Từ "chiếu dời đô" đến bài văn bia còn lại thời Lý (II)

  03/03/2017

Như bài viết trước đã giới thiệu về một giai đoạn của danh tướng Bùi Quang Dũng có công khai quốc phò vua thời nhà Đinh (vua Đinh Tiên Hoàng), bài viết này sẽ ghi chép tiếp những giai thoại của ông thời vua Lý Thái Tổ(Lý Công Uẩn).

Một trang gia phả họ Bùi ở Thái Bình.

Lập công với vua Lý Thái Tổ khi tuổi già.

Sau chiến thắng chống quân xâm lược Tống (981), Bùi Quang Dũng lui về ở ẩn trong động Trinh Thạch, khi đó ông đã 60 tuổi. Nhà Đinh mất về tay nhà Lê (Lê Hoàn). Sau đó năm Kỷ Dậu (1009), Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập ra triều Lý.

Biết tiếng tăm Bùi Quang Dũng từ lâu, Lý Thái Tổ sai người 3 lần đem thư vào động Trinh Thạch triệu ông về Triều nhưng ông đều từ chối, nói rằng nay tuổi đã già rồi.

Đến năm 1010 niên hiệu Thuận Thiên thứ 2, tại xứ Kỳ Bố (tỉnh Thái Bình ngày nay) lại có giặc nổi dậy chống triều đình. Vua Lý Thái Tổ đã 3 lần sai tướng đem quân về đánh nhưng vẫn chưa dẹp được. Sau đó cử đại tướng Nguyễn Uy đưa quân về. Gia phả ghi: Nguyễn Uy không đánh được mà khi lâm trận lại còn nghe quân giặc nói rằng: "Uy mặc Uy, chẳng sợ chi, có ông Dũng đến vậy thì mới kinh…".

Nguyễn Uy dẫn quân về triều, tâu lại sự việc ấy với vua. Lý Thái Tổ liền cử Nguyễn Uy trực tiếp đem thư vào động Trinh Thạch, kể lại sự tình như thế và khuyên Bùi Quang Dũng trở về triều. Lúc ấy, ông mới phụng thư về Thăng Long. Vua Lý Thái Tổ rất mừng, lấy lễ tân sư đãi ông, tôn hiệu là "Minh triết Phu tử".

Bài sắc chỉ cổ của vua Lý Thái Tổ đề ở từ đường họ Bùi thôn Đồng Thanh phục dựng thời Lê

Nhân đó, ông tiến cử con trai là Bùi Quang Anh với vua Lý. Vua Lý khôi phục nguyên chức tước của ông khi trước. Lại phong cho Bùi Quang Anh làm "Anh Dực tướng quân", lĩnh chức Trấn Đông tiết độ sứ, lệnh cho Quang Anh đem quân dẹp giặc ở Kỳ Bố. Hai cha con về Kỳ Bố, đem lời nhân đức phủ dụ, khuyên giặc đầu hàng. Quân giặc cảm phục ơn đức vua Bùi tướng quân đối với vùng Kỳ Bố khi trước, đã làm lễ quy hàng. Sau đó, ông cùng con trai vỗ về dân chúng, mở mang cảnh thổ và giúp nhà Lý giữ yên một vùng lãnh thổ rộng lớn, trù phú trong một thời gian dài.

Bùi Quang Dũng trở về đất cũ Hàm Châu, được dân bản ấp nghinh tiếp mừng rỡ, vui vẻ. Sau gần 30 năm xa cách, phần mộ phụ mẫu và ngôi từ đường cùng nhà tư của ông vẫn được giữ gìn nguyên lành. Sau này, Vua Lý Thái Tổ ban cho 3 ngôi "Cấm địa" và 3 bức bia đá mộ chí tại ấp: mộ Bùi Quang Dũng, Xứ Mả tổng (Mộ thân phụ ông), xứ Nữ đồng (thân mẫu) không ai được đến.

Khi về an dưỡng tuổi già ở quê hương, ông vẫn được Vua Lý Thái Tổ cử người về thăm hỏi. Do tuổi cao, sức yếu Bùi Quang Dũng đã mất tại quê hương vào giờ Dần 13/06/1918, hưởng thọ 97 tuổi.

Bài ngự chế bia ký về Thái tổ họ Bùi của vua Lý Thái Tổ

Được tin ông qua đời, Vua Lý xúc động, bèn sai người đem quan tài đồng tụ, quách gỗ ngọc am, gấm vóc bạc vàng về khâm liệm cho ông và phong cho ông là "Trinh quốc công," phong tặng thân phụ thân mẫu của ông là "Khải tá công" và "Khải tá công phu nhân".

Tháng 8/1018 năm ấy vua Lý ngự chế bài văn bia sự trạng của Bùi Quang Dũng, cho khắc vào bia đá đưa về từ đường họ Bùi và giao cho Thái sư Khuông Việt chép bản ngự chế lên bia đá. Thợ khắc đá Phạm Công Thắng vâng mệnh vua khắc bia. Toàn văn bài văn bia đã được dịch ra chữ quốc ngữ gồm 148 câu, ghi lại trong gia phả họ Bùi ở thôn Đồng Thanh ngày nay.

Năm 1020 nhân chuyến đi tuần du vùng duyên hải, qua xứ Kỳ Bố, Lý Thái tổ ghé thăm ấp Hàm Châu thăm mộ và từ đường Bùi Quang Dũng, Lý Thái Tổ tự tay ngự đề câu đối cho họ Bùi thờ rằng:

"Bất sự nhị quân, trung liệt cao phong, Trinh Thạch động tam niên quán cổ

(Dịch: Không thờ hai vua, tiếng trung liệt cao vời vợi, động Trinh Thạch 30 năm lừng tiếng)

Lực phù nhất thống, vân lôi chính khí, Hàm Châu ấp thiên vạn tải như sinh

(Dịch: Hết sức giúp nền thống nhất, chí khí ngay thẳng vang dội, ấp Hàm Châu nghìn vạn năm vẫn còn)".

Bài ngự chế bia ký cùng đôi câu đối của vua Lý Thái Tổ hiện còn được lưu giữ ở trong phả ký và nơi thờ Bùi Quang Dũng ở Hàm Châu, cũng phần nào giúp chúng ta hiểu được công lao, chí khí, tài năng của ông đối với dân, với nước. Điều đáng quý là bài ngự chế bia ký lại là tác phẩm văn nghiệp rất hiếm của Lý Thái Tổ còn để lại cho hậu thế, ra đời sau "Chiếu dời đô"(1010) là 8 năm.

Toàn bộ bài Ngự chế bia của vua Lý là sự ca ngợi công lao của Bùi Quang Dũng đối với triều đình, đất nước và nhân dân. Đoạn kết của bài Ngự chế bia khẳng định:

“Trẫm ban thêm chế sách tặng mỗ (tức Bùi Quang Dũng) là trịnh quốc công, lại gia phong mỹ tự dựa trên đức độ bình sinh của mỗ: “cương nghị, bất khuất, chính trực, không a tòng” và ban tên thuy là: “Cương chính tướng công”… để biểu dương tấm lòng của mỗ và cũng là để bộc bạch tấm lòng chuộng hiền của trẫm vậy.

Ô hô ! mỗ hiếu trung vẹn cả đôi đường.

Tiết nghĩa song toàn hai chữ

Bia khắc bài "Bài chế bia ký về thái tổ họ Bùi" của vua Lý Công Uẩn tại từ đường Họ Bùi làng Đồng Thanh- Xã Tân Bình- TP.Thái Bình

"Đó quả là điều hiếm thấy, hiếm nghe nhất từ cổ chí kim, ở thế gian này. Trẫm mong cho tính danh của mỗ sẽ bất tử, hơn nữa nó là tấm gương cho các thế hệ bề tôi của trẫm mãi về sau soi vào” (Trích Ngự chế bia- TS. Mai Hồng viện Hán – Nôm dịch).

Không chỉ có vua Lý Thái Tổ ngự đề bia ký, câu đối mà về sau vua Lý Nhân Tông cũng có những câu đối ngự đề ở từ đường của Bùi Quang Dũng để ghi nhận công lao của ông đối với đất nước khi nhà vua về Kỳ Bố và tới thăm viếng từ đường của Bùi Quang Dũng ở ấp Hàm Châu.

Trải qua chiến tranh loạn lạc và những đời họ Bùi về sau nhiều biến động, ở từ đường chỉ còn lại tấm bia mới lại phục dựng, đôi câu đối của vua Lý ban và ba bài sắc chỉ của các vua: Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tông đều ghi chép lại trong gia phả.

Về sau, Vua Lê Thái Tông còn ban tặng dòng chữ: “Bùi Thị Hưng gia Thái tổ”.

Ngoài ra bài ngự chế bia ký trước đây còn được chép vào gia phả họ Bùi từ thời vua Lê Hy Tông vẫn còn giữ. Năm 1919 tuần phủ Thái Bình là Phạm Văn Thụ sau khi xem phả ký đã đóng dấu vào đầu của cuốn phả, đó là sự xác nhận pháp lý về tính trung thực của cuốn gia phả họ Bùi ở ấp Hàm Châu.

Về sau, kế tiếp triều Lý là triều Trần, Lê, Nguyễn… các vua đều có sắc phong, chiếu chỉ ca ngợi công lao của Bùi Quang Dũng. Hiện tại Đền làng Bùi Xá (Minh Lãng) và Đình xã Phúc Thành (Vũ Thư - Thái Bình) vẫn còn giữ những sắc phong cổ này.

Từ đường Họ Bùi thôn Đồng Thanh đã được chứng nhận di tích lịch sử quốc gia vào năm 1999 để được bảo tồn và lưu truyền.

Tin liên quan:

THIÊN SÁCH THƯỢNG TƯỚNG TRINH QUỐC CÔNG BÙI QUANG DŨNG

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 8
  • 461
  • 2,067,540