SƠ LƯỢC HỌ BÙI Ở LƯU ĐỒN - THUỴ HỒNG - THUỴ ANH – THÁI BÌNH

  04/02/2017

Đình Lưu Đồn - đền thờ ba vị Bùi Công Bình, Dương Mãnh Đại, Nguyên Liêu Công - anh hùng dân tộc trong kháng chiến chống Nguyên - Mông, được xuy tôn là Thành hoàng làng

Theo truyền thuyết dân gian kể lại, cung Trần vương được xây dựng từ cuối cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ lần thứ nhất (1258) tại các làng Lưu Đồn, Vạn Đồn, Tu Trịnh và các vùng phụ cận. Cung Trần Vương dã ngoại được dựng tại động Tam Khê. “Động” là một cồn cát rộng nằm giữa các hồ nước. Ra vào động đều đi bằng thuyền từ ba ngòi nước ở ba phía nên dân gian gọi là động Tam Khê.

Động được bảo vệ bằng hai đường hào, hai chiến luỹ… Phía ngoài luỹ là những đầm, hồ rộng và đồng trũng, những hồ nước này có tên “Long Đầm vương” (Đầm của vua), cửa ra sông Hoá có tên “cửa Rồng vương”. Trước động có “Đầm Thạch Thệ”, dân quen gọi bửng hòn đá. Tương truyền, đây là nơi vua tôi, tướng sĩ nhà Trần đã chém đá cùng thề “Sát Thát” (giết giặc Nguyên). Các cụ già trong làng có người còn nhớ trước Cách mạng tháng 8-1945, động Tam Khê là vùng cấm địa, cây mọc thành rừng, muốn vào phải vượt hào, vượt luỹ. Sau Cách mạng tháng 8-1945 dân phá hoang, san lấp, dựng nhà (nay là xóm Ba Ngòi, “xóm 4 làng Lưu Đồn”). Người xưa truyền rằng, Cung Trần vương được xây dựng trên đảo Phượng Hoàng (nơi ấy nay có tên Vườn Cảnh Phượng), lại có 5 con rùa châu vào. Cạnh động Tam Khê là ba dinh tướng phủ: Tướng Bùi Công Bình, Nguyễn Liêu Công (Công Thành), Dương Mãnh Đại được vua Trần và Hưng Đạo Vương trao nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ cung Trần vương. Chung quanh cung có 5 điếm gác, tấu cáo từ các nơi đưa về phải qua nhiều chặng rồi mới vào cung, mỗi chặng là một án tấu, án tấu cuối cùng ở giữa Cung. Dân gian tổng kết: “Nhất Cung Trần vương, Thập ngũ án tấu”. Các án tấu nay vẫn còn, dân làng vẫn gọi án tấu hoặc cái án (1).

Thần phả làng Lưu Đồn có ghi: Cụ Thượng tổ họ Bùi là Bùi Mộc Đạc “Tiền cư Thanh Hoa hậu xuất vi binh tướng Long thành, tống vệ cần Vương, kiến lập bản doanh Lưu Đồn, đại chiến Nguyên Mông tặc, kiến vi ấy Lưu Đồn”.

Nói về thân thế và sự nghiệp của Thượng tổ và các Thuỷ tổ họ Bùi ở Lưu Đồn - Thuỵ Hồng - Thuỵ Anh – Thái Bình được lưu truyền cho các thế hệ con cháu như sau: cụ Thượng tổ Bùi Mộc Đạc làm quan nhà Lý, chống quân Tống. Tên gọi của cụ là Bùi Công, tự Phúc Quảng, cụ bà là Từ Thiện. Cụ thi đỗ “Tam Nguyên” thời nhà Lý, giữ chức Thái bảo, hiện ở Văn Miếu Quốc Tử Giám có bia của cụ được thờ ở nơi cung kính, cụ mất ở Long Thành sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất, được con cháu đưa về an táng tại Lưu Đồn. Thượng hoàng Trần Thánh Tông ra xác lệnh cấp 1 sào 10 thước đất để chôn cất cụ. Theo truyền thuyết, phần mộ của cụ, phía trước có ngai ấn, phía sau có đai … được xếp vào hàng ngũ quan Tả thị lang đời nhà Trần (hiện toàn bộ diện tích khu đất đó vẫn được địa phương, dân làng, dòng tộc giữ gìn từ đời này sang đời khác, không một ai dám đưa phần mộ của gia đình mình vào trong đó, vì theo truyền thuyết, đó là “khu mộ cấm địa” cụ tổ họ Bùi đã được vua ban).

Phả ký Lưu Đồn còn ghi: cụ Thượng tổ họ Bùi là Bùi Mộc Đạc sinh được 7 người con trai (không thấy ghi gái), đều là quan lại dưới triều đại nhà Trần, có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông ở thế kỷ XIII (1258-1288), đó là:

1. Cụ Thuỷ tổ: Tướng quân Bùi Công Bình, giữ chức Thái bảo, Thái uý, Tịnh cáo thụ Tướng quân;

2. Cụ Thuỷ tổ: Tướng quân Bùi Huy Tố, Phòng vệ điếng trời. Hiện phần mộ an táng ở đường Voi – Ông Tố - Lưu Đồn;

3. Cụ Thuỷ tổ: Đại tướng quân Bùi Hồng Nghị, trấn ải ở đồn Phấn Dũng – Ba Gia - Lỗ Tường. Hiện phần mộ an táng ở gò Cái Chuông - Thuỵ Trình;

4. Cụ Thuỷ tổ: Bùi Bị tướng quân, trấn ải ở Dư Hàng Kênh (thuộc quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng). Hiện không rõ phần mộ chôn cất ở đâu và chi phái con cháu của cụ;

5. Cụ Thuỷ tổ Bùi Kiệm tướng quân, trấn ải ở Nghi Dương (nay là làng Nghi Dương, xã Kiến Quốc, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng). Hiện phần mộ của cụ ở đầu gò Gốc Thi, Bờ hào thuộc thôn Phúc Xá, xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng. Các chi phái con cháu của cụ hiện ở xã Đoàn Xá, xã Hợp Đức, phường Tràng Cát là chủ yếu;

6. Cụ Thuỷ tổ Bùi Công Phủ: giữ chức Quân thần. Hiện phần mộ an táng ở đồng Rọng – Lưu Đồn;

7. Cụ Thuỷ tổ Bùi Huyền Lương, giữ chức Thái bảo, hiện phần mộ an táng ở gò Cái Chuông, Lưu Đồn.

Là con cháu của dòng tộc, khi tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của các cụ Thuỷ tổ, các chi phái họ Bùi từ Thuỵ Anh – Thái Bình đến Kiến Thuỵ - Hải Phòng không còn giữ được một bút tích gia phả nào ? Đây là một điều đáng buồn, trăn trở cho cả một dòng tộc chúng tôi đã có gốc tích trên 700 năm. Theo truyền thuyết các cụ kể lại rằng: trước đây mỗi chi phái đều có gia phả, nhà từ đường riêng. Do lịch sử và thời gian qua các cuộc kháng chiến chống giặc phương Bắc đô hộ, cũng như dưới chế độ đô hộ của Chủ nghĩa thực dân Pháp, các bản gia phả của các chi phái bị thất lạc hoặc bị đốt cháy. Song do tầm nhận thức còn hạn chế, nên việc khôi phục lại các gia phả của các chi phái bị lãng quên, thậm chí ngày cúng Tổ cũng không tập trung cúng được.

Theo tôi được biết mãi đến năm 1976 chi phái Bùi Đức chúng tôi ở Đàn Xá, Kiến Thuỵ, Hải Phòng mới cử người vào Thuỵ Anh, Thái Bình để tìm họ (theo truyền thuyết cụ Tổ từ Thái Bình ra Hải Phòng). Việc tìm họ rất khó khăn, vì trong đó cũng không giữ được gia phả. Mãi đến năm 1995, Bộ Văn Hoá (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao, Du lịch) cấp kinh phí cho xây dựng lại đình làng Lưu Đồn để thờ 3 vị tướng quân của 3 dòng họ: Nguyễn – Bùi – Dương ở lại đất Lưu Đồn sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, đã có công lớn giúp nhà Trần đánh giặc ở thế kỷ XIII.

Nhân ngày khánh thành Đình láng, làng Lưu Đồn đã mở hội tế lễ 3 vị tướng quân họ Nguyễn, họ Bùi, họ Dương, đồng thời cũng là 3 vị Thần hoàng của làng Lưu Đồn. Bộ Văn Hoá đã trao tặng bằng Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Lúc đó các chi phái con cháu của các Thuỷ tổ ở Thái Thuỵ - Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội, Hà Tây, Tp Hồ Chí Minh … mới tìm được về cội nguồn. Hàng năm cứ đến ngày 10/6 (âm lịch) các chi phái gần Lưu Đồn lại tập trung về từ đường giỗ tổ.

Phả ký Lưu Đồn ghi khá chi tiết: Sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ nhất (1258), trước thế mạnh của giặc Nguyên Mông, nhà Trần xác định không thể nào giữ được Long Thành, đã cho mờ hội nghị lấy ý kiến của các quân thần. Thái Bảo, Thái uỷ Bùi Công Bình đã đưa ra kế sách “Thuỷ dực di mưu, khởi thuỷ phương, Triệu thuỷ phương” , có nghĩa là: Dựa vào sông nước, lấy sông nước để bày trận địa đánh giặc, dùng sông nước để chống lại quân Nguyên Mông, đánh giặc ở đâu cũng phải có sông nước, tập trung quân cũng phải có sông nước, đó là kế sách công thủ chủ động, chống lại quân Nguyên Mông giỏi kỵ binh, từ xa đến muốn đánh nhanh thắng nhanh; được Thượng hoàng Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông cùng Hưng Đạo Vương chuẩn tấu, triều đình gấp rút chuẩn bị rời đô về miền sông nước, giao cho tướng quân Bùi Công Bình khảo sát địa điểm.

Phả ký Lưu Đồn còn ghi: “Thượng hoàng Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông từ Long thành đi theo đường thuỷ về hướng hạ sông Thiên Trường (sông Hồng) … đi theo đường sông Hải Thi (sông Luộc) rồi vào sông Hoá xuôi dòng về cứ địa Lưu Đồn để đóng quân đồn trú và lập đô dã chiến ở đây. Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ II (1258) khi đó Trần Thủ Độ, Thái thượng hoàng Trần Thái Tông qua đời, Trần Quốc Tuấn giữ chức Tiết chế, thống lĩnh chư quân.

Sau thời gian chỉnh đồn lực lượng từ đại bản doanh Lưu Đồn và lực lượng ở các nơi, dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Vương phản công giặc ở A Lỗ, Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết …, chém đầu Toa Đô, Thoát Hoan chui vào ống đồng chạy về nước.

Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3 (1287-1288) Trần Hưng Đạo từ Nghệ An, Thanh Hoá ra đại bản doanh hội kiến với vua Trần (Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông) về trận quyết chiến với giặc Nguyên Mông. Triều đình làm lễ tam sinh và đón tiếp Trần Hưng Đạo ở đình bến Nội. Trần Hưng Đạo có hỏi Tướng quân, Thái bảo, Thái uý Bùi Công Bình (Bùi Thái Bảo) kế sách về trận quyết chiến này, Bùi Thái Bảo:

“Nam chu thắng Bắc mã, Nam nhân thắng Bắc nhân, tất như Ngô Vương đại phá Nam Hán tặc Bạch Đằng giang trận. Nên chọn Bạch Đằng giang làm trận quyết chiến”.

Hưng Đạo vương nói: Quân Nguyên Mông đang ở Long thành làm sao mà nhử được.

Bùi Thái Bảo nêu: Triệt lương vô kế…, nghi binh nhử địch …

Hưng Đạo vương nghe trùng hợp với ý định, một mặt ông gấp rút cho chuẩn bị lực lượng tạo trận địa cọc trên sông Bạch Đằng, lực lượng mai phục dồn đánh địch… buộc địch phải xa vào trận địa bày sẵn của ta. Phái Trần Khánh Dư chặn đánh đoàn vận chuyển lương thảo ở Vân Đồn, diệt trên 500 thuyền lương khiến đại quân Nguyên Mông cạn kiệt dần lươn thảo, hoang mang hoảng sợ.

Để chuẩn bị cho trận đại thắng trên sông Bạch Đằng, Hưng Đạo vương chỉ đạo mở đầu bằng cuộc phản công của quân dân ta là chiến thắng Đại Bàng trước cửa cung Trần vương, bắt được 300 chiến thuyền giặc. Mặt khác đã đưa Trần Trung trà hàng và đánh thẳng vào Vạn Kiếp, đưa các lực lượng nhỏ chiếm giữ các đỉnh núi cao, đốt lửa nghi binh làm quân mai phục… khiến cho đại quân Nguyên Mông chỉ còn một con đường tháo chạy ra sông Bạch Đằng, rơi vào thế trận đã được Hưng Đạo vương bày sẵn

Sau chiến thắng Bạch Đằng có bút tích của Trần Hưng Đạo:

Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí

Lưu Đồn cứ địa thủ cơ đồ

Chiến tranh kết thúc, triều chính nhà Trần từ Lưu Đồn, Thái Thuỵ, Thái Bình trở về Long thành, các Thuỷ tổ họ Bùi, họ Nguyễn, họ Dương xin nhà vua được ở lại các vùng đất đóng quân cùng nhân dân trong vùng khoanh vùng lập ấp, chăn nuôi, trồng trọt, thực hiện kế sách của triều Trần: Ngụ binh ư nông.

Thuỷ tổ Bùi Công Bình (tức Bùi Thái Bảo) thọ 93 tuổi, thi đỗ Tam Nguyên, giữ chức Thái bảo, Thái uý, Tịnh cáo thụ tướng quân. Sau đại thắng quân Nguyên Mông lần thứ 3 được ban thưởng Huân công phi long, Bách hộ khanh quốc công. Khi tạ thế được vua Trần Anh Tông về làm lễ khâm táng, gia phong cho Thuỷ tổ: Hùng cảnh đại vương Thượng đẳng thần và ban cho 2 câu đối thờ tại nhà từ đường họ Bùi:

-         Phái diễm phi y lịch thế thừa truyền thi thơ gia bảo

-         Cơ thành thổ địa ức niên hoa kế phiệt duyệt

Dịch có nghĩa là: Họ Bùi là dòng họ đẹp, dòng họ nhiều đời có thơ văn, kế sách để lại, một dòng họ có tiếng tăm từng trải lịch lãm.

Bút tích Bùi Thái bảo để lại tại từ đường họ Bùi là bức đại tự: THẾ - HỮU – HƯNG, tức là: ĐỜI ĐỜI – HƯNG THỊNH – PHÁT TRIỂN”.

Theo truyền thuyết, khi qua đời, dân làng Lưu Đồn lập đền thờ Thuỷ tổ tại dinh tướng phủ họ Bùi, ngoài cửa đền có 2 câu đối:

-         Bùi tướng môn thiên cổ lưu truyền;

-         Công tông miếu ức niên hưởng tụ

Dịch có nghĩa là: Đây là cửa tướng họ Bùi, người có công với nước được lập tiên miếu thờ cúng.

Theo truyền thuyết ngày xưa truyền lại rằng khi cụ qua đời được táng tại gia (phủ tướng Bùi Công Bình) và quen gọi là cụ Pháp tính. Phần mộ của cụ Thuỷ tổ không rõ chôn cất ở khu vực nào trong dinh tướng phủ (hiện giờ nhân dân trong làng đã làm nhà cửa để ở). Tháng 7/2007 họ tộc được sự giúp đỡ của nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Nguyện – Hà Nội đã tìm thấy phần mộ của cụ ngay cạnh đầu nhà của 1 người dân trong làng, con cháu chi phái của cụ đã xây dựng lăng mộ cho cụ, cắt băng khánh thành vào ngày 1 tháng 11 âm lịch năm 2007. Các chi phái con cháu của các Thuỷ tổ khác do không còn giữ được gia phả, cũng như thần phả của làng không còn lưu được, nên khi tìm hiểu về cội nguồn thì chỉ biết được cụ tổ theo truyền miệng, còn các cụ dưới cụ tổ khoảng trên dưới 15 đời thì không biết được. Khoảng 15 năm trở lại đây con cháu của các Thuỷ tổ mới khôi phục được gia phả, song cũng chỉ thống kê được từ 10-12 đời lại đây. Qua 8 cuốn tạp chí thông tin về HỌ BÙI VIỆT NAM chúng tôi rất mong được sự giúp đỡ của Ban Liên lạc họ Bùi Việt Nam nghiên cứu, cung cấp thêm thông tin về các Thuỷ tổ đều là tướng quân dưới triều đại nhà Trần, định cư ở các vùng đóng quân mà chúng tôi đã cung cấp tư liệu. Đồng thời chúng tôi cũng rất mong các thành viên là con cháu thuộc dòng họ Bùi xuất xứ từ Thanh Hoá, anh em con cháu của cụ Thượng tổ Bùi Mộc Đạc làm quan dưới triều đại Lý - Trần, cung cấp thông tin để một ngày nào đó chúng tôi tổ chức hành hương về viếng tổ. 

Đồng thời dòng tộc chúng tôi cũng mong muốn các con cháu của các Thuỷ tổ sống ở mọi miền đất nước, nếu nắm được thông tin này hãy bớt chút thời gian trở về các địa phương có mộ tổ để thắp 1 nén hương tưởng nhớ đến người đã sinh thành ra các chi tộc, phái của mình.

Thay mặt dòng tộc, là con cháu của cụ Bùi Kiệm ở xã Đoàn Xá, Kiến Thuỵ, Hải Phòng chúc các vị trong Ban Liên lạc họ Bùi Việt Nam mạnh khoẻ, hạnh phúc, giúp đỡ các dòng họ tìm được cội nguồn như mục tiêu của Đại hội họ Bùi toàn quốc đã đề ra. Chúc dòng họ Bùi Việt nam ĐỜI ĐỜI - BỀN VỮNG – PHÁT TRIỂN.

Bùi Đức Quyết

Điạ chỉ: Thôn Đắc Lộc, xã Đoàn Xá, huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng

Điện thoai: 031 356 0558

Theo lịch sử Quân sự TCL SQS 2003 “cứ địa Lưu Đồn trong kháng chiến Mông Nguyên thế kỷ XIII” của Phạm Minh Đức

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 11
  • 2026
  • 1,843,186