TƯ LIỆU HÁN NÔM TRONG BẢN GIA PHẢ HỌ BÙI Ở ĐỨC THỌ - HÀ TĨNH

  25/01/2017

1. Giới thiệu văn bản

Bản gia phả của dòng họ Bùi ở thôn Yên Hội xã Yên Đồng tổng Việt Yên huyện La Sơn phủ Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh (nay là thôn Yên Đồng xã Tùng Ảnh huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh)(1) là một bản phả khá dày dặn, gồm 170 trang, chữ viết nhỏ, mau, tương đối khó đọc, tác giả là Bùi Văn Phái đỗ Cử nhân khoa thi văn Quý Dậu (1873) niên hiệu Tự Đức thứ 26.

Nguyên bản viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, bản gia phả họ Bùi đã cung cấp cho người đọc biết thêm cách thức viết gia phả một cách thận trọng và những giá trị tư liệu từ bản phả đó. Phần đầu tiên là Bài tựa gia phả viết năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), nội dung bài tựa ghi lại quá trình viết phả như sau: "Việc biên thuật này không thể không dựa vào phả cũ, và cũng không thể không thận trọng với những ghi chép của đời trước. Tất cả những điều biên chép đã được tập hợp thành một tập, dựa vào phả cũ, từ cụ thuỷ tổ coi là đời thứ nhất, con cụ thủy tổ coi là đời thứ hai, và ghi chép lần lượt cho mãi đến sau này. Phả ghi chép từ thế hệ cho đến ngày sinh, cùng với thế thứ tên tuổi, ở dưới có ghi đầy đủ cả tuổi thọ, năm thi, khoa hoạn. Những ghi chép khác được biên vào phần cuối của cuốn phả để tiện xem xét".

Trong phả còn chép bài bạt làm năm Tự Đức thứ 19 (1866).

Ngoài cách thức ghi chép như những cuốn phả thông thường như là ghi thế thứ các đời, năm sinh, năm mất, giá thú, sinh con, phần mộ, bản gia phả họ Bùi còn ghi chép một cách khá khoa học những phần như phàm lệ, thế thứ của 16 đời, có phụ lục ghi các phần như: ghi tên những người có tuổi thọ trong họ; ghi tên và học vấn của những người đỗ đạt làm quan; phụ ghi những điều tai nghe mắt thấy; nghi thức tế tự; các điều ước dưỡng binh của dòng họ lập năm Minh Mệnh thứ 19 (1838); cuối cùng là ghi chép các khoản khác trong gia tộc gồm 3 khoản.

2. Những nội dung đáng chú ý

2.1. Ghi chép những người đỗ đạt làm quan

Phần này ghi chép bắt đầu từ cụ Bùi Văn Nghị, đời thứ bảy, sinh năm Bính Ngọ (đời Lê), làm Lang trung Bộ Công. Năm Ất Tỵ (1665) đời vua Lê Huyền Tông niên hiệu Cảnh Trị, biên thùy phía Nam có giặc nhòm ngó, ông tỏ lòng trung nghĩa đi dẹp loạn, khiến cho giặc phải quy phục triều đình, khôi phục lại vùng biên giới. Ông được ban cho chức Thiếu khanh Lang trung ti Công trình Bộ Công, tước Sủng Mĩ tử.

Từ đời thứ bảy về sau, đời nào cũng có người đỗ đạt thành danh, chúng tôi thống kê được: có 2 người đỗ Tiến sĩ triều Nguyễn, 15 người đỗ Cử nhân (trong đó 7 người đỗ Hương cống triều Lê, 8 người đỗ Cử nhân triều Nguyễn), 2 người đỗ Sinh đồ, và 4 người là Giám sinh Quốc tử giám. Ngoài ra có rất nhiều người là Nho sinh, Khóa sinh theo nghiệp học tuy không đỗ đạt cao song cũng giữ những chức vụ quan trọng trong làng.

2.1.1. Các vị đỗ Tiến sĩ

1/ Bùi Đình Bảo: năm 28 tuổi đỗ Cử nhân khoa Giáp Ngọ (1834), đứng hàng thứ 7. Năm 29 tuổi đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ xuất thân khoa Ất Mùi (1835), hàng thứ 7. Ông được bổ làm Biên tu Viện Hàn lâm, sau lấy cớ cha mẹ già, nhà neo người, đệ đơn xin về nhà phụng dưỡng cha mẹ. Sau nhiều lần lấy cớ từ chối việc quan, cuối cùng ông cũng nhận lời ra làm quan, phục vụ triều đình. Hiện trong bản gia phả còn ghi chép được một đạo sắc ban cho ông được thăng nhậm chức Chủ sự Thự Tri phủ phủ Triệu Phong vào tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), một lệnh chỉ tháng 11 năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) cho phép ông được nhậm chức Biên tu Viện Hàn lâm, và một đạo sắc năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) ban cho ông khi ông không may bị bệnh mà chết, truy tặng chức Tri phủ phủ Triệu Phong (chính thức) để thể hiện sự thương xót và cảm kích trước sự thanh liêm và chuyên cần của ông.

2/ Bùi Ước

Ông đỗ Cử nhân khoa thi năm Mậu Ngọ (1858) niên hiệu Tự Đức thứ 11, năm đó ông 30 tuổi. Đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Mậu Thìn (1868). Năm ông 40 tuổi, ông được nhậm chức Tri phủ phủ Lý Nhân, sau đổi nhậm chức Đốc học tỉnh Bình Định, rồi thăng chức Quốc tử giám Tư nghiệp, lại được bổ thụ chức Thị độc học sĩ, sung làm Quốc tử giám Tế tửu. Sau đổi nhậm chức Quốc sử quán Toản tu, thụ hàm Quang lộc Tự khanh. Ông mất khi đang làm quan, được phụng chuẩn cho phép mang linh cữu về quê, có quan quân thủy bộ tùy tòng.

Trong sách Các nhà khoa bảng Việt Nam, không thấy nói đến ông làm Quốc tử giám Tế tửu, điều này cũng đặt ra một điều tồn nghi khi khảo sát về hành trạng các nhà khoa bảng Việt Nam.

2.1.2. Các vị đỗ Hương cống, Cử nhân

Trong số những người đỗ Hương cống, Cử nhân, phải kể đến ông Bùi Đình Thảo. Ông thi đỗ Hương cống khoa Giáp Ngọ (1654) niên hiệu Thịnh Đức (dưới triều vua Lê Thần Tông), được nhậm chức quan Văn trong Vương phủ. Sau do có công dẹp loạn nên được thăng chức làm Tri huyện. Ông đỗ Tam trường kỳ thi xuân khoa Quý Mùi, được tái nhậm chức Tri huyện. Sau được thăng chức Lang trung Bộ Hình, thăng Tham nghị Sơn Tây, thăng Thiêm sự Tu thận y, Viện Thiêm sự, sau lại giữ chức Phó Câu kê Vương phủ, tước An Sơn tử, quản hai đội binh, giữ cung miếu xứ Hải Dương. Cả đời ông trung thành phụng sự 5 triều vua, giữ mực thanh liêm, mẫn cán. 

Trường hợp thứ hai là Tri phủ phủ Hà Hoa Bùi Đình Vĩ. Ông đỗ Hương cống khoa thi năm Quý Dậu (1693) niên hiệu Chính Hòa thứ 14, được thăng chức Tri huyện. Sau lại dự thi Xuân tam khoa trúng Tam trường, trải thời gian nhậm chức xứng chức nên thăng chức Tri phủ phủ Hà Hoa. Hiện vẫn còn 2 đạo sắc phong ban cho ông, một sắc ban cho nhậm chức Tri huyện vào năm Vĩnh Thịnh thứ 14 (1708), một sắc ban cho nhậm chức Tri phủ vào năm Long Đức thứ 3 (1734).

Trong những trường hợp đỗ Cử nhân, có hai trường hợp khi đối chiếu với các sách đã xuất bản về khoa bảng có sự khác về tên, ví dụ:

- Ông Bùi Văn Tán, đỗ Cử nhân khoa Kỷ Mão (1819), nhậm chức Tri huyện huyện Yên Dũng.

Trong sách Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Namghi là Bùi Văn Tấn, trong bản gia phả ghi chữ 讚Tán, không thể đọc là Tấn.

- Ông Bùi Văn Trứ, sau đổi là Văn Hài, đỗ Cử nhân khoa Quý Mão (1843). Sách Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Namghi là Bùi Văn Hải. Chữ 諧Hài ghi trong gia phả không thể đọc là Hải.

Theo chúng tôi, rất có thể là sách Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nammắc lỗi chính tả, song cũng có thể là các tác giả đã nhầm khi phiên âm chăng?

Ngoài ra, những người đỗ đạt Cử nhân trong dòng họ đều được bổ nhiệm những chức như Tri phủ, Tri huyện, Huấn đạo, Giáo thụ... Một dòng họ nổi tiếng khoa hoạn như thế, rất đáng để người đời kính nể.

2.2. Các đạo sắc văn

Điều đáng nói là trong gia phả còn ghi chép được khá nhiều các đạo sắc, lệnh chỉ, chỉ truyền cho các vị làm quan trong họ, như sắc phong cho Tiến sĩ Bùi Đình Bảo, Hương cống Bùi Đình Vĩ (như đã nói ở trên). Riêng trường hợp Cử nhân Bùi Đình Thảo, trong bản phả chúng tôi thống kê được 6 đạo sắc phong (5 đạo cho nhậm chức và nâng bậc, một đạo trung tặng khi ông qua đời), 4 đạo thị tỉ (giao cho nhận công việc dẹp loạn giặc dã), 1 đạo hạ chỉ (lệnh chỉ ban khen), một đạo phó chỉ, một đạo lệnh dụ và 1 đạo truyền chỉ. Theo người viết phả thì những bản sắc phong và lệnh chỉ đó vẫn được lưu giữ.

Ông là người tiếng thơm để đời, lưu danh trong sử sách và trong phả nhà. Phả ghi rằng, ông làm việc lâu ngày, thanh liêm cẩn thận, được nhà vua tin sủng, mỗi khi nhắc đến chỉ cần nói là Bùi Cống và không cần gọi tên. Đáng quý là trong số các đạo sắc, lệnh chỉ, có một đạo truyền chỉ ghi bằng chữ Nôm, có niên đại là ngày mồng 2 tháng 8 nhuận năm Dương Đức nguyên niên (1672), chúng tôi nhận thấy ở đạo truyền chỉ này, chữ Nôm và văn Nôm tương đối cổ nên phiên âm toàn văn như sau:

"Chỉ truyền các viên: hễ việc ra Khán chiến thì lấy biên ký tường minh ý công khán chiến đấy. Nhược thất [] các viên vâng ra khán chiến, quan quân nào thì phụng công thủ pháp. Khi lâm trận tiếp chiến thì cho vững vàng, khán biên công quá thì cho quả đích. Chẳng phải quan quân nào được công mà khán chiến được công đâu. Lấy một [] tường minh làm công mà thôi. 

Dẫu quan quân nào đậu lưu khu khiếp, thì khán chiến biên lên cho tường tận. Như vậy, chớ có tiền hậu bất nhất, khán chiến cũng được công. 

Nhược thiên vị tài nghĩa, dĩ vô vi hữu, hư biên ký chẳng minh thì trị lấy quân hiến. Việc phải tiên giáo giới, các viên khán chiến hợp tuân phụng hành.

Tư chỉ truyền.

Ngày mồng 2 tháng 8 nhuận năm Dương Đức nguyên niên (1672)".

2.3. Các sự tích lưu truyền

Hiện trong phả còn có phần gọi là ghi chép lại những điều nghe được qua các đời. Chẳng hạn, cụ Bùi Đình Thảo đỗ Hương cống triều Lê (như đã nói ở trên), nhiều lần tham dự việc triều chính, được vua tin sủng, nhưng cũng nhiều lần từ chối không nhận chức. Có khi được phái đi sứ ông đều tìm cách cáo từ, trở về quê, chẳng bao giờ cạnh tranh với ai. Còn con trai ông là Cử nhân Bùi Đình Vĩ, nghĩ đến cha suốt đời phấn đấu theo nghiệp học, nhiều lần từ chối không chịu tiến triều, nên rất cần cù chăm học. Đêm đông cũng đọc sách Nho, học tập tấm gương ông Trình Tử, các thư tịch đọc suốt đêm, đến nỗi mẹ kế sợ cần khổ quá nên đã nhiều lần bắt ngừng mà không chịu, phải tắt đèn đi thì mới chịu thôi, sau lại trèo lên gác để đọc sách. Khi tham dự thi Hương nhiều lần trúng Tam trường, ba lần trúng đều không nhận làm việc chính sự, mãi về già mới tham gia triều chính.

Những người không đỗ đạt làm quan trong họ thì phần lớn là những người dồn chí vào dạy cháu con, như ông Bùi Đình Quế (đời thứ 11), con đường học hành, sự nghiệp không hiển danh, vì thế ở nhà tự dạy con cháu kinh truyện, tứ thư ngũ kinh. Cũng vì thế con cháu có nhiều thành đạt đều từ chỗ ông mà ra.

Hay trường hợp ông Bùi Đình Hoè, Bùi Đình Đồng (đời thứ 11), hồi nhỏ không học hành đến nơi đến chốn, nhưng khi có con lớn đều cho theo học, không sợ tốn kém, vì thế mà các con đều trưởng thành, tuỳ theo lực học của mỗi người cũng đỗ đạt thành danh.

Nhiều ý kiến của những người nghiên cứu gia phả cho rằng, gia phả chỉ ghi lại những điều tốt đẹp, ví như ngoài phần chủ chốt ghi thế thứ các đời, nhiều dòng họ còn phô thêm đỗ Cử nhân, Tiến sĩ cốt cho sang, cho oai. Nhưng qua khảo sát, chúng tôi nhận định rằng: Đây là một bản phả mang tính chân thực cao, cụ thể là với những người đỗ đạt từ Tú tài đến Cử nhân, Tiến sĩ, chúng tôi đều tra cứu trong các sách khoa bảng và thấy rằng rất trùng khớp, ngoài ra còn phải bổ sung một số trường hợp mà các sách khoa bảng chưa khảo hết. Một trường hợp nữa là bà Bùi Thị Năm (con gái của ông Bùi Văn Diệu đời thứ mười một), làm vợ kế của Giải nguyên Phan Huy Dũng, giữ chức Binh bộ Thị lang, người xã Thuỵ Khuê, tỉnh Sơn Tây (là cháu nội của Lễ bộ Thượng thư Phan Huy Thực, chắt của Thượng thư Huy Vịnh), nguyên là người ở tổng Canh Hoạch cùng tỉnh, ba bốn đời nay đã di cư đến tổng Sài Sơn huyện Yên Sơn tỉnh Sơn Tây. 

Tra trong cuốn Phan gia công phả, đến đời Phan Huy Dũng, chúng tôi thấy ghi rằng: Bà á thất là Bùi Thị Năm. Điều này hoàn toàn trùng khớp với bản gia phả họ Bùi.

Ngoài ra ở bản phả họ Bùi, tác giả viết phả còn ghi lại chân thực cả những điều được coi là không đáng ghi vào phả, như trường hợp ông Bùi Đình Lân (đời thứ 10), là người thích quan tâm đến việc đời, tính thích tranh tụng, đến nỗi có nhiều hiềm khích với những người trong hương đảng. Đến khi chết bị xã đuổi khỏi làng, song vẫn được ghi vào phả. Hay phả còn chép lại cả một bản chúc thư viết năm Hàm Nghi thứ nhất (1884) ghi về một người vợ, người mẹ ngoa ngôn, hay chửi càn rỡ cả cha mẹ, khi chết con trưởng không được thờ cúng, phải thờ cúng ở nhà con trai thứ. Điều này khác hẳn với những nhận định của giới Phả học rằng, một trong những biểu hiện của tình trạng viết gia phả là viết cái tốt đẹp, không viết cái xấu xa, tức là những trường hợp "bất đạo, loạn luận, loạn tông, tuyệt nghĩa, nhục tiên" thì không được ghi vào gia phả.

Thế mới biết quan điểm của người viết bản phả này thật sự thẳng thắn, coi đó là điều răn dạy cho con cháu đời sau, giữ gìn nền nếp gia phong của dòng họ.

2.4. Những điều ước dưỡng binh của bản tộc

Những điều ước dưỡng binh của bản tộc lập năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), gồm 9 điều, phần đầu ghi như sau: "Có con trai thì có lính, đó là nghĩa nên làm, hơn nữa chớ ngại gian nan mà không ứng hành binh dịch... Người đi thì cha mẹ lao khổ, người ở thì không nên xa lánh mà không đoái hoài đến. Người ở lại thì hợp lực giúp đỡ để người đi không thể làm bậy mà ghét hại nhau. Khiến cho trên thì tôn kính người thân, dưới thì yêu quý nhau như bạn bè".

Trong số những điều ước, có điều qui định: "Trong họ, phàm đến lượt nhận binh, cứ chiếu theo những ai theo khoa trường thì cho phép miễn trừ việc binh. Cứ nhà ai nhiều con trai khoẻ mạnh sẽ tuyển chọn cho đi lính". Hoặc những người đi lính được hưởng những đặc quyền đặc lợi để khỏi bị thua thiệt, hoặc có mẹ già, vợ trẻ ở nhà đều được dòng họ quan tâm. Điều này thể hiện tính trật tự, qui củ của một dòng họ có sự cố kết các mối quan hệ huyết thống.

3. Nhận xét chung

Đây là bản gia phả của một dòng họ nổi tiếng về truyền thống hiếu học ở một vùng đất văn hiến với nhiều nhân tài kiệt xuất. Bản gia phả ghi được 16 đời với những cách thức chặt chẽ và cẩn trọng trong cách viết phả. Giá trị tư liệu quý ở bản gia phả này là đã khái quát được sự nghiệp khoa cử cũng như quan trường của những người trong dòng họ, từ đó bổ sung nguồn tư liệu phong phú khi nghiên cứu về hành trạng các nhà khoa bảng Việt Nam.

Ngoài ra bản gia phả còn cung cấp những tư liệu hữu ích cho việc nghiên cứu gia phả các dòng họ và những tư liệu Hán Nôm có giá trị khác.

 

Chú thích:

(1) Đầu năm 2007, chúng tôi được Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Nhuận giao cho dịch bản gia phả này. Bản dịch được Tiến sĩ hiệu đính. Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn.

Tài liệu tham khảo

1. Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. Văn học, H. 2005.

2. Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt NamNxb. Văn hóa -Thông tin, 2002.

3. Phan gia công phả, Nguyễn Ngọc Nhuận dịch và chú giải, Nxb. Thế giới, 2006.

4. Tạp chí Hán Nôm số 1/2003, số đặc biệt về gia phả./.

ĐỖ THỊ BÍCH TUYỂN (Theo Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 11
  • 16944
  • 4,331,165