THƯỢNG THƯ BỘ BINH BÙI TUẤN

  05/02/2017

Đình Lương Xá - làng Liêm Bạt, Ứng Hòa, Hà Nội 

Đó là cụ Khắc Trai – Bùi Tuấn, Thượng thư bộ binh, hàm Thái tử Thiếu bảo triều Tự Đức. Cụ huý là Tuấn (Bùi Tuấn), tự là Trạch Phủ, hiệu là Khắc Trai, sinh năm 1808 (Mậu Thân) niên hiệu Gia Long thứ 7, con trai cụ Đoan Khiết Bùi Bỉnh Nhuận và cụ bà Bùi Từ Tường. Hai cụ thân sinh ra Khắc Trai – Bùi Tuấn đều là dân thường sinh sống đạm bạc, cần kiệm lo cho con ăn học. Bằng sự nỗ lực bản thân, Khắc Trai – Bùi Tuấn đã thành đạt trong khoa trường

Sau 4 lần đỗ Tú tài (1825, 1828, 1831, 1837), năm 1840 cụ Bùi Tuấn đỗ Giải nguyên (đầu bảng Cử nhân). Liền năm sau (1841) cụ thi đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ. Địa phương xuất hiện câu đồng giao: “Làng Bặt có cụ Khắc Trai, giải nguyên, tiến sĩ từ ngài khai khoa (người đỗ đầu tiên trong phủ Ứng Thiên thời đó, nay là Ứng Hoà)”.

Sau khi đỗ tiến sĩ năm 1841 cụ được bổ làm Biên tu Hàn lâm viện. Từ năm 1842 – 1853 cụ lần lượt qua các cương vị: Phúc khảo trường thi Hương ở Nghệ An (1842), Tri phủ Thọ Xuân (1844), Tập hiến viên thị độc (1849), Thị giảng học sĩ, chư khảo trường thi Hương Nghệ An (1850)…

Năm 1854 giữ chức Thị độc học sĩ, Lục bộ Lang Trung. Với trình độ học vấn cao, cụ có nhiều đóng góp trong việc soạn sử ở Quốc sử quán triều Nguyễn với 2 bộ “Vân Hải” và “Vịnh sử phú”, hiện nay còn lưu giữ ở Viên Hán Nôm. Năm 1847 giữ chức Án sát tỉnh Sơn Tây, cụ đã chỉ đạo việc đắp đê chống lụt thắng lợi dưới chân núi Tản. Năm 1858 giám khảo trường thi Nghệ An, Nam Định. Năm 1865 được ban kim khánh khắc 4 chữ “Liêm, Bình, Cần, Cán”. Năm 1866 được thăng Binh bộ tả tham tri, bên cạnh Nguyễn Tri Phương là Thượng thư bộ binh

Năm 1868 giữ chức Quyền Tổng đốc Ninh Thái gồm Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, quản lý một vùng rộng lớn sát biên giới Việt Trung. Thời kỳ này ở Bắc Kỳ có nhiều giặc cướp bóc, lại bị phỉ Tàu vượt biên sang cướp phá, lấn chiếm đất đai, giết hại dân nghèo.

Triều đình Huế cử Bùi Tuấn đảm nhiệm trọng trách “Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ” để giữ yên bờ cõi một thời gian dài.

Chính vào thời kỳ này, những tư tưởng quân sự của cụ đã có cơ hội phát huy. Tháng 7 năm 1869, đầu mục giặc Tàu là Ngô Côn tiến vào vây hãm thành Bắc Ninh. Bùi Tuấn chủ trì phòng thủ, trong thành chỉ còn vài trăm quân canh giữ. Bùi Tuấn phái cả con trai trưởng là Bùi Kiệm và con trai thứ là Bùi Tập đi kiểm tra và phân phối lương thực, động viên binh sỹ ở các doanh trại. Trước tình hình nguy ngập, cụ kêu gọi dân phố vào trong thành trực ẩn, cho soát xét tại lao ngục và canh giữ cẩn mật bọn trọng tội, giữ gìn kho súng đạn, lấy tráng đinh tăng cường binh lực. Mặt khác, cụ sai thám báo liên lạc với Tân lý Ông Ích Khiêm ở Kim Anh đem quân về hội kiến. Cụ còn cho chất thuốc nổ ở hành dinh, hễ thành Bắc Ninh thất thủ thì cụ sẽ tự vẫn để không rơi vào tay giặc.

Ngày 13/7 năm ấy, thám báo về báo nơi ở của giặc Ngô Côn là nhà thủ hộ ở ngoại thành, quân giặc ra vào tới tấp. Cụ đưa súng thần công lên mặt thành, chỉ huy pháo kích tiêu diệt mục tiêu. Ngô Côn chết ngay tại trận. Sách Đại Nam thực lục đã xác nhận chiến công này: “Bọn các ông Nguyễn Văn Phong và Bùi Tuấn dựa vào thành cố giữ. Trong thành cùng bắn ra. Ngô Côn trúng đạn. Bọn giặc rút về Đại Bàng. Ta thừa thắng đuổi giặc ở Đại Bàng, tiến quân thông với quân thứ Thái Nguyễn”(tập 31 trang 367 Đại Nam thực lục).

Sau hơn một năm, giặc phỉ Ngô Côn còn bị diệt, bè đảng giặc Tàu là Tô Tú lại tràn sang đành úp cướp thành Lạng Sơn. Cụ lại đề xuất với triều đình Huế tập trung binh lực để càn quét giặc giải phóng lãnh thổ, giải phóng cho dân. Đánh  lui giặc, bắt và xử tại trận hai tướng Tàu là Phó đề đốc  Đồ Chuyên và Nguyễn Nhiếp để uy hiếp bọn tàn quân. Danh tiếng của cụ càng thêm to lớn.

Một số giáo dân xấu ở Nam Định bị các “thầy tu người Pháp” và tay sai mua chuộc đã viết bậy lên tường miệt thị các nhà Nho và Nho giáo. Tú tài Lê Đường đã phẫn nộ tập hợp một số no sĩ và nho sinh đi đốt phá một số nhà dân theo đạo Gia tô ở 2 làng Trình Xuyên và Ngọc Thành. Quân địa phương là Tổng đốc Đào Trí lúng túng không biết xử trí ra sao. Vua Tự Đức chỉ dụ cho Bùi Tuấn làm Khâm sai đại thần đến Nam Định giải quyết vụ việc.

Ông lập toà án ở dinh Tổng đốc để xét hỏi. Lúc đầu Lê Đường vặn lại Tổng đốc Đào Trí: “Quan lớn không nghe ngày xưa ông Phạm Trạng Yên lúc đỗ Tú tài đã lấy việc thiên hạ làm việc mình sao?”. Khâm sai Bùi Tuấn giả làm mặt giận thét: “Ông Phạm Trạng Yên cũng đốt nhà người ta làm hại dân để mang tiếng cho đồng bối như nhà ngươi à …”. Lúc đó Lê Đường mới chịu nhận tội. Tuy nhiên khi xử phạt, cụ lại chỉ tập trung vào một số người chủ xướng của cả hai bên như Lê Đường và Đục trưởng. Còn các nho sinh đều được miễn. Việc làm đó, đồng bào lương giáo tỉnh Nam Định hết lòng ca ngợi. Chỉ trong hai tháng trời vụ án đã được giải quyết thoả đáng, trăm họ an dân, vua Tự Đức rất hài lòng và đã khen thưởng cụ. Một điều thú vị là khi vụ án kết thúc, đến kỳ trình văn của tỉnh ở dinh đốc học Nam Định, quan Khâm sai Bùi Tuấn cùng các quan trong tỉnh tới dự. Các nho sinh nói nhỏ với nhau: “Quan Khâm sai đi làm quan lâu ngày, kinh sách chắc sẽ quên nhiều, văn bài hơn kém chưa chắc Ngài có để ý”. Tới lúc bình các đầu bài chế nghệ, cụ tham giảng nghĩa cách, lại dẫn “Đại toàn thế chủ”, và sai lấy sách ra đối chiếu không sai chỗ nào. Có quyển văn dùng điển tích hiểm hóc, các quan ngồi đấy không nhớ hết, cụ lại nhắn ở sách nào, khen, chê đều xác đáng. Sau khi về dinh, các quan và nho sinh trong tỉnh đều thán phục, nói: “Trong trí Ngài như có tủ sách”.

Bùi Tuấn là một nhà khoa bảng cao, ra làm quan tài kiêm văn võ. Công lớn của cụ là đã hoàn thành diệt phỉ Tàu, giữ yên hậu cứ miền Bắc để Nguyễn Tri Phương rảnh tay đối phó với đội quân xâm lược Pháp ở Miền Nam. Năm 1872 cụ được thăng chức Tổng đốc Ninh Thái. Bị ốm, cụ xin nghỉ chữa bệnh, chưa kịp về thì mất ở nhiệm sở dinh Tổng đốc Ninh Thái, thọ 65 tuổi.

Dụ viếng cụ của vua Tự Đức, do tổng đốc Nguyễn Tri Phương đọc trong tang lễ có đoạn viết: “… từ ngày nhậm công việc khó khăn đã được hơn 3 năm, có kế sách phòng thủ, luôn lo lắng việc quân, nên khi giặc vây hãm đã có đủ sức bảo vệ thành ….

Phàm mọi việc khẩn cấp trong quân sự, Bùi Tuấn đều tỏ rõ tài năng làm giảm nỗi lo của triều đình đối với phương Bắc “ (Trích Dụ sơn khắc ở tiền đường nhà thờ cụ Bùi Tuấn ở làng Bạt).

Với công lao to lớn đó, khi mất triều đình truy tặng cụ Thượng thư Bộ Binh, hàm Thái tử Thiếu Bảo.

Ngày 29/1/1999 trong văn bản số 10/VSH của Viện sử học nhà nước thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, do PGS, PTS Trần Đức Cường, Viện trưởng viện sử học đã xác định công lao của cụ Bùi Tuấn như sau: (trích)“… Bùi Tuấn là một thi sĩ yêu nước có nhiều công lao. Trong thời gian làm quan ông đã giành nhiều thời gian viết sách, tổ chức các kỳ thi kén chọn người tài. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, với cương vị Tả tham tri bộ binh, ông đã cùng Nguyễn Tri Phương vạch kế hoạch và trực tiếp coi giữ các địa phương miền Bắc. Ông còn cộng tác với Ông Ích Khiêm tiễu trừ phỉ ở Lạng Sơn, Thái Nguyên và Bắc Ninh. Ông cống hiến cho đến khi qua đời. Những đại thần làm quan cùng thời với ông như Nguyễn Tri Phương, Phạm Thận Duật rất thương tiếc và ca ngợi ông”.

Vua Tự Đức rất trân trọng con người và sự nghiệp của ông cũng gửi bản dụ viếng ông và truy tặng ông hàm Thái tử Thiên Bảo, đồng thời cấp một ngàn quan tiền tuất để lo tang lễ ông. Con người và sự nghiệp của ông còn được sử sách của ta ghi lại. Ông xứng đáng là người con yêu quý và có công trạng to lớn đối với đất nước, quê hương. Hiện nay, ở quê hương Liêm Bạt, Ứng Hoà, Hà Tây hãy còn từ đường thờ ông và lăng mộ ông. Một người có công lao đối với quê hương, đất nước như ông xứng đáng được đặt vào vị trí tôn nghiêm. Nơi thờ tự ông, xứng đáng được bảo vệ và tôn tạo thành nơi di tích lịch sử truyền đời cho con cháu mai sau.

BÙI ĐÌNH CHÂU (Theo Tạp chí Họ Bùi Việt Nam)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 2
  • 61
  • 4,653,845