long - chi linh vị.

Hoàng triều Tự Đức tam thập nhị niên (1879)

Bốn giáp thôn Liên Đường trên dưới cùng ký

2. Lê thị công đức bi ký

Bài ký trên bia về việc công đức xây đình và văn chỉ hàng tổng của dòng họ Lê.

Bia đình giáp Thái Giao, thôn Liên Đường, tổng Vĩnh Xương, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Bia một mặt, bia không ghi tên người soạn. Bia cao 100x70cm. Trán bia chạm “Lưỡng Long triều nguyệt” diềm bia hoa lá cách điệu. Bia toàn văn chữ Hán. Khắc chân phương gồm 17 dòng khoảng 500 chữ.

Nội dung:

Ông người họ Lê ở bản Giáp đã xuất tiền mua 3 khu đất làm đất công, có phân cương giới rõ ràng. Ông lại có tấm lòng rộng rãi, xuất 4 sào ruộng cúng tiến làm việc tế lễ Văn vhỉ và 3 sào làm ruộng tế điền. Năm Bính Ngọ (1845) bản Giáp trùng tu, Từ Vũ, ông lại cúng 200 quan tiền và 10 cây gỗ tốt, nhằm dựng 2 gian nội điện. Năm Quý Sửu (1852), ông đứng ra quyên góp thêm làm được 2 gian nội điện và 3 gian tế đường. Năm Ất Mão (1854) ông cúng 4 kiện lọng rồng đủ 5 mầu. Khi Văn chỉ đã có Thần từ của hàng tổng. Ông ra sức xây dựng đóng góp công sức rất toàn tâm toàn ý.

Bia đã ghi công đức của ông đứng bên phải Thần từ. Xuân thu tứ quý ông được phối hưởng trong Thần từ vậy.

Bài vị của ông:

Lê quý công tên húy là Phúc, tên tự là Nhân Hiền, tên hiệu là Bảo Long phủ quân.

Bia dựng năm Hàm Nghi nguyên niên (1884)

Giáp Thái Giao trên dưới cùng ký

3. Bùi thị ký kỵ đình vu bi ký

Bài ký trên bia về việc gửi giỗ và hậu đình của dòng họ Bùi.

Bia đình giáp Thái Giao. Bia một mặt, khổ 70x45cm. Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương, gồm 18 dòng, khoảng 450 chữ.

Bia ghi sự việc bà Bùi Thị Túc, bà sớm góa bụa nhưng một lòng kiên trinh thủ tiết, lại giúp vào việc thi thư nên được khen ngợi. Vua Tự Đức năm thứ 34 (1881) đã ban sắc vào Nội Đình về việc đó, đến vua Đồng Khánh nguyên niên (1886) lại có sắc ban thưởng Nội Đình về chí khí bản lĩnh của người có nhan sắc mà biết thủ tiết. Bản Giáp lại nhớ tới các điều quan tâm thăm viếng của phu quân bà, trong thời gian còn “phu xướng phụ tùy”, “đồng tâm kết tóc”. Bây giờ cảnh loan phượng phân ly... Bản Giáp trên dưới toàn tâm thuận để bà Bùi Thị Túc gửi giỗ. Bà lại xuất 600 quan và kiến lập tấm bia ở bản Đình; để đến ngày kỵ ông hoặc ngày kỵ bà được hương khói trăm năm cho tình nghĩa vợ chồng nghìn năm như một.

Bản Giáp nhận giỗ ngày 25 tháng 10 cho Lê quý công húy Lễ, tự Cương Trực, hàng 2 phủ quân.

Ngày 5 tháng 3 cho bà Bùi Thị Túc có bài vị như sau:

“Hoàng triều sắc thụ Nội Đình tùng sự Lê môn nguyên phối Bùi Mạnh nương, húy Túc, thụy Quang Trinh, pháp danh Thanh Nguyên (tên húy cũ là Cẩm)”.

Bia dựng năm Thành Thái nguyên niên (1889) 

Giáp Thái Giao trên dưới cùng ký.

4. Lê thị ký kỵ hậu bi

Bia gửi giỗ vào hậu đình của dòng họ Lê.

Bia bản Giáp, không ghi tên tác giả. Bia một mặt, khổ 80x50cm. Trán bia khắc “lưỡng long triều nguyệt”, diềm bia hoa lá cách điệu. Toàn văn chữ Hán, khắc chân phương, gồm 10 dòng, khoảng 430 chữ (Bia mờ khó đọc vì bị quét sơn lấp rãnh chữ nên dập không lên chữ). Bia ghi việc bà Lê Thị Thái người Bản Giáp đã nhiều năm ở góa, tuổi đã cao, sống cảnh cô quả, sợ rằng việc hương hỏa sau này biết cậy nhờ ai. Với tấm lòng thành kính, bà muốn gửi gắm việc hậu sự vào bản Giáp. Nhân vào tháng 11 năm Thành Thái thứ tư, mọi người trong bản Giáp có cuộc bàn luận để thuê thợ làm thêm một gian nhà gỗ bên trái, phía sau Miếu, nhưng chi phí quá lớn, bản Giáp trích công quỹ mà không đủ. Bà họ Lê tình nguyện xuất 30 quan tiền xung vào công quỹ. Bà xin được dựng bia gửi giỗ vào các ngày lễ thần 4 quý hàng năm đều được bản Giáp biện lễ vật đầy đủ như ghi trong bia được đặt trước bia. Nay toàn dân trên dưới bản Giáp thuận nhận số tiền ấy, chi dùng vào việc công và ghi các ý nguyện của bà vào bia đá như đã ước nguyện. Bài vị của bà như sau:

Lê quý thị, húy Thái, hiệu Diệu Lễ nhụ nhân. Kỵ ngày 24 tháng 11 

Bia dựng năm Thành Thái tứ niên (1892)

Các vị kỳ mục trên dưới cùng ký

5. Lê thị hậu bi 

Bia gửi hậu của họ Lê.

Bia giáp Thái Giao, không đề tên người soạn.

Bia một mặt, trán bia có hoa văn “Lưỡng long triều nguyệt”, diềm bia hoa lá cách điệu, khổ 75x50cm. Toàn văn chữ Hán gồm 13 dòng, khoảng 400 chữ, chữ khắc chân phương.

Nội dung:

Con gái ông Lê Văn Hòa người bản Giáp, nghĩ rằng người cha mình sinh con một bề, không có con trai cho nên muốn được lập hậu vào đình làng. Nhân việc bản Giáp chi phí cho việc tế lễ còn thiếu thốn, tín chủ tự nguyện xuất 160 quan tiền đồng cúng vào Thần từ. Lập tấm bia bên trái đình ghi tên cha mẹ và các ngày kỵ lạp, cộng là 3 ngày giỗ. Bản Giáp đã thuận tình thu nhận khoản tiền trên dùng vào công việc đình thần. Đến ngày kỵ bản Giáp theo như lễ vật đã ghi cụ thể trên bia ở đình mà tiến hành việc lễ.

Ngày kỵ lạp được ghi trên bài vị:

- Lê quý công, húy Hòa, tự Phúc Cầm, hạng nhất phủ quân. Kỵ ngày 2 tháng 5.

- Lê môn chính thất Chí thị, húy lợi, hiệu Diệu o nhụ nhân. Ngày kỵ 2 tháng 6.

- Nguyễn Quý Thị, húy Minh, hiệu Cẩn Tín nhụ nhân. Kỵ ngày 22 tháng 7.

Khải Định năm thứ tư (1919)

Giáp Thái Giao trên dưới cùng ký

6. Hậu thần bi ký

Bia giáp Thái Giao, phố Liên Trì.

Bia không ghi người soạn. Bia được tạo dựng năm Bảo Đại thập lục niên (1941). Bia một mặt, khổ 70x45cm, hoa văn ở trán bia “Lưỡng long triều nguyệt”, diềm bia hoa lá cách điệu. Toàn văn chữ Hán gồm 16 dòng khoảng 400 chữ, chữ khắc chân phương.

Nội dung:

Bà Nguyễn Thị Niệm là chính thất của ông Lê Hữu Hiến. Từ khi hợp duyên đến nay chỉ sinh được con gái, không sinh con trai nên giao ước được với toàn dân trong bản Giáp là ông bà tự xuất tiền 150 quan vào bản Giáp để gửi 3 ngày giỗ. Hậu chủ xin lập bia ở đình ghi các ngày kỵ húy và các lễ vật cụ thể tiến cúng trong những ngày đó, cũng như các ngày tiết lễ xuân thu hàng năm, đều được hương hỏa đầy đủ.

Kỵ nhật được ghi như sau:

- Lê quý thị húy Chiêu, hiệu Diệu Chiếu nhụ nhân. Kỵ ngày 27 tháng 8.

- Lê quý công, húy Hiến, tự Văn trưng phủ quân. Kỵ ngày 11 tháng 6

- Nguyễn quý thị, húy Niệm, hiệu Diệu Tâm nhụ nhân. Kỵ ngày 13 tháng 3. 

- Lê quý thị, húy Tín, hiệu Diệu Trung nhụ nhân. Cộng tiền 150 quan ký kỵ. Ngày kỵ 10 tháng 11.

Bảo Đại thập lục niên (1941)

Giáp Thái Giao trên dưới cùng ký.

7. Hậu thần bi ký

Bia Giáp Thái Giao, không đề người soạn.

Bia một mặt, trán bia có “lưỡng long triều nguyệt”, diềm bia hoa lá cách điệu, khổ 50x 75cm. Toàn văn chữ Hán, gồm 18 dòng, khoảng 450 chữ, chữ khắc chân phương.

Nội dung:

Hương viên Lê Hữu Thanh, cùng vợ là Nguyễn Thị Nhĩ là người bản Giáp. Tuổi đã già tự nguyện xuất 150 quan tiền vào bản Giáp để gửi 3 ngày giỗ và xin được là hậu thần. Hậu chủ lập bia ghi các kỵ nhật và các lễ vật trong các ngày kỵ đó, cũng như các tiết xuân thu hàng năm đều được ghi rõ ràng trong bia dựng ở Giáp, nguyện được nghìn thu hương hỏa lâu dài.

Các kỵ nhật được ghi như sau:

- Lê quý công, húy Thanh, tự Thích Tuấn phủ quân. Ngày kỵ 24 tháng 10.

- Nguyễn quý thị, húy Thuận, hiệu Thuần Thận nhụ nhân. Ngày kỵ 7 tháng 4.

- Nguyễn quý thị, húy Nhĩ, hiệu Diệu Quế nhụ nhân.

- Lê quý thị, húy o , hiệu Diệu Tâm nhụ nhân.

Bia dựng năm Bảo Đại thứ 16 (1941)

Giáp Thái Giao trên dưới cùng ký

B. Giá trị văn hóa - lịch sử và pháp lý của hệ thống văn bia:

- Việc nghiên cứu hệ thống văn bia đã làm rõ lịch sử sự hình thành và phát triển của ngôi đình Thể Giao trong gần 100 năm từ năm 1845 đến năm 1941 (Đình - Văn chỉ hàng tổng).

- Những đóng góp to lớn của các vị tiền nhân đặc biệt là của dòng họ Lê trong việc huy động sức người, của cải, ruộng đất để xây dựng ngôi đình và văn chỉ hàng tổng (tổng Vĩnh Xương, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội, trên đất của Giáp Thái Giao - thôn Liên Thủy (thôn Thái Giao xưa và là làng Thể Giao sau này).

- Những đóng góp to lớn của dòng họ Lê, họ Bùi, họ Nguyễn trong việc chấn hưng văn hóa xây dựng thuần phong mỹ tục, đạo đức gia đình - xã hội - đặc biệt là vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trước sức ép của văn hóa tây phương.

- Mối quan hệ, kỷ cương phép nước giữa bản Giáp - Thôn với dòng họ. Mỗi một tấm bia là một văn bia khế ước bằng đá của chính quyền ở cơ sở trước đây, mà hiện nay chúng ta cũng cần nghiên cứu thêm.

- Hệ thống văn bia đã cung cấp tư liệu khoa học lịch sử cho việc nghiên cứu và sự thay đổi địa giới hành chính cấp Tổng - Thôn - Giáp vào giữa thế kỷ XIX nằm trong địa giới Thăng Long Hà Nội.

Trên đây là một số khảo sát bước đầu của chúng tôi về hệ thống văn bia hiện có Đình - Làng Thái Giao và văn chỉ tổng Vĩnh Xương. Mong rằng tới đây sẽ có hội thảo khoa học để đi sâu hơn nữa về đề tài này, và ngành văn hóa thông tin thành phố Hà Nội sẽ đổi lại tên đình làng là Thái Giao(3) như đã từng tồn tại trong lịch sử.

Chú thích:

(1) Đình làng Thái Giao hiện tọa lạc tại số nhà 3 phố Thể Giao quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

(2) Theo sách Các trấn tổng xã danh bị lãm, Nhà xuất bản khoa học xã hội năm 1981, cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức chỉ có tổng Tiền Nghiêm với 30 thôn, trong đó có các thôn Quang Hoa, Thái Giao, Pháp Hoa, Thiền Quang, Liên Thủy, Vĩnh Xương,...

Như vậy, việc thành lập tổng Vĩnh Xương, thôn Liên Đường với 4 giáp, Thái Giao... Nếu căn cứ các văn bia của Giáp Thái Giao hiện có ở đình làng Thái Giao (phố Thể Giao hiện nay), chúng tôi cho rằng việc thành lập tổng Vĩnh Xương vào khoảng giữa thế kỷ XIX, thôn Liên Đường và biến đổi các thôn Thái Giao, Quang Hoa, Pháp Hoa, Thiền Quang, Liên Thủy thành các giáp... Có thể coi đây là một phát hiện mới. Vì từ xưa đến nay giới sử học chỉ biết đến văn chỉ huyện Thọ Xương chứ chưa biết đến văn chỉ tổng Vĩnh Xương (thuộc huyện Thọ Xương) phủ Hoài Đức.

(3) Phát hiện này để chúng ta có cơ sở đề nghị đổi tên phố Thể Giao thành phố Thái Giao như trước đây do kết quả nghiên cứu về Hà Nội của cụ Nguyễn Văn Uẩn, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã đổi tên phố 325 thành phố có tên là Thể Giao./.

Thông báo Hán Nôm học 2003, tr608-615

PHAN ĐÌNH ỨNG

Viện Nghiên cứuHán Nôm

NGUYỄN QUANG TRUNG

Viện Sử học

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 11
  • 393
  • 2,067,472