THIÊN SÁCH THƯỢNG TƯỚNG TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

  05/02/2017

 Ba ngôi cấm địa - Lăng mộ Thiên sách Thượng tướng quân Bùi Quang Dũng và song thân

Bùi Quang Dũng sinh giờ Thìn ngày 10 tháng giêng năm Nhâm Ngọ (tức năm 922) trong một gia đình nông dân nghèo ở đất Phong Châu, Bạch Hạc (tỉnh Vĩnh Phú hiện nay).

Thân phụ và thân mẫu của ông nổi tiếng là nhân đức, thuần cẩn và hiền lành. Lúc còn nhỏ, ông có tư chất thông minh khác người và rất hiếu thảo với cha mẹ, lễ phép với bề trên, thuận hoà với bè bạn nên được mọi người qúy mến.

Ông học rộng, hiểu nhiều, lớn lên trí dũng toàn tài. Năm 944, sau khi Ngô Quyền mất, đất nước ta lâm vào cảnh loạn 12 sứ quân, các thế lực phong kiến nổi dậy, mỗi người hùng cứ một vùng.

Trước cảnh đất nước loạn lạc, nồi da nấu thịt, ông rất đau lòng. Năm Bình Dần (966) Bùi Quang Dũng đã ngoài 40 tuối, biết ông là người đức độ, tinh thông cả binh, nông, văn, võ, nhiều sứ quân như Ngô Xương Xí, Đỗ Cảnh Thạc, Kiều Công Hãn đã cử người đến cầu hiền, thuyết phục ông và mời ông ra hợp tác với họ, nhưng ông đều một mực từ chối vì ông cho rằng họ không phải là bậc minh chủ.

Năm Đinh Mão (967) có một sứ quân với lực lượng quân sự hùng mạnh, do Đinh Bộ Lĩnh chỉ huy. Đinh Bộ Lĩnh là người cương trực, mưu lược và chí lớn. Ông được sứ quân Trần Lãm giao cho nắm giữ binh quyền và được nhiều thổ hào cùng nhân dân trong vùng ủng hộ, đi theo.

Bùi Quang Dũng đã tìm đến và ra mắt Đinh Bộ Lĩnh. Vốn đã nghe về đức tài của Bùi Quang Dũng, Đinh Bộ Lĩnh cả mừng và lập tức trọng dụng. Dưới trướng Đinh Bộ Lĩnh, Bùi Quang Dũng đem hết tài năng để phò tá nhà Đinh, đã cùng các tướng khác như Lê Hoàn, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, … dốc lòng, lập nên nhiều chiến công lớn. gom về một mối, thống nhất đất nước, lập nên triều đại nhà Đinh. Năm Mậu Thìn (968 ) Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng Đế, hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay).

Các tướng sỹ có công đều được Đinh Tiên Hoàng phong thưởng. Bùi Quang Dũng được phong chức “Anh dực tướng quân, sung Điện tiền đô chỉ huy sứ kiêm thiền sự”.

Năm Tân Mùi (971) niên hiệu Thái Bình thứ 2, ở sứ Kỳ Bố Hải khẩu xảy ra biến loạn, một hạ tướng cũ của Trần Lãm khởi binh chống lại triều Đinh, Đinh Tiên Hoàng cử tướng quân Bùi Quang Dũng đi đánh dẹp. Bằng đức độ, uy tín và tài trí của mình, Bùi Quang Dũng đã chinh phục được viên tướng đó đem quân quy hàng.

Đinh Tiên Hoàng liền phong cho Bùi Quang Dũng làm Trấn đông tiết độ sứ, đóng trị sở tại thành Kỳ Bố, kiêm chỉ huy 3 đạo quân thuộc vùng Đông Đạo (lúc này nhà Đinh có tất cả 10 đạo quân) và thăng cho hàm là Đặc tấn khai quốc thiên sách thượng tướng, tước Tĩnh an hầu. Lại phong tặng cho thân phụ Bùi Quang Dũng là Khải tá hầu, thân mẫu là Khải tá hầu phu nhân.

Tướng quân Bùi Quang Dũng là nhà chiến lược có tài nhìn xa trông rộng. Đất nước vừa trải qua loạn lạc, chiến tranh tàn phá. Nay giang sơn đã yên bình, ông chủ trương: muốn cho xã tắc vững bền thì đi đôi với củng cố xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh. phải lập tức khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế, giúp dân và quân sỹ an cư lạc nghiệp, ổn định hậu phương quân đội, thực hiện kế sách bền gốc, sâu rễ. Thấy vùng đất phía tây bắc thành Kỳ Bố màu mỡ nhưng hoang phế, cỏ dại mục um tùm, dân cư thưa thớt, ông làm sớ tâu về triều, xin Vua cho được đem quân sỹ dưới quyền đến khai khẩn lập ấp.

Ông chọn chỗ đất cao, hình như thể trán con rồng, đằng trước đào cái giếng như hai mắt con rồng (gọi là long nhãn) để làm một toà nhà trông thẳng ra khúc sông Bạch Lãng, nơi ông đánh rơi viên ngọc Minh châu lúc đi tuần đêm khi trước, đưa toàn bộ gia quyến từ thành Kỳ Bố về đây sinh sống, đặt tên là ấp Hàm Châu và cho nhập trại Linh Sa vào thành một làng gọi là làng Hàm Châu.

Vua Đinh Tiên Hoàng lấy số ruộng mới được khai khẩn ấy ban cho ông làm đất ăn lộc gọi là Thái ấp Hàm Châu (tức ấp vua ban).

Bùi Quang Dũng đưa 7 gia đình của những người thân tín dưới quyền về ở cả trong ấp với gia đình mình, cộng tất cả là 8 gia đình, gồm:

-         Gia đình Ngô Văn Gia:                12 người

-         Gia đình Đỗ Văn Mục:                8 người

-         Gia đình Đặng Văn Phú:  10 người

-         Cùng gia đình các ông Tạ Ban, Tạ Chi, Hà Trung, Trương Đán, Đào Văn Thịnh có tất cả hơn 30 người nữa.

Từ đó Bùi Quang Dũng và gia đình ở lại hẳn với đất Hàm Châu và xứ Kỳ Bố, xây  dựng lễ nghi phong tục, xây một ngôi chùa ở gò có hình như con cá gọi là Ngư Sa, đặt tên chùa là Trang Nghiêm tự (nay là Sùng Nghiêm tự).

Xây một toà thần miếu ở gò có hình con voi gọi là Tượng Sa, rước chân nhang và duệ hiệu của 2 vị phúc thần Lý Thiên Bảo, Lý Thiên Long về làm thành hoàng của bản ấp để cho dân làng thờ phụng. Và từ đó 8 gia đình đầu tiên của Bùi Quang Dũng về đây lập ấp đã trở thành thuỷ tổ của 8 dòng họ đầu tiên thuộc ấp Hàm Châu.

Được vua ban cho cả một vùng rộng lớn làm đất ăn lộc, Bùi Quang Dũng đã để đất công điền cho dân làng làm công lợi lâu dài, gọi là cánh đồng Quan.

Ông lại giao cho mỗi người thân tín quản canh một cánh đồng để thu lợi, sinh sống như:

-         Ngô Văn Gia được giao quản canh xứ Tây Sa, tục gọi là đồng Gia;

-         Đặng Văn Phú quản canh xứ Trung Phương, tục gọi là Đồng Phú;

-         Hai anh em nhà Tạ Ban, Tạ Chi được giao quản canh xứ Đông Biên, tục gọi là đồng Ban Chi (nay là Văn Chi);

-         Xứ Mễ Tạo, tục gọi là đồng Bữa Gạo là ruộng tư của gia đình Bùi Quang Dũng giao cho dân làng canh tác, mỗi mẫu mỗi vụ nộp 3 hộc gạo để dùng hàng ngày, người làng nhân đó gọi là đồng Bữa Gạo;

Và một số xứ đồng khác cũng có xuất xứ tương tự như vậy cả.

Bùi Quang Dũng tiếp tục cùng quân sỹ khai khẩn các vùng đất hoang vu, đầy sú vẹt, rắn rết thuộc miền Đông đạo thành các cánh đồng tốt tươi, mầu mỡ, chiêu dân và đưa gia đình binh sỹ đến ở, cộng tất cả là 5 làng. Cảm phục ơn trạch của ông, dân 5 làng ấy đều xin được gọi là Bùi xá cả. Đương thời, nhân dân trong vùng thường có câu ca:

“Mừng nay trong cõi hải tần

Giặc ma đã dẹp, cá thần cũng xuôi

Vì ai dân được yên vui

Ấy quan Thượng tướng họ Bùi phải chăng”

Công cuộc xây dựng đất nước của nhà Đinh đang tiến hành thuận lợi thì năm Kỷ Mão (979) vua Đinh Tiên Hoàng bị sát hại, nội bộ triều đình xảy ra mâu thuẫn lục đục. Thái hậu Dương Vân Nga phải trao quyền bính cho Lê Hoàn. Lê Hoàn lên ngôi vua thay nhà Đinh. Bùi Quang Dũng đưa toàn bộ gia quyến và trướng hạ thân tín rời ấp Hàm Châu vào sinh sống tại động Trinh Thạch để giữ trọn lòng trung thành của một khai quốc công thần với triều nhà Đinh.

Sau gần 30 năm cầm quyền, đến năm Kỷ Dậu (1009) triều Tiền Lê bị sụp đổ. Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Lý.

Biết tiếng tăm Bùi Quang Dũng từ lâu, Lý Thái Tổ sai người 3 lần đem thư vào động Trinh Thạch triệu ông về triều, nhưng ông đều từ chối, nói rằng tuổi đã già rồi.

Năm Canh Tuất (1010) niên hiệu Thuận Thiên thứ 2, tại xứ Kỳ Bố lại có giặc nổi dậy chống triều đình. Vua Lý Thái Tổ đã 3 lần sai tướng về đánh nhưng vẫn chưa dẹp được. Sau đó lại cử đại tướng Nguyễn Uy dẫn quân về dẹp. Nguyễn Uy không đánh được mà khi lâm trận lại còn nghe quân giặc nói rằng: “Uy mặc Uy, chẳng sợ chi, có ông Dũng đến vậy thì mới kinh”.

Nguyễn Uy dẫn quân về triều, tâu lại sự việc ấy với vua. Lý Thái Tổ liền cử Nguyễn Uy trực tiếp đem chiếu thư của vua vào động Trinh Thạch, kể lại sự tình như thế và khuyên Bùi Quang Dũng trở về triều. Lúc ấy, ông mới phụng thư trở về Thăng Long. Vua Lý Thái Tổ rất mừng, lấy lễ tân sư đãi ông, tôn hiệu là “Minh Triết phu tử”.

Nhân đó, ông tiến cử con trai là Bùi Quang Anh với vua Lý. Lý Thái Tổ khôi phục nguyên chức tước của ông khi trước, lại phong cho Bùi Quang Anh làm Anh dực tướng quân, lĩnh chức Trấn đông tiết độ sứ, lệnh cho Bùi Quang Anh đem quân về dẹp giặc ở Kỳ Bố, và cử quan triều dẫn Bùi Quang Dũng về ấp Hàm Châu cũ. Ông xin vua cho được đi cùng con trai là Bùi Quang Anh về xứ Kỳ Bố. Hai cha con ông đem lời nhân đức phủ dụ, khuyên giặc đầu hàng. Quân giặc cảm phục ơn đức của Bùi Tướng quân đối với xứ Kỳ Bố khi trước, đã làm lễ quy hàng.

Ông cùng con trai vỗ về dân chúng, mở mang cảnh thổ và đã giúp cho nhà Lý giữ yên một vùng lãnh thổ rộng lớn, trù phú trong một thời gian dài.

Bùi Quang Dũng trở về đất cũ Hàm Châu, được dân bản ấp nghênh tiếp mừng rỡ, vui vẻ. Vua Lý Thái Tổ vẫn cử người về thăm hỏi, tặng quà luôn.

Do tuổi cao, Bùi Quang Dũng đã từ trần tại nhà riêng vào giờ Dần, ngày 13 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1018) năm Thuận Thiên thứ 9 nhà Lý, hưởng thọ 97 tuổi.

Được tin ông qua đời, Lý Thái Tổ rất xúc động, sai người đem quan tài đồng tụ, quách gỗ Ngọc Am, gấm vóc bạc vàng về khâm liệm cho ông và phong cho ông là Trinh quốc công, lệnh cho lấy nghi lễ tước công để làm lễ an táng ông tại bản ấp. Đồng thời phong tặng cho thân phụ, thân mẫu của ông là Khải tá công và Khải tá công phu nhân.

Tháng 8 năm 1018, vua Lý Thái Tổ ngự chế bài văn bia sự trạng của Bùi Quang Dũng, cho khắc vào bia đá đưa về từ đường họ Bùi tại ấp Hàm Châu.

Năm Canh Thân (1020) nhân chuyến tuần du vùng duyên hải, qua xứ Kỳ Bố, vua Lý Thái Tổ ghé thăm đất Hàm Châu, thăm mộ phần Bùi Quang Dũng, mộ thân phụ, thân mẫu của ông và thăm từ đường họ Bùi, Lý Thái Tổ tự tay ngự đề đôi câu đối cho họ Bùi thờ, rằng:

“Bất sự nhị quân, trung liệt cao phong, Trinh Thạch động tam thập niên quán cổ;

Lực phù nhất thống, vân lôi chính khí, Hàm Châu ấp thiên vạn tải như sinh”.

Dịch nghĩa là:

“Không thờ hai vua, tiếng trung liệt cao vời vợi, động Trinh Thạch 30 năm lừng tiếng;

Hết sức giúp nền thống nhất, chí khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu nghìn vạn năm vẫn còn”.

Trong văn bia vua Lý ngự đề, có câu ca ngợi phẩm hạnh của Bùi Quang Dũng như sau:

“Than ôi! Mỗ thực hiền thần;

Hiếu, trung, tiết, nghĩa mười phân vẹn mười …”

Cũng trong năm ấy, sau khi xa giá về Thăng Long, Lý Thái Tổ lại có chiếu chỉ gia ban cho họ Bùi 3 ngôi cấm địa và 3 bức bia đá mộ chí, cử quan triều đưa về tận nơi, lệnh cho chức sắc, dân chúng địa phương tuân thủ, bảo vệ, cấm xâm táng.

Bùi Quang Dũng là người đức hạnh, có nhiều công lao trong việc giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, và là người có công chỉ huy quân sỹ khai khẩn đất hoang thành ruộng vườn tươi tốt, lập ấp, dựng làng, mở mang cảnh thổ, đồng thời cũng là trung quân ái quốc, góp phần tô thắm trang sử truyền thống của vùng Kỳ Bố - Hải Khẩu (tức Thái Bình ngày nay).

Bởi vậy, kế tiếp triều Đinh, Lý là triều Trần, Lê, Nguyễn, các đời vua đều có sắc phong, chiếu chỉ ca ngợi, công nhận công lao to lớn của Bùi Quang Dũng và đều gia ban cho họ Bùi 3 ngôi cấm địa tại đất Hàm Châu.

Bùi Quang Dũng còn được nhân dân nhiều địa phương tôn làm thành hoàng làng và lập đền thờ phụng như làng Bùi Xá (xã Minh Lãng), làng Đồng Đức (xã Phúc Thành) v.v …

Từ khi Bùi Quang Dũng về xứ Kỳ Bố Hải Khẩu lập ấp, dựng làng đền nay, lớp lớp con cháu Bùi tướng quân cùng với các dòng họ khác của đất Hàm Châu đã kế thừa và phát huy truyền thống các bậc tiền bối, trên mảnh đất này đã sản sinh ra nhiều người con ưu tú, nổi tiếng trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, tiêu biểu như các ông: Tiến sỹ Khiếu Hữu Sử, Tiến sỹ Bùi Duy Phiên, đại tướng quân Bùi Công Nghiệp, thượng tướng Bùi Ngọc Trọng, cử nhân Nguyễn Huy Ôn, cử nhân Khiếu Hữu Đại, quan ngự sử Vũ Thanh Viện, Bố chính Vũ Văn Lập, Bố chính Bùi Duy Kỳ, Hồng lô chánh sứ Bùi Đức Mại, Tú tài tam khoa Chử Văn Trạch và nhiều người khác.

Để giáo dục thế hệ trẻ tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của tổ tiên, ngày nay, Bộ Văn Hoá - Thể Thao – Du Lịch  (Bộ VHTT cũ) đã có quyết định số 43 ngày 12/7/1999 công nhận Từ đường thờ Tướng quân Bùi Quang Dũng là Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.

Đây không chỉ là niềm vinh dự tự hào của con cháu dòng họ Bùi nói riêng mà còn là niềm tự hào cho quê hương Tân Bình, cho xứ Kỳ Bố và tỉnh Thái Bình nói chung.

Với đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây”, Đảng bộ và nhân dân xã Tân Bình luôn xác định trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn, bảo vệ và tôn tạo di tích lịch sử để đền đáp công lao to lớn của Tướng quân Bùi Quang Dũng đối với mảnh đất này.

BLL họ Bùi tỉnh Thái Bình

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 9
  • 866
  • 1,601,757