Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng với công cuộc khai khẩn lập ấp Hàm Châu hồi cuối thế kỷ X

  19/07/2018

Có thể nói, mặc dù tên tuổi không có dòng nào trong chính sử, song qua rất nhiều những nguồn tư liệu (Gia phả, văn bia, câu đối, địa danh cổ…) còn lưu giữ xung quanh ngôi từ đường cổ kính của dòng họ Bùi tại làng Đồng Thanh – Tân Bình thuộc thành phố Thái Bình nay, chúng ta vẫn như được thấy một cách sống động toàn bộ thân thế sự nghiệp của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng – một danh nhân có tầm vóc trong giai đoạn lịch sử dựng nước và giữ nước của Thái Bình cũng như của cả dân tộc cách đây hơn 1000 năm.

Xuất thân từ mảnh đất quê hương nhiều đồi núi ở Phong Châu (tỉnh Vĩnh Phúc nay) nhưng tên tuổi cùng những sự nghiệp hiển hách của Bùi Quang Dũng lại gắn liền với Bố Hải khẩu – một vùng đất cuối sông, cửa bể ở miền hạ lưu châu thổ sông Hồng.

Tên tuổi của Bùi Quang Dũng – Trấn đông Tiết độ sứ thống lĩnh 3 đạo và trực tiếp đóng giữ tại đạo thành Kỳ Bố – luôn luôn lấp lánh bên cạnh những cái tên đã hết sức quen thuộc trong thời dẹp nội loạn “thập nhị sứ quân” của lịch sử dân tộc hồi cuối thế kỷ thứ X như: Sứ quân Trần Lãm, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh (sau là vua Đinh Tiên Hoàng).

Và cũng không chỉ là một công thần, danh tướng dưới triều đình nhà Đinh, tài năng công trạng và đức độ của ông còn được nhà Lý hết sức trọng vọng ngưỡng mộ. Cái tên hiệu “Minh Triết phu tử” và tước Trinh Quốc công do Lý Thái Tổ trực tiếp Ngự ban và truy phong đã ghi nhận thêm mối quan hệ đặc biệt này.

Lực phù thống nhất, vân lôi chính khí, Hàm Châu ấp, thiên vạn tải như sinh”.

Nghĩa là:

“Dồn lực phò giúp nền thống nhất, phong khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu ngàn năm mãi còn”.

       Đó là vế đối do vua Lý Thái Tổ ngự đề khi về thăm viếng phần mộ của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng vào năm Thuận Thiên thứ 11(1020) sau khi ông mất 2 năm – đã phần nào nói lên tất cả.

Tại hội thảo nhân kỷ niệm 997 năm ngày mất của ông (13/6/1018 – 2015) hôm nay. Chắc sẽ có nhiều bài viết đi sâu làm sâu sắc hơn những công trạng, khí tiết đầy tự hào khi xưa của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng. Riêng chúng tôi chỉ xin được tập trung khắc họa lại một khía cạnh cũng rất đáng tôn vinh trong công trạng, sự nghiệp của ông. Đó là những đóng góp to lớn của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng với công cuộc khai khẩn dựng lập ấp Hàm Châu vào hồi cuối thế kỷ thứ X ở Thái Bình.

* Công cuộc dựng ấp Hàm Châu

Ấp Hàm Châu xưa chính là thôn Đồng Thanh – xã Tân Bình nay

Ấp Hàm Châu khi ấy nằm kề liền phía bắc hữu ngạn khúc sông Tiểu Hoàng Giang (sông Bo hoặc sông Trà Lý) giáp mạn bắc thành Kỳ Bố xưa. Trước khi có bàn tay con người khai phá, đồng đất Hàm Châu còn nằm lọt trong một vùng đất có quá trình lịch sử hình thành khá dữ dội. Sự cao thấp phức tạp của bề mặt địa hình, sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đầu sóng ngọn gió cùng muôn vàn những hiểm họa khác luôn sẵn sàng rình rập đã trở thành những đề tài cho các câu chuyện truyền ngôn, các câu chuyện huyền thoại đầy tính cảnh báo đe dọa vì các nguy cơ sóng gió, thủy quái, giao long… đang ngầm ẩn chứa quanh vùng Bố Hải khẩu. “sóng cửa Trà, ma cửa Hộ”; “lắm ma chùa Bứa, lắm dứa chùa Chanh, lắm sành chùa Mải, lắm giải sông Bo” (1)  Sách “Thái Bình phong vật chí” cũng từng điểm đến sự tích “bến Cát Hộ” (nay thuộc xã Đông Dương, huyện Đông Hưng) – một bến sông của sông Trà Lý đối ngạn gần đất Hàm Châu – đã cho biết: Ngày xưa cửa biển còn ở đó… nơi ấy hiểm trở là nơi cư trú của các loài giao long, thủy tộc. “có con rùa vàng to chừng một gian nhà thường vẫn nhô đầu lên, thuyền bè qua lại thường bị nó hất chìm”.

Để có thể khai khẩn cải tạo và đứng chân làm chủ một vùng đất như vậy quả là điều không dễ dàng. Ấy là còn chưa kể đến những thách thức không nhỏ bởi sự phiêu tán tiêu điều của các hương ấp – hậu quả của các cuộc binh hỏa nội loạn diễn ra liên tục trước nạn phân rã của thời “thập nhị sứ quân

(1) Chùa Bứa (Hải Ba tự) ở Nhân Thanh (Nhân Khê trước) xưa có cây cối um tùm lắm rắn độc

– Chùa Chanh (Thắng Quang tự) ở Tổng Văn (xã Vũ Chính) xưa dứa dại mọc thành rừng

– Chùa Mải (Long Tuyền tự) ở Trừng Mải (xã Tân Bình) đất cao khô nhiều gò, đống

– Sông Bo: Tên khúc sông Trà Lý (Tiểu Hoàng giang) chảy qua địa phận Kỳ Bố (nay là thành phố, xưa có tiếng là sông to gió lớn nhiều thủy quái.

Bấy giờ, do có công phò giúp họ Đinh dẹp loạn lên ngôi (968) xưng là Đinh Tiên Hoàng, Bùi Quang Dũng được xét coi là bậc Khai quốc công thần và ban phong giữ chức Anh Dực tướng quân sung Điện tiền chỉ huy sứ kiêm Thiềm sự. Nhưng ngay năm sau, dưới triều Đinh niên hiệu Thái Bình năm thứ 2 (969), Bùi Quang Dũng đã phải nhận mệnh đem binh về dẹp loạn ở Kỳ Bố Hải khẩu. Toán quân nổi loạn ở Kỳ Bố là do Ngô Văn Kháng con trai một bộ thuộc của sứ quân Trần Lãm khi trước cầm đầu khởi binh. Bằng sự cảm hóa khôn khéo. Bùi Quang Dũng đã nhanh chóng thu phục được Ngô Văn Kháng và cả toán quân phản loạn mà không hề phải động binh. Việc xong, ông được ban khen và nhận mệnh ở lại đóng giữ tại thành Kỳ Bố với chức Trấn đông Tiết độ sứ thống lĩnh cả 3 đạo (Kỳ Bố là một đạo).

Đây chính là thời kỳ, Bùi Quang Dũng được một phen thỏa chí sử dụng mọi tài năng tri thức cho công việc trị nhậm vỗ về an dân của một vị quan ngoại trấn. Sau khi tìm hiểu kỹ dân tình, kể cả các lễ tục thờ cúng các linh thần của của các hương ấp, Bùi Quang Dũng đã lập tức bắt tay vào việc triển khai nhiều hình thức khuyến khích có kết quả công cuộc tập hợp dân khai khẩn khôi phục đồng điền và củng cố lại các sinh hoạt tập tục nơi hương ấp.

Cuốn gia phả họ Bùi còn cho biết khá cụ thể những thành tựu khẩn hoang của Bùi Quang Dũng trên một vùng đất ngay cạnh lị sở đạo thành Kỳ Bố – sau là phần lớn đồng đất các xã, thôn thuộc tổng Tri Lai, huyện Vũ Tiên. Nội dung viết: “Xét nguyên ủy thời là khúc sông đại giang ấy (tức chi khúc sông Bo của sông Trà Lý) từ đời ông sứ quân Trần Minh Công trở về trước, bến sông ấy thường có loại cá kình (cá voi). Người bấy giờ cho là loại cá thần, lại có nhiều giống giải và thuồng luồng, dân cư thường bị phải độc hại. Những chốn có cây rậm rạp không ai dám đến, cho nên nhiều chỗ đất bỏ hoang. Từ khi cụ Bùi công đến trấn thủ, bắt dân đem củi đuốc rơm cỏ đốt những chỗ rậm rạp, khai khẩn thành ruộng cho dân cày cấy”. Bên cạnh những thành tựu này, Bùi Quang Dũng còn tổ chức vận động các nhà giầu quyên góp tu sửa tôn tạo 2 ngôi thần miếu đã bị hoang phế của các làng Lương Lai (nay là Đại Lai, xã Phú Xuân), làng Nhân Khê (nay là thôn Nhân Thanh, phường Tiền Phong). Việc làm ấy đã thu hút được sự hoan hỷ hưởng ứng của đông đảo nhân dân trong vùng.

Tuy nhiên, trong quá trình công việc khẩn hoang quanh vùng Kỳ Bố thì việc khai phá dựng lập ấp Hàm Châu mới thực sự nổi lên như một sự kiện vừa li kỳ vừa phản ánh rõ nét nhất quyết tâm cũng như tài trí của vị Trấn đông Tiết độ sứ Bùi Quang Dũng.

Đất Hàm Châu bấy giờ còn thuộc trại Linh Sa (sau đổi là Tú Linh) vốn là mảnh đất hầu hết cỏ cây rậm rạp, đầm bùn lầy thụt, quanh năm ngập nước. Ở đấy chỉ còn đôi chỗ nhô lên vài khoảng gò nhỏ có trồng giống cỏ Hương Bài nên được gọi chung là đồng Hương Bài. Nơi đây bị coi là chốn hoang dại, khó cải tạo nhất vùng, không ai buồn nhìn đến. Song, chắc chắn với con mắt dày dặn kinh nghiệm của mình, Bùi Quang Dũng vẫn âm thầm tìm hiểu, tính toán và đích thân tổ chức lực lượng khai khẩn với quyết tâm sẽ làm chủ mảnh đất đang chứa đựng nhiều gian khổ thách thức này.

Quá trình mở đầu khai khẩn đồng đất Hàm Châu đã được gắn liền với câu chuyện vừa thần thoại vừa lý thú nhân đấy mà sau này tên sông, tên ấp ở đây dều được cải đặt tên là Hàm Châu. Câu chuyện kể như sau: Một lần Bùi Quang Dũng cùng thuộc hạ đi tuần để hiểu dụ dân chúng trong vùng và nhân thể tới viếng mộ Trần Minh Công ở Lương Lai. Ước khoảng canh hai, thuyền vừa đến khúc sông Bạch Lãng giáp địa phận đồng Hương Bài thì bỗng nhiên như bị vật gì ngáng lại không đi được. Lúc đó bỗng có cơn gió lớn ập đến, đèn đuốc đều tắt cả. Bùi Quang Dũng liền lấy một viên ngọc minh châu đem trong mình ra soi thì thấy một con cá chép lớn (lý ngư) dài ước 3 thước đầu áp vào mũi thuyền. Đương soi thì không may viên ngọc châu rơi xuống nước. Cá chép liền đớp lấy và lặn đi mất. Nhân chuyện này, Bùi Quang Dũng mới cho đổi tên sông Bạch Lãng là sông Hàm Châu. Sau lần đó, nghĩ đó là cơ duyên trời dịnh, Bùi Quang Dũng đã bỏ tiền ra mua lại cả cánh đồng Hương Bài rồi đưa toàn bộ thuộc hạ và vận động dân chúng kể cả những người có gia sản cùng chung sức khai khẩn quật lấp biến cả một vùng đất hoang thành một cánh đồng để cày cấy trồng trọt.

Việc lớn vừa xong, Bùi Quang Dũng cho dựng nhà trên gò cao nơi trông ra khúc sông đánh rơi ngọc rồi đem cả vợ con đến ở. Nhận được sớ tâu về triều. Vua Đinh đồng ý ban cả số ruộng đất đã khai khẩn cho Bùi Quang Dũng làm đất ăn lộc và cho phép lập ấp mới đặt tên là Hàm Châu. Nhân đấy, Bùi Quang Dũng liền cho các thuộc hạ thân tín và những người có công chung sức khai khẩn được đem toàn bộ thân quyến tổng cộng hơn 30 người cùng ra lập ấp mới (1).

Để có điều kiện phát triển hơn nữa, Bùi Quang Dũng còn tâu xin cho trại Linh Sa nhập về với ấp Hàm Châu và thành lập một trang ấp lớn hơn. Mặt khác, lựa chọn các nơi cao ráo trong ấp, Bùi Quang Dũng đã tự bỏ tiền của cho xây một loạt các miếu đình, chùa chiền và sinh từ. Tòa miếu được dựng trên gò Tượng Sa (đống Con Voi) để thờ hai vị tướng thời Tiền Lý là Lý Thiên Bảo và Lý Triệu Long (đang được thờ ở các làng Lương Lai, Nhân Khê) do có công hiển linh phù giúp công việc dẹp loạn khi trước của Bùi Quang Dũng. Ngôi chùa được đặt tọa lạc trên gò Ngư Sa (đống Con Cá) gọi là Trang Nghiêm tự (sau này đổi gọi “Sùng Nghiêm tự”). Riêng tòa sinh từ được xây cất trên gò Mộc tinh (sau dân gọi là gò Tổ công) để mấy năm sau vào niên hiệu Thái Bình thứ 6 triều Đinh (973) nhân việc rước linh hài các vị thân sinh ra Bùi Quang Dũng về táng ở ấp Hàm Châu, dân làng đã xin rước chế sắc tặng phong của triều Đinh cho hai cụ đưa vào sinh từ để cả hương ấp cùng phụng sự.

Bên cạnh công việc hình thành, củng cố hương ấp, Bùi Quang Dũng cũng không quên cân nhắc phân chia toàn bộ 500 mẫu ruộng đã khai khẩn được cho nhiều phần việc khác nhau. Phần để lo hương hỏa của họ Bùi, phần để phục vụ thần từ, phật tự của hương ấp. Phần làm gia sản tư điền cho người họ Bùi. Phần lại để ban thưởng cho những người có nhiều đóng góp công sức cho khai khẩn. Một phần được giao cho các bộ thuộc thân tín quản canh. Đặc biệt, ông còn để lại một số lớn ruộng đất quân cấp cho toàn bộ số đinh của cả ấp Hàm Châu và trại Linh Sa. Ruộng quân cấp được coi là lộc của nhà quan ban cho dân, không cho đổi bán và phải trả khi già yếu khuất núi.

(1) Theo gia phả họ Bùi: Bùi Quang Dũng đã cho phép các bộ thuộc là Ngô Văn Gia cùng thân quyến 12 người; Đỗ Văn Mục với thân quyến 8 người; Đặng Văn Phú với 10 người và những người có công khai khẩn là; 2 anh em Tạ Ban, Tạ Chi; Hà Trung; Trương Gián; Đào Thịnh đem toàn bộ thân quyến ra ở ấp Hàm Châu.

Việc phân ban ruộng đất của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng đã in một dấu ấn sâu đậm trở thành những địa danh rất giản dị dễ nhớ tại các xứ đồngcủa ấp Hàm Châu. Trong đó; Đồng Bùi : là tên gọi số ruộng tư điền của Thái tổ Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng để lưu truyền mãi về sau cho con cháu.

– đồng Bữa Gạo (xứ Mễ Tạo): là tư điền của họ Bùi giao cho dân lĩnh canh mỗi mẫu nộp ba hộc gạo dùng phục vụ các công việc trong nhà cụ Trinh Quốc công.

– đồng bà Là: là xứ ruộng được giao để trả ơn cho một cụ bà có tên là bà Là từng đã có lần đem gạo nhà ra đãi quân sỹ đương lúc thiếu lương thực trong cuộc dẹp loạn khi trước. Sau, bà Là từ trần đã giao số ruộng này lại cho 2 người con là Tạ Ban, Tạ Chi nên dân đổi gọi xứ đồng này là đồng Ban Chi.

– đồng Gỗ: Nguyên khi mở ấp, anh em ông Đào Văn Thịnh tiến cúng 200 nén bạc để mua gỗ xây dựng quân doanh và và tôn tạo các thần miếu ở Nhân Khê, Lương Lai. Nay xứ ruộng này được giao để trả lại số bạc đã quyên mua gỗ nên gọi là xứ đồng Gỗ.

– đồng Gia: trước gọi là xứ Tân Sa được giao cho bộ thuộc của Bùi Quang Dũng là Ngô Văn Gia quản canh.

– đồng Mục: nguyên là xứ Tân Biên được giao cho bộ thuộc tên là Đỗ Văn Mục quản canh.

– đồng Phú: nguyên là xứ Trung Phương được giao cho bộ thuộc là Đặng Văn Phú quản canh.

– đồng Gián: nguyên là xứ Trường Khê được ban cho Trương Văn Gián có nhiều công sức trong việc khai khẩn đồng điền lúc trước. Người làng nhân đấy gọi là đồng ông Gián, sau gọi chệch là là đồng Giáng.

– đồng Trà Lễ: xứ ruộng này được giao cho ông Hà Văn Trung để thưởng việc ngày trước thường nấu nước chè (trà) dâng lên Bùi Quang Dũng và đinh phu cùng uống.

– đồng Quan: Đây là xứ ruộng dành cho việc quân cấp làm ruộng công điền nhưng vì coi là lộc của nhà quan nên thường gọi là đồng Quan.

Có thể nói, cho đến lúc này công cuộc khai khẩn dựng lập ấp Hàm Châu đã thực sự trở thành hiện thực với một kết quả vững chắc. Không chỉ có tên tuổi được chính thức công nhận và cũng không chỉ có đầy đủ các thiết chế tâm linh rất cần thiết như các hương ấp cổ khác, ấp Hàm Châu còn có cả một vùng đồng điền được khai phá cải tạo ngày càng mầu mỡ và đầy hứa hẹn giúp cho các lớp dân cư sớm yên tâm tiếp tục trụ vững trên một miền đất từng đã có tiếng là dữ dội và khắc nghiệt.

                          Mừng nay trong cõi hải tần

                          Giặc ma đã dẹp, cá thần cũng xuôi

                          Vì ai dân được yên vui

                         Ấy quan Thượng tướng họ Bùi phải chăng.

Ngay lúc đương thời câu ca mộc mạc giản dị đó đã được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Nó dường như là một sự tổng kết, một lời thông báo hoan hỷ nhưng cũng đồng thời là một sự khẳng định và ngầm chứa một tấm lòng biết ơn sâu đậm của những người dân vùng Kỳ Bố Hải khẩu đối với Bùi Quang Dũng và công cuộc khẩn hoang mang nhiều ý nghĩa của ông.

Đây không chỉ là sự cảm nhận đơn thuần qua một câu ca. Thực tế, trải qua bao biến cố thăng trầm, những tình cảm đặc biệt này vẫn tiếp tục nảy nở và ngày càng được củng cố sâu sắc để chờ dịp là bùng nổ bộc lộ.

Chuyện cũ còn kể rằng: Bấy giờ vua nhà Đinh bị hãm hại, Lê Đại Hành lên ngôi lập ra triều Tiền Lê (980 – 1009). Quyết giữ tấm lòng trung “không thờ 2 vua”,  Bùi Quang Dũng đem theo một số thuộc hạ lánh về động Trinh Thạch (vùng giáp ranh Ninh Bình và Hòa Bình) tới 30 năm. Sau Lý Thái Tổ lên ngôi lập ra triều Lý (1009-1226) biết tiếng ông, nhiều lần cho người đến triệu vời nhưng Bùi Quang Dũng đều từ chối. Khi đó ở Kỳ Bố có giặc loạn nổi lên chiếm giữ thành quách. Quân triều nhiều phen về dẹp loạn nhưng đều thất bại. Riêng lần ấy, Chinh đông Đại tướng quân Nguyễn Uy lĩnh chức Khâm sai phục mệnh đưa binh rầm rộ kéo về Kỳ Bố đánh dẹp. Quân nổi loạn không những kiên quyết giữ thành không hàng phục mà còn cho người đồng thanh reo lên rằng: “Uy mặc Uy chẳng sợ chi. Có ông Dũng đến vậy thì mới kinh”.

Nắm được sự tình,  vua Lý Thái Tổ đích thân có chiếu dụ mời Bùi Quang Dũng vào triều nhận lại các chức tước trước đây rồi đưa binh trở về Kỳ Bố giúp triều đình dẹp loạn quân. Thế là một cuộc gặp gỡ lịch sử, vô cùng cảm động đã xảy ra. Gia phả họ Bùi mô tả: “ Vua Lý sai đình thần dẫn cụ về Hàm Châu ấp cũ. Bấy giờ cụ với con trai là Bùi Quang Anh cùng đi, tiện đường đến thành Kỳ Bố trước. Giặc trông thấy liền cùng mừng rỡ, reo, khóc, lễ bái xin hàng. Cụ nhân đem nhời phủ dụ, giặc đều cảm động gạt nước mắt xin đem theo bộ thuộc theo Bùi Quang Anh cùng rước cụ về bản ấp Hàm Châu. Người bản ấp nghênh tiếp cụ mười phần mừng rỡ vui vẻ không khác gì trẻ con trông thấy mẹ, nông phu gặp được mưa là vậy”.

Một lần nữa trong cuộc đời chinh chiến của mình, vị lão tướng từng trải các triều Đinh – Lý lại không cần dùng binh cũng đã hóa giải được giặc loạn. Thậm chí “giặc” còn đón rước tôn kính ông như một bề trên thân thuộc vừa trở về sau một chuyến đi xa.

Có lẽ không cần bình phẩm nhiều. Kết quả thiết thực của công việc khẩn hoang lập ấp cùng với tấm lòng thật sự thương dân, lo cho dân của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng đã lý giải đầy đủ cái kỳ lạ của sự kiện trên. Cái “ân”, cái “uy” tưởng như khó giải thích ở ông thật sự đã được xây dựng trên những cơ sở hết sức giản dị. Đó là sự gần dân, hiểu dân và vì dân. Một đức tính mà cho đến nay chúng ta vẫn đang còn phải nỗ lực học hỏi và làm theo.

Để tóm lại bài viết này, chúng tôi chỉ xin mạn phép chép lại đôi câu đối mà nhà bác học Lê Quý Đôn đã đề tặng ở từ đường thờ Trinh Quốc công và dòng họ Bùi tại thôn Đồng Thanh, xã Tân Bình.

“Doãn văn, doãn võ, tiên trung thánh

 Như ngọc, như kim, bảng thượng thần”

Tạm dịch:

(Tài) Giỏi văn giỏi võ, ông là tiên trong các vị thánh

(Đức) Như ngọc như vàng, ông đứng đầu bảng ghi tên các vị thần

Vũ Mạnh Quang - Nhà nghiên cứu Văn hóa

 

Tin liên quan:

Họp bàn tổ chức giỗ 1000 năm Thái tổ Trinh Quốc công, Anh dực tướng quân Bùi Quang Dũng (25/07/2018)

Phát biểu đề dẫn hội thảo khoa học "Danh nhân Bùi Quang Dũng - cuộc đời và sự nghiệp"

Hội thảo: Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng trong bối cảnh chính trị, xã hội thế kỷ 10

Đóng góp của Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng với nhà Đinh và nhà Lý

Bùi Quang Dũng - Danh thần hai triều Đinh – Lý

THIÊN SÁCH THƯỢNG TƯỚNG TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA CỦA “HÀM CHÂU BÙI GIA PHẢ KÝ”

Trinh Quốc công Bùi Quang Dũng (922-1018) – trong tâm thức người dân và hậu duệ họ Bùi

Từ đường Thiên Sách Thượng Tướng quân Bùi Quang Dũng - Di tích lịch sử văn hóa quốc gia

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 13
  • 420
  • 1,430,462