THƯỢNG THƯ, QUẬN CÔNG BÙI KHẮC NHẤT (1533 - 1609)

  06/03/2017

Toàn cảnh lăng mộ Thượng thư, quận công Bùi Khắc Nhất cùng 02 con là Tả Thị Lang Bùi Ỷ Trọng và Hữu Tham nghị Bùi Ỷ Phục 

Thượng thư, Quận Công Bùi Khắc Nhất sinh năm Quý Tỵ (năm 1533) (1) tại làng Bột Thái, nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoăng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình hàn nho. Họ Bùi là một dòng họ lớn ở trang Đường Bột (gốc của làng Bột Thái ngày nay), có thể từ trước thế kỷ X.

Thần tích hai làng Bột Thượng, Bột Thái cho biết: vào niên hiệu Càn Phù Hữu Đạo (1039 - 1042), Vua Lý Thái Tông thân chinh đánh Chiêm Thành, khi dừng đóng quân ở Đường Bột trang đã được Nguyễn Tuyên và nhiều trai tráng của các dòng họ Nguyễn, Bùi, Lê, Nguyễn tham gia tòng chinh, lập chiến công.

Thân sinh Bùi Khắc Nhất là Giám sinh Quốc Tử Giám Bùi Doãn Hiệp, làm nghề dạy học, mẹ là bà Nguyễn Thị Xuy, mất sớm. Từ nhỏ, Bùi Khắc Nhất đã được người cha kèm cặp, dạy dỗ, nhất là trong thời gian theo cha vào Diễn Châu (Nghệ An), nơi ông Bùi Doãn Hiệp dạy học tại nhà ông Mai Thầm. Được một thời gian, ông Hiệp qua đời. Vợ chồng ông Mai Thẩm là người hiền hạnh, coi Bùi Khắc Nhất như con, giữ lại nuôi dưỡng và chia cho ruộng đất, trâu cày, tiền của để trả nghĩa thầy. Nhờ sự chăm sóc tận tình, chu đáo của gia đình họ Mai, Bùi Khắc Nhất mới có điều kiện ăn học đến nơi, đến chốn.
Năm Đinh Tỵ - 1557), Bùi Khắc Nhất 25 tuổi, cùng em là Bùi Khắc Hưởng dự kỳ thi Hương, song chi đỗ Tam trường. Năm 30 tuổi, từ Nghệ An, Bùi Khắc Nhất trở về quê, tiếp tục dùi mài kinh sử chờ khoa thi tới. Quê hương Bột Thái, Bột Thượng thời bấy giờ đã nổi tiếng là vùng đất học. Trước đó có Nguyễn Nhân Lễ, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Tân Sửu, niên hiệu Hồng Đức (năm 1481) khi mới 21 tuổi; là người khai khoa của Lưỡng Bột. Nối nghiệp Nguyễn Nhân Lễ, người cháu thúc bá là Nguyễn Thanh đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu, đời Mạc Phúc Hải (năm 1541). Khoa thi Chế khoa đầu tiên của triều Lê Trung Hưng tổ chức ở Thanh Hóa vào năm Giáp Dần, niên hiệu Thuận Bình, đời Vua Lê Trung Tông (năm 1554), làng Bột Thái có ông Nguyễn Sư Lộ đỗ Đệ nhất giáp Chế khoa đệ tam danh. Ông Nguyễn Sư Lộ vừa là thầy học, vừa là nhạc phụ của Bùi Khắc Nhất. Bên cạnh các vị tiến sĩ đã thành danh, trong làng còn có một số khá đông Hương cống, Sinh đồ giỏi chữ, tạo nên không khí đua tranh, động viên nhau trong học hành, thi cử.
Sự giáo dục của gia đình nho học thanh bần, gần gũi với nhân dân lao động, ân nghĩa và sự cưu mang tận tình của người nông dân hiền hạnh xứ Nghệ; truyền thống hiếu học, coi trọng hiền tài của quê hương, ảnh hưởng của người thầy có uy tín và tài đức lớn - Nguyễn Sư Lộ, là những nhân tố quan trọng hun đúc nên nhân cách, tài năng, mở đường cho sự thành đạt của Bùi Khắc Nhất.
Năm Giáp Tý (năm 1564), Bùi Khắc Nhất đỗ Hương cống. Năm sau (Ất Sửu, niên hiệu Chính Trị, 1565), ông đỗ Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân đệ nhị danh và bước vào hoạn lộ. Cuộc đời hoạt động chính trị - xã hội của Bùi Khắc Nhất gắn với một giai đoạn đầy biến động của lịch sử nước nhà. Đây là thời điểm cuộc nội chiến Nam - Bắc triều đang diễn ra quyết liệt.
Nhà Mạc từ đời Mạc Mậu Hợp (1562 - 1593) trở đi đã bước vào giai đoạn suy thoái, đến nỗi trong nước “kỷ cương bỏ bê mà không chấn hưng, chính trị thối nát mà không tu sửa, trộm cướp hoành hành, giặc mạnh [xâm lấn], lòng người nao núng, thể nước lung lay (1) -  như lời tâu của triều thần nhà Mạc lên Mạc Mậu Hợp. Tình hình đó đã làm cho giới trí thức nho sĩ đẩy vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Tinh hoa trí tuệ của dân tộc thế kỷ thứ XVI là Trạng Trình Nguyễn Bình Khiêm, sau bảy năm phục vụ nhà Mạc đã từ quan về quê dạy học vì dâng sỡ xin chém 18 tên gian thần mà không được Mạc Phúc Hải nghe theo. Nhiều trí thức, quan lại từ quan đi ở ẩn như Nguyễn Hàng ở Đại Đồng (Tuyên Quang). Một số người như Lương Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan, Lê Bá Ly… bỏ vào Thanh Hóa theo nhà Lê chống lại nhà Mạc. Vì khi đó ở Nam triều (triều Lê) theo nhận định của Lê Quý Đôn “vua tôi hòa thuận, chính sự chỉnh đốn, quân sĩ tinh nhuệ, khí thế đang lên” (1). Tiến sĩ Nguyễn Cẩn vốn là người đồng hương của nhà Mạc, đỗ đạt thành danh dưới triều Mạc nhưng trước tình hình chính sự nhà Mạc bê bối cũng chạy vào Thanh Hóa trực tiếp tham gia phù Lê, diệt Mạc và định cư tại làng Bột Thái, Bột Thượng.
Một trọng thần của nhà Mạc là Mạc Ngọc Liễn bị chết bệnh, trước đó có lời dặn lại vua Mạc Kính Cung: “Họ Lê trung hưng đó là số trời. Còn như dân ta vô tội sao nỡ để cho dân mắc vào vòng mũi tên hòn đạn lâu mãi như vậy. Chúng ta nên lãnh ở nước khác, cốt phải cẩn thận gìn giữ đừng lại cố sức chiến đấu với họ nữa. Lại dứt khoát chớ đón rước người Minh kéo sang nước ta để đến nỗi dân ta phải lầm than khổ sở” (2).
Như vậy, chí hướng và hành động của Bùi Khắc Nhất, phù Lê diệt Mạc thời bấy giờ là phù hợp với xu thế của lịch sử, với yêu cầu và lợi ích của nhân dân, của dân tộc.
Động lực thúc đẩy hành động của Bùi Khắc Nhất là lòng yêu nước thương dân. Trong quan niệm của hệ tư tưởng Nho giáo thời bấy giờ, yêu nước là phải trung quân, phải trung thành với nhà vua, với triều đình. Sinh ra và lớn lên ở Thanh Hóa, nơi “thang mộc ấp” của nhà Lê - một vương triều đã từng toả ánh hào quang trong lịch sử với những võ công và văn trị - được giáo dục trong tinh thần nho giáo, lúc nhà Lê bị suy vong, Bùi Khắc Nhất đã dũng cảm dấn thân vào sự nghiệp phù Lê diệt Mạc, một lòng một dạ bảo vệ nhà vua, tận tuỵ chăm lo việc nước. Lòng yêu nước ở Bùi Khắc Nhất gắn với lòng thương dân, thắm đượm tinh thần nhân văn, tinh thần vị tha của người quân tử. Là một vị quan cao, chức trọng nhưng gia cảnh ông thanh bần, không có ruộng vườn, nhà cửa tuềnh toàng. Có người khuyên ông nên tậu ruộng vườn và làm nhà to lớn, sang trọng để lại cho con cháu, ông nói: “Ta nay làm quan đã 30 năm chưa để lại cho mọi người được cái gì, sao lại muốn mọi người để lại cho con cháu ta; phúc tốt để lại cho con cháu về sau, đó là cái để lại lớn lao vo tận của người quân tử” (1) .
Tuy ở ngôi cao chốn triều đường nhưng Bùi Khắc Nhất vấn giữ mối liên hệ gắn bó với dân, không ham giàu sang, giữ vững tấm lòng trung thực, trong sáng, thuỷ chung nên được vua quan và nhân dân tôn quý, tin yêu.
Bốn mươi năm làm quan, trải ba triều vua: Lê Anh Tông (1557 - 1573), Lê Thế Tông (1573 - 1599), Lê Kính Tông (1600 – 1619), kinh qua chức quan ở 6 bộ: Lại (Lại Khoa Đô cấp sự trung), Lễ (Giám thí các kỳ thi), Công (Tả Thị lang), Hình (Tả Thị lang), Hộ (Thượng thư), Binh (Thượng thư), mất năm 77 tuổi tại triều, Bùi Khắc Nhất đã góp công về nhiều mặt vào thắng lợi của nhà Lê Trung Hưng, đưa đất nước thoát khỏi cuộc chiến tranh kéo dài, thoát khỏi cảnh chia cắt tạo lập hoà bình, thống nhất quốc gia.
Về quân sự
Là một vị quan văn, Bùi Khắc Nhất rất được triều đình tin cậy và quan lại đồng triều nể phục. Khi công cuộc trung hưng của nhà Lê đang còn nhiều gian khó, trong hàng chục năm, Bùi Khắc Nhất được giao kiêm nhiệm chức Ký lục Ngự doanh rồi Ký lục Chính doanh. Chức quan này được đặt ra từ đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) với chức năng đánh giá các tướng sĩ siêng năng hay lười biếng, dũng cảm hay nhút nhát để tâu vua có chính sách sử dụng, cất nhắc, thưởng phạt nghiêm minh. Ông còn nhiều lần làm công việc của bộ Binh: vào Nghệ An đốc suất hai dinh Cần Nghĩa và Dương Nghĩa đưa tướng sĩ đi đánh quân Mạc vào cướp phá, lập lại trật tự trị an (năm Bính Tý - 1576), đốc suất tướng sĩ chôn cây thông ven sông Mông Sơn đề phòng nơi hiểm yếu, phong tỏa Cảng Nga, Cảng Trường (cảng Nga Sơn và cảng Lạch Trường) ngăn chặn sự tấn công của quân Mạc… Năm Tân Tỵ - 1581, trong thời gian Trịnh Tùng thân đốc suất tướng sĩ các dinh đi bình định địa phận phía Tây Nam, với cương vị Ký lục Chính doanh, Bùi Khắc Nhất trực tiếp chỉ huy binh lính đóng đồn lưu thủ, cùng với Lê Trạc Tú bàn bạc, giải quyết mọi công việc trong quân ngũ. Năm Nhâm Thìn - 1592, dưới sự chỉ huy của Trịnh Tùng, cùng các tướng sĩ, Bùi Khắc Nhất đem quân đánh tan quân Mạc, tổ chức khôi phục lại Kinh thành Thăng Long, hộ giá vua Lê về ngự.
Về ngoại giao
Có một Năm Bính Thân - 1596, với cương vị là Vũ chính Kỳ mục, Bùi Khắc Nhất đã cùng với Phùng Khắc Khoan  là Văn chính Kỳ mục (1) và các tộc mục nhà Lê được triều đình cử lên biên giới, đàm phán với sứ nhà Minh về những lời tâu của tàn quân nhà Mạc báo tin diệt Mạc và xin phong vương cho vua Lê. Đây là đoàn sử thần đầu tiên của nhà Lê sau khi hoàn thành công cuộc trung hưng, tái thiết lập quan hệ bang giao với Trung Quốc sau hơn nửa thế kỷ bị gián đoạn. Trong quá trình đàm phán, tranh biện, với khả năng ngoại giao lỗi lạc, Bùi Khắc Nhất và Phùng Khắc Khoan thuyết phục được nhà Minh công nhận vua Lê là dòng tôn thống của nước Việt (2). Thắng lợi này là sự khẳng định nền độc lập tự chủ của Quốc gia Đại Việt trước đế chế Trung Hoa; đồng thời tạo nền tảng vững chắc, lâu dài trong thời gian gần hai thế kỷ, mối quan hệ giữa Đại Việt với các triều đại phong kiến Trung Hoa diễn ra yên bình.
Về hành pháp
Trong những năm làm Tả, Hữu Thị lang bộ Hình, trông coi việc ngục tụng là những năm bộc lộ đầy đủ tư cách của một vị quan công bằng, chính trực, rất mực thanh liêm và thương người của Bùi Khắc Nhất.
Nhiều đồng liêu, bậc công, bậc hầu có con em phạm pháp đã cho người mang vàng bạc đến cầu cứu Bùi Khắc Nhất nhưng đã bị ông chối từ, thậm chí cả quát mắng. Tuy vậy, ông cũng giúp họ được giảm nhẹ án. Đối với dân thường phạm pháp bị tra tấn, mang tiền đến biếu, ông không nhận nhưng hết lòng tra xét làm rõ sự việc để cứu giúp. Ông thường nói “Người có lỗi mà được ân xá, có tình nghi mà được xét rõ để giảm nhẹ, đố đâu phải là ân huệ của người coi việc hình ngục” (1). Ông là người cầm cân nẩy mực công bằng, không để ai bị oan khuất, bị lạm dụng nên thiên hạ ca ngợi thời Bùi Khắc Nhất làm quan là thời thái bình.
Với những người bị kết án, ông nói “Nhân mệnh chí trọng, quốc pháp vô tư”, nghĩa là mạng con người rất trọng, phép nước không tư vị. Câu nói nổi tiếng của ông là: “Ngục vô oan gia, thiên hạ xưng bình” tới nay vẫn còn nguyên giá trị.
Với tài năng, nhân cách và đóng góp to lớn với dân, với nước, Bùi Khắc Nhất đã được nhà Lê ghi nhận và đánh giá cao. TBài Chế ngày 10 tháng Năm năm Thuận Đức thứ nhất (Kỷ Hợi, 1599) có lời khẳng định: “Bùi Khắc Nhất gia thế dòng nho, khoa trường cao lớn, là cái vốn quý giá tài ba, đặng làm cho nước văn minh, giúp vận nước trung hưng.
Họ Bùi đứng vững, lấy danh vọng, lấy công lao giúp đắp xây nền móng. Khi ở Miếu đường thì khoan hậu, nghiêm chỉnh luận bàn. Lúc ở hộ tào thì ngay thẳng, phải lẽ, không vị tiền tài. Làm việc phục vụ thì nghĩa khí, trung thành, kính cẩn.
… là bậc lão thành đã giúp vận nwocs dài lâu yên trị. Là một đại thần cáng đáng công việc lớn lao, không mệt mỏi, là một đại thần nghĩa khí vững bền, công lao to lớn”.
Cũng trong bài Chế này, triều đình nhà Lê phong ông là “Kiệt tiết tuyên lực, Hiệp mưu tá lý Công thần, đặc tiến Kim tử vinh lộc Đại phu, Hộ Bộ Thượng thư, Văn Phú bá, Trụ quốc thượng trật” (2).
Vì có nhiều công lao cho nên sau khi mất, ông vẫn nhiều lần được Triều đình phong tặng.
Tháng Hai năm Hoằng Định thứ 11 (Canh Tuất, 1610), Bùi Khắc Nhất được tặng phong hàm Thái bảo, tước Văn Phú hầu. Năm Kỷ Tỵ niên hiệu Đức Long thứ nhất (1629) được gia phong Phú Quận công. Niên hiệu Thịnh Đức thứ nhất (Quý Tỵ, 1653), triều đình Lê - Trịnh tổ chức dựng bia Tiến sĩ của các khoa thi trước, trong đó có Chế khoa năm Chính Trị  thứ 10 (Ất Sửu, 1565), tên tuổi ông được vinh danh trên bia Tiến sĩ, đặt tại Văn Miếu Quốc Tử giám, nơi được coi là biểu tượng của trí tuệ văn hoá Việt Nam, biểu tượng của sự trường tồn tinh hoa dân tộc. Nội dung bài văn bia ca ngợi: “Những người đỗ trong khoá ấy (1) đều là người lỗi lạc kỳ tài, chăm lo việc nước, việc vua, hơn hẳn Tiêu Tương một bậc, lo dân, giúp chúa, sự nghiệp sách với Y Chu đời xưa. Công nghiệp thanh danh của các ông thật là rạng rỡ, đời sau còn nhớ mãi công ơn”.
Năm Bảo Thái thứ tư triều Vua Lê Dụ Tông (Quý Mão, 1723), Bùi Khắc Nhất được xếp vào hạng Công thần Trung hưng bậc nhì.
Tháng Ba năm Cảnh Hưng thứ 43 (Nhâm Dần, 1782), ông được tặng phong Trung đẳng Phúc thần, Tuy Dụ hùng lược đại vương.
Không chỉ triều Lê, sau này triều Nguyễn vẫn xét tặng Công thần cho triều trước. Năm đầu niên hiệu Gia Long (Nhâm Tuất, 1802), lục xét 33 người phong công thần khai quốc và 15 người công thần Trung hưng, chia ra bậc nhất, bậc nhì. Về sự kiện này, chính sử nhà Nguyễn chép: “Cho con cháu các công thần khai quốc và trung hưng đời Lê trước được nhiêu ấm. Chiếu rằng: “Họ Lê từ đời Thái tổ bình Ngô mở nước, đến Trang Tông diệt Mạc trung hưng, trong khoảng ấy có nhiều người công to giúp nước, tước ấm nối đời… Vậy sai lục 33 người công thần khai quốc và 15 người công thần trung hưng đời Lê trước, xét công xếp làm bậc nhất, bậc nhì, mỗi người công thần cho một người con cháu được miễn phu dịch, đời đời giữ việc thờ tự; công thần bậc nhất thì thêm cho hai người trong họ làm sái phu, miễn cho dao dịch”. Bùi Khắc Nhất được xếp hàng công thần trung hưng bậc nhì (2).
Ngày 18 tháng Ba năm Đinh Tỵ, niên hiệu Khải Định (năm 1917), Bùi Khắc Nhất lại được tặng phong Trung đẳng thần và ngày 25 tháng Bảy, năm Giáp Tý, niên hiệu Khải Định thứ 9 (năm 1924), ông được gia phong lên Thượng đẳng thần.
Tuy làm quan trong triều, bận việc nước song Bùi Khắc Nhất vẫn dành cho quê hương những tình cảm sâu sắc. Ông luôn quan tâm xây dựng thuần phong mỹ lục và việc học hành của nhân dân. Khi còn sống, ông được dân làng bầu là quan tôn trường, sau khi mất được thờ làm thành hoàng làng. đến nay, trong dân gian vẫn truyền tụng “sự tích rừng dong”, ca ngợi tinh thần dũng cảm, sự bình tĩnh, trí thông minh và đức hy sinh cao cả của ông trong việc bảo vệ Vua Lê Anh Tông thoát khỏi sự truy sát của nhà Mạc. Đền thờ Bùi Khắc Nhất được xây dựng vào thời Lê Trung hưng (đầu thế kỷ thứ XVII), sau đó giao cho làng và dòng họ quản lý. Đền thờ được tu sửa, tôn tạo nhiều lần và trải qua nhiều triều đại, với biết bao thăng trầm của lịch sử, vẫn được nhân dân bảo vệ tôn nghiêm. Trong tâm thức người dân quê, đền thờ Thượng thư Quận công Bùi Khắc Nhất là nơi linh thiêng. Ông là vị phúc thần, là một trong năm vị thành hoàng của làng Bột Thái, Bột Thượng luôn luôn phù trợ dân làng, cứu nhân độ thế.
Năm 2000, việc Bộ Văn hoá - Thông tin đã công nhận đền thờ và lăng mộ Bùi Khắc Nhất là di tích lưu niệm danh nhân lịch sử. Đây là sự khẳng định vai trò và công lao to lớn của ông trong lịch sử dân tộc, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc.
Cả cuộc đời gắn bó với nước, với dân, bất chấp mọi gian nan thử thách, cho dù có lúc bị xử lý oan hay những năm triều đình trọng dụng, Bùi Khắc Nhất vẫn tận tụy, đem hết trí tuệ, tâm huyết và tài năng chăm lo việc nước, việc dân. Thanh danh của ông được lưu truyền mãi còn bởi sự thanh liêm, lòng nhân từ, chính trực, cuộc sống giản dị, thanh bần, luôn thông ảm sâu sắc với những thiếu thốn, đau khổ của nhân dân. Ông còn là tấm gương sáng trong học tập, không những học qua sách vở, mà còn học trong nhân dân lao động, trong thực tiễn cuộc sống, trong công việc. Nhờ vậy, ông có vốn hiểu biết sâu sộng, toàn diện về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hoá, pháp luật để có thể đảm nhiệm một cách xuất sắc những công việc trọng đại của đất nước. Nội dung câu đối tại từ đường đã khái quát lên toàn bộ sự nghiệp bất hủ của ông:
Tứ thập tứ tài tuyên lao, sự kinh lục bộ
Thất thập thất niên hưởng thọ, sĩ lịch tam triều.
Nghĩa là: Việc qua sáu bộ, bốn mươi tư năm sức hiến,
Quan trải ba triều, bảy mươi bảy tuổi trời cho.
Ngoài ra, trong Từ đường các đôi câu đối ca ngợi tài năng, nhân cách của ông:
Sĩ hoạn kiêm văn vũ lưỡng giai, tuyên lực hiệp mưu thượng trật.
Vinh phong lịch công hầu, ngũ đẳng Tuy Dụ hùng lược đại vương.
Nghĩa là :
Sĩ hoạn kiêm hai ban văn võ, mưu sức rõ ràng thượng trật
Trải vinh phong công hầu năm bậc, Tuy Dụ hùng lược đại vương.
“Công đức thế bất thiên xuân thu trở đậu
Hưu thích quốc vị tất đới lệ sơn hà”.
Dịch:
“Công đức vững đời đời được xuân thu cúng tế
Mừng lo cùng đất nước, dẫu sông cạn đá mòn”.
“Nho tướng huân danh tồn sử lục
Thế thần ái kính tại nhân tâm”
Nghĩa là:      “Danh thơm nho tướng lưu danh sử
                 Yêu kính công thần tại nhân tâm”.
Khanh nguyệt sứ tinh cao viễn chiếu
 
Thư điền lễ phố dị an đa.
Nghĩa là:     Khanh sĩ trăng sao vời vợi chiếu
                 Ruộng vườn thi lễ để bình an.
Đề nghị tác giả viết thêm một đọan, đánh giá về công lao của Bùi Khắc Nhất trong việc :
+ Củng cố triều chính để nhà Lê Trung Hưng đủ mạnh về lực lượng, đẩy nhanh cuộc chiến với nhà Mạc, thu phục lại Thăng Long – “tâm điểm” của cuộc chiến tranh.
+ Củng cố triều chính khi nhà Lê đã thu phục được Thăng Long.
TS. NGUYỄN ĐỨC NHUỆ
Viện Sử học Việt Nam

 


(1) Lê Quý Đôn Đại, Việt thông sử, bản dịch, Nxb. VHTT, Hà Nội, 2007, tr………

(1) Lê Quý Đôn Đại, Việt thông sử, Sđd, tr…..

(2) Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký Toàn thư, bản dịch, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1972, tập IV, tr. ….

(1) Theo Bùi tướng công hành trạng kỷ (ghi rõ nguồn gốc tài liệu, nơi lưu trữ).

(1) Vũ chính kỳ mục là quan cao niên bên ngạch võ, Văn chính kỳ mục là quan cao niên bên ngạch văn.

(2) Sự kiên này chính sử có chép nhưng không nhắc đến tên tuổi của Bùi Khắc Nhất, chỉ chép Phùng Khắc Khoan, Đỗ Uông, Nguyễn Văn Gia, Lê Ngạch, Lê Hựu. Ở đây chúng tôi dẫn theo Bùi tướng công hành trạng kỷ (BT).

(1) Bùi tướng công hành trạng kỷ, tài liệu đã dẫn.

(2) Bùi tướng công hành trạng kỷ, tài liệu đã dẫn.

(1) Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân 4 người: Lê Khiêm, Bùi Khắc Nhất, Đỗ Tế Mỹ, Dương Trí Dụng, Đệ nhị giáp Chế khoa xuất thân 6 người: Lê Nghĩa Trạch, Đinh Doãn Tín, Lê Văn Xướng, Hoàng Quốc Thực, Đỗ Cảnh, Lê Đa Năng.

(2) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, bản dịch, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002, tập I, tr,526

 

Tin liên quan:

Diễn ca CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP THƯỢNG THƯ QUẬN CÔNG BÙI KHẮC NHẤT

Nguyễn Sư Lộ - Người thầy của Đại Vương Thượng đẳng thần Bùi Khắc Nhất

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 9
  • 1594
  • 3,349,017