TỨ THƯ QUAN HÀNH

  15/02/2017

Năm 1944, trong bài Bùi Huy Bích  danh nhân truyện ký, in trong bán nguyệt san số 142, do nhà in Tân Dân xuất bản, Trúc Khuê Ngô Văn Triện(1) viết: “Tứ thư quan Hành dọn lại bộ Tư thư đại toàn của Tàu, làm thành một bộ sách giản ước cho học trò dễ học – Quan Hành là do kẻ hậu học gọi thế, chỉ nghĩa là bộ sách do quan Hành tham tụng sửa dọn”.

Hơn ba mươi năm sau, trong bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí văn học số 3/1975, GS. Trương Chính cho biết: “Trong khi dạy học, ông [Bùi Huy Bích] có dọn lại bộ Tứ thưcho học trò đi thi, thường gọi là Tứ thư quan Hành, tức là sách Tứ thư do quan Hành tham tụng soạn. Sách này đến thời Tự Đức vẫn nhiều người dùng. Nguyễn Thông(2)chê lắm, cho là Bùi Huy Bích đã cắt xén đạo Khổng để cho sĩ tử học cái ngọn mà không biết cái gốc”.

     Cuốn Hoàng Việt thi văn tuyển, tập I, do Nhà xuất bản Văn hoá xuất bản năm 1957, nhóm Lê Qúy Đôn trích dịch chú thích. Ở chú thích (2), có đoạn “...[Bùi Huy Bích] trước tác nhiều sách, thường gọi là sách Hành tham”.

     Như vậy là, không riêng gì Tứ thư do Bùi Huy Bích “dọn lại”, mà tất cả những trước tác của Bùi Huy Bích đều được gọi là sách Hành tham, hoặc sách quan Hành, tức là sách do quan Hành tham tụng soạn. Đến đây đã rõ, Tứ thư quan Hành là tên gọi nôm na một trước tác của Bùi Huy Bích chứ không phải nhan đề sách. Do đó không thể tìm thấy Tứ thư quan Hành trong bất cứ một thư mục Hán Nôm nào. Vậy, Tứ thư quan Hành là sách nào, mặt mũi ra sao?

     Chúng ta đều biết rằng, Bùi Huy Bích thuở nhỏ rất thông minh, 18 tuổi đỗ Hương cống, 25 tuổi đỗ Hoàng giáp. Năm 1782 ông được cử đương chức Hành tham tụng kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Kế Liệt hầu. Ông là người có bản lĩnh. Sống trong xã hội rối ren, chúa Trịnh khuynh loát vua Lê, triều thần hục hặc với nhau, ông chán nản bèn cáo bệnh từ quan. Khi Tây Sơn lấy lại được Thăng Long và cả khi vua đầu tiên của nhà Nguyễn làm chủ thiên hạ, Quang Trung hay Gia Long đều mời ông ra nhậm chức, ông đều từ chối. Ông bất đắc chí trên con đường hoạn lộ, ở nhà sưu tập thơ văn, sáng tác văn học, mở lớp dạy học trò. Ông thấy kinh điển Nho gia đồ sộ và nhiều điều uyên áo, khó hiểu, nên ông đã tóm lược, chú thích để học trò dễ học, dễ làm bài khi thi. Ông để lại cho hậu thế khối lượng lớn tác phẩm. Chỉ riêng tóm lược các kinh điển Nho gia, theo Thư mục Hán Nôm – Mục lục tác giả(3), ông đã soạn được các tác phẩm:

     1. Ngũ kinh tiết yếu

     2. Tính lý đại toàn tiết yếu

     3. Tính lý tiết yếu

     4. Chu lễ chú sớ san dực tiết yếu

     5. Chu lễ tiết yếu

     6. Luận ngữ tiết yếu

     7. Thư kinh tiết yếu

     Qua đây, chúng ta thấy Bùi Huy Bích đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để “tiết yếu”. Công việc “tiết yếu” ấy là sách giáo khoa của học trò. Trong danh mục sách “tiết yếu” kể trên, chúng ta thấy có Ngũ kinh tiết yếu mà không thấy Tứ thư tiết yếuTứ thư, Ngũ kinh là kinh điển Nho gia, sách gối đầu giường của nhà Nho và sĩ tử. Lẽ nào Tồn Am đã tiết yếu Ngũ kinh mà không tiết yếu Tứ thư.

     Kho sách cổ do Viện Nghiên cứu Hán Nôm quản lý có bộ sách Tứ thư tiết yếu, ký hiệu AC – 226, gồm 4 tập, dày khoảng 1.300 trang, khổ 17 cm x 25 cm.

     Nội dung sách phần chia như sau:

     Tập 1: Đại học, Trung dung

     Tập 2: Luận ngữ

     Tập 3: Mạnh tử

     Tập 4: Mạnh tử

     Bìa sách không có chữ - cả 4 tập đều một loại chữ in mộc bản. Ở tập 1, tờ đầu của ruột sách có dòng chữ lớn in đậm Tứ thư tiết yếu. Hai bên dòng chữ lớn này có lạc khoản Bùi thị nguyên bảnThượng tầng tăng bổ. Mặt sau của tờ đầu ghi Thành Thái nguyên niên tân thuyên và Liễu Văn Đường tàng bản. Tờ tiếp theo có lời tựa Tứ thư tiết yếu tự. Ở lời tựa có mấy điểm đáng lưu ý:

     Một là, cắt nghĩa “tiết” và “yếu” – “Tiết” và “yếu” đều là “ước”. “Ước” tức là tóm tắt làm cho gọn lại, hay như Trúc Khê nói “dọn lại”.

     Hai là, nói rõ mục đích của “ước” là để tiện cho “quyết khoa”, tức là phục vụ khoa cử, làm chức năng sách giáo khoa.

     Ba là, so sánh bản của họ Bùi với các bản khác, cho rằng bản của họ Bùi tốt hơn cả.

     Bốn là, trước đây đã khắc in Ngũ kinh [tiết yếu], nay khắc in Tứ thư [tiết yếu].

     Năm là, trong đó huấn thích và viện dẫn nhất đều theo nguyên bản và đặt nhan đề là tiết yếu.

     Chúng ta có thể đoán biết, đây là lời tựa của nhà in Liễu Văn Đường, đề tựa khi khắc in Tứ thư tiết yếu vào năm Thành Thái thứ 7 (1895). Lời tựa và lạc khoản đều cho biết Tứ thư tiết yếu là trước tác của họ Bùi. Vậy Tứ thư quan Hành chính là Tứ thư tiết yếu. Nhan đề này do Tồn Am đặt cho trước tác của mình. Sách đó vẫn tên đó, không có tên nào khác. Có điều, đương thời kính mộ tài năng và đức độ của quan Hành tham tụng Bùi Huy Bích, người ta hay gọi các sách do cụ biên soạn là sách của cụ quan Hành. Dần dần tên gọi đó lại được tỉnh lược đi cho gọi “sách của cụ quan Hành” thành “sách quan Hành”, từ đó mới gọi Tứ thư tiết yếu thành Tứ thư quan Hành.

      Tứ thư tiết yếu (Tứ thư quan Hành) không chỉ đơn thuần “dọn lại” Tứ thư đại toàn của Tàu như Trúc Khê Ngô Văn Triện nói. Ở đó, Bùi Huy Bích còn tập hợp các chú thích của các Nho sĩ Trung Hoa (tập chú). Những chỗ cần thiết, ông huấn hỗ, thích nghĩa theo cách hiểu của ông. Xem ra những huấn thích đó thật thoả đáng – ở mỗi “thư”, ông chỉ tuyển chọn một số thiên chương. Những thiên chương này, có lẽ theo kinh nghiệm và sở học của ông, là những thiên chương tiêu biểu, thường dùng làm văn liệu, hay thường gặp trong các đề thi dành cho sĩ tử. Việc “cắt xén” này là có cân nhắc, còn như muốn hiểu được gốc của đạo Khổng đâu chỉ dừng lại ở Tứ thư.

      Theo mục lục ở đầu sách, trong 4 tập sách này, còn có 3 bài luận nói về phương pháp đọc, học Tứ thư. Ba bài luận đó có nhan đề: Độc Đại học phápĐộc Ngữ Mạnh pháp và Độc Trung dung pháp. Đáng tiếc, không rõ có một nguyên nhân nào đó, ở tập 2 thiếu mất quyển 1, trong đó có Độc Ngữ Mạnh pháp. Sách còn một vài tờ bị xếp nhầm chỗ.

Kết thúc bài viết này, chúng tôi dịch Độc Đại học pháp để bạn đọc tham khảo.

Phương pháp đọc sách Đại học

     Chu tử nói: “Sách Luận ngữ, Mạnh tử hỏi đáp từng việc, khó thấy đâu là quan trọng”. Riêng sách Đại học trước sau liên kết với nhau thành thể thống rồi được nhắc đi nhắc lại rất thú vị. Qua sách này mới biết người xưa hướng theo sự học hành là như vậy. Nhưng đọc Luận ngữ, Mạnh tử thì dễ tiếp thu hơn.

     Đọc sách không được tham nhiều, nên đọc Đại học trước tiên. Đọc Đại học đâu chỉ xem xét lời nói ở sách đó, cái chính là muốn thể nghiệm ở trong tâm của mình như yêu cái đẹp, như ghét mùi hôi. Hãy thí nghiệm nó ở trong tâm của mình xem có đúng như vậy không – Hễ có điều gì chưa đạt tới thì phải dũng cảm vươn lên không ngừng, ắt sẽ tiến xa. Không biết được điều đó thì sách vẫn là sách, ta vẫn là ta, phỏng có ích gì. Ôn công(4) khi làm sách Thông giám(5) nói rằng: “Bình sinh tinh lực dồn hết vào đó”. Ta đối với sách Đại học cũng như thế.

Chú thích:

(1) Ngô Văn Triện: Hiệu là Trúc Khê, không rõ năm sinh, mất năm 1949, người làng Thị Cấm huyện Hoài Đức tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội. Những năm 1928 – 1929 ông hoạt động trong Việt Nam quốc dân Đảng thời Nguyễn Thái Học, bị Pháp bắt giam ở Hà Nội. Ít lâu sau được tha, từ đó ông chuyên viết và dịch sách. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tản cư lên Sơn Tây và mất ở đấy. 

(2) Nguyễn Thông: sinh năm 1827 mất năm 1884, là danh sĩ, đại thần. Ông từng tham gia biên soạnKhâm định nhân sự kim giám, kiểm lại Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Ông còn sáng tác nhiều thơ văn và biên khảo sử học.

(3)Thư mục Hán Nôm – Mục lục tác giả: Sách do một nhóm cán bộ nghiên cứu Ban Hán Nôm (nay là Viện Nghiên cứu Hán Nôm) biên soạn năm 1973.

(4)Ôn công: tức Ôn Quốc công. Tư Mã Quang (1019 – 1086) đỗ Tiến sĩ năm đầu niên hiệu Bảo Nguyên đời Tống. Ông làm Tướng quốc đời Tống Triết Tông, có nhiều cải cách tiến bộ – Sau khi mất được ban tên thuỵ là Văn Chính, truy phong là Ôn Quốc công. Ông cùng với ba nhà sử học đời 

Tống biên soạn Tư trị thông giám gồm 294 quyển. Đây là bộ sử biên niên rất quan trọng của Trung Quốc

(5) Thông giám: tức Tư trị thông giám, do Tống Thần Tông đề tựa và đặt tên. Bộ sử biên niên này chép lịch sử của quãng thời gian 1362 năm kể từ thời Tam Quốc đến thời Ngũ Đại.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.364-369

(Theo ĐINH VĂN MINH-Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Tin liên quan:

Hoàng Giáp Bùi Huy Bích với Bia Văn chỉ làng Văn Điển, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì

 

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 6
  • 987
  • 1,613,360