VĂN BIA VĂN CHỈ XÃ XUÂN LŨNG MỘT NGUỒN TƯ LIỆU QUÍ

  24/01/2017

Xuân Lũng, tục gọi là Kẻ Dòng, là một xã nằm về phía tây của huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Trước Cách mạng tháng 8-1945, địa danh này thuộc tổng Xuân Lũng, huyện Sơn Vi, phủ Lâm Thao. Nói đến Xuân Lũng, tức nói đến một vùng trung du “rừng cọ đồi chè”, nơi tụ cư của người Việt cổ, với nhiều di tích, di chỉ, đền, chùa, miếu mạo… Nhưng nổi tiếng hơn vẫn là nơi có truyền thống hiếu học và khoa bảng, thể hiện qua những văn bia đặt tại văn chỉ của xã.

Văn bia văn chỉ của xã Xuân Lũng hiện được chúng tôi biết đến gồm 3 bia (5 mặt), do Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp in dập vào những năm trước đây, đang có thác bản lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Dưới đây xin giới thiệu nội dung tóm tắt của từng bia.

Bia thứ nhất: Cấu tác từ vũ bi, gồm 2 mặt, khổ 1,05 x 0,70m. Mặt trước (No 8063), trán bia chạm hình đôi rồng chầu mặt trời, xung quanh mây lửa, hai bên diềm thân bia trang trí hình hoa cúc dây leo, diềm chân bia chạm hình một bông sen ở giữa, hai góc có hai con thú chầu vào. Lòng bia khắc toàn chữ Hán, gồm 21 dòng, dòng nhiều 44 chữ, dòng ít 21 chữ, chữ chân phương dễ đọc. Mặt sau (No 8064) trang trí như mặt trước, chỉ khác thay hình đôi rồng bằng hình đôi phượng. Mặt này ghi niên đại dựng bia, vào ngày mồng 8, tháng 9, năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), cùng tên người soạn văn bia là Giám sinh Nguyễn Minh Phùng, người soạn bài tán là Giám sinh Nguyễn Công Trực.

Bia cho biết: “Nay thấy Sơn Vi là nơi thắng địa, Xuân Lũng là chốn danh hương, xưa kia các vị tiên hiền phù trì đại đạo, gây nền dựng móng khôi khoa (..) Bèn dựng bia cao, trong bia viết ký, ghi lại họ tên chức tước của các vị đỗ đạt lưu truyền cho muôn đời sau thấy rõ”. Sau đó ghi tên các vị khoa mục, bắt đầu từ Thái học sinh Bùi Ứng Đẩu đến Sinh đồ Nguyễn Danh Quán, gồm 78 vị.

Bia thứ hai: Trùng thuyên bi ký, gồm 2 mặt, khổ 1,30 x 0,67m, không trang trí hoa văn. Mặt trước (No 18721) khắc 19 dòng chữ Hán, dòng nhiều 70 chữ, dòng ít 1 chữ. Mặt này ghi niên đại dựng bia, vào ngày mồng 5 tháng 10, năm Cảnh Thịnh thứ nhất (1793). Mặt sau (No 18722), gồm 8 dòng, dòng nhiều 68 chữ, dòng ít 29 chữ. Cuối bia ghi tên người soạn bài văn là Giám sinh Dương Đạo, người khắc chữ là Nguyễn Trọng Nghiễn.

Bia ghi hoạt động của hội Tư văn xã Xuân Lũng: “Vào năm Canh Tuất (1790) trùng tu từ vũ, từ vũ cũ mà được mới thêm. Đến năm Nhâm Tý (1792), lại sửa sang tiền đường, cũng từ chỗ đổ nát mà được khang trang. Lại mời thợ chọn đá khắc bia, trên ghi hiển danh các vị đỗ đại khoa, thứ đến ghi rõ đường quan nghiệp của họ, dưới là khắp tiếp hậu sinh bản quận, đều lần lượt có tên khiến có thể truyền mãi về sau”. Phần kê tên người đỗ đạt bắt đầu từ Tiến sĩ Nguyễn Doãn Cung đến Xã trưởng Nguyễn Quốc Bưu, gồm 87 vị.

Bia thứ ba: Tu tác từ chỉ bi, gồm 1 mặt (No 18720), khổ 0,96 x 0,62m. Trán bia chạm hình đôi rồng chầu mặt trời, diềm bia không trang trí hoa văn. Lòng bia khắc 15 dòng chữ Hán, dòng nhiều 44 chữ, dòng ít 1 chữ. Bia do Thông phán Nguyễn Văn Thịnh soạn thảo, cử nhân Nguyễn Thông nhuận sắc.

Khác với 2 bia trên, bia thứ ba không ghi niên đại, song căn cứ vào nội dung, thấy nhắc đến năm Tân Mùi, vốn là năm hội Văn thân xã Xuân Lũng đứng ra quyên góp tiền và tu tạo lại văn chỉ; lại thấy cả chức Bắc Kỳ Nghị viên - chức vụ xuất hiện thời cận đại, thì có thể đoán định năm Tân Mùi nói trong bia ứng với năm 1931, tức năm đó dựng bia, hoặc muộn hơn đôi chút. Bia cũng ghi tên người đỗ đạt, từ Giám sinh Nguyễn Thuận đến Nguyễn Ngữ, gồm 37 vị.

Giá trị tư liệu của cụm văn bia xã Xuân Lũng thể hiện trên nhiều mặt. Nhờ những văn bia này, ta có thể biết tại một vùng quê cách xã Hà Nội ngày nay chừng 100 km về phía Tây Bắc, nhưng đây là một vùng văn hiến, có nhiều người thành đạt bằng con đường khoa cử. Giới nghiên cứu biết đến xã Phượng Dực - một làng vùng đồng bằng, có 230 người đỗ đạt khao trường(1), thì ở xã Xuân Lũng - một làng vùng trung du, theo thống kê của chúng tôi, có 205 người đỗ đạt theo thứ bậc khác nhau, trong đó có 4 vị đại khoa, 21vị trung khoa (17 Giám sinh, 4 cử nhân), 122 vị tiểu khoa (113 Sinh đồ, 9 Tú tài). Số còn lại là Nho sinh (12 vị), quan chức (8 vị: 1 Tri phủ, 2 Tri châu, 5 Tri huyện)… Đây có thể coi là một trong những cụm văn bia tiêu biểu ghi lại được nhiều tên người đỗ đạt ở cấp vnă chỉ hàng xã của nước ta mà chúng tôi được thấy.

Riêng 4 vị đỗ đại khoa khắc trên bia chứa đựng những thông tin mới giúp vào việc bổ sung, đính chính tiểu sử cho các nhà khoa bảng. Đó là Bùi Ứng Đẩu: vị này thấy hai lần ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), vừa với tư cách đỗ Thái học sinh vào năm 1400(2), vừa với tư cách không chịu cộng tác với quân Minh(3), nhưng chỉ biết ông là người huyện Sơn Vi. Các sách Đăng Khoa lục (ĐKL) viết về ông, hoặc để trống tên xã, hoặc ghi là “khuyết xã”. Đến bia Cấu tác tự vũ bi (Bia thứ nhất, dựng năm 1730), ghi ông đứng thứ nhất trong số các vị tiên hiền khoa mục của xã. Nhờ vậy giúp ta xác định được Bùi Ứng Đẩu là người xã Xuân Lũng của huyện Sơn Vi.

Hay Nguyễn Doãn Cung: vị này trong ĐVSKTT nhắc đến ông từng đi sứ sang nhà Minh vào năm 1489(4) và 1499(5), đều ghi là Nguyễn Khắc Cung. Các sách ĐKL ghi giống như ĐVSKTT. Còn bia Trùng thuyên bi ký (Bia thứ hai, dựng năm 1793) ghi như vừa nêu. Cũng cần nói thêm, trong số 205 người đỗ đạt của xã qua các đời khắc trên bia, không thấy ai mang họ Nguyễn Khắc, chỉ thấy 11 người mang họ Nguyễn Doãn (xem phần phụ lục). Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Toại cũng ghi nhận: Gia phả họ Nguyễn ở Xóm Lũng Bô xã Xuân Lũng ghi tên ông là Nguyễn Doãn Cung(6).

Qua đây có thể khẳng định do tự dạng giữa chữ doãn và chữ khắc  giống nhau, nên khi khắc chữ, đã có sự nhầm lẫn, từ Nguyễn Doãn Cung thành Nguyễn Khắc Cung. Sách sau dẫn theo sách trước, tạo nên sự sai sót đó.

Hoặc Nguyễn Mẫn Đốc, văn bia cũng ghi lại những chi tiết có giá trị để tìm hiểu về vị Bảng nhãn đất Xuân Lũng. Văn bia ghi: “Nguyễn Mẫn Đốc, 21 tuổi đỗ đầu khoa thi Tiến sĩ năm Mậu Dần [niên hiệu Quang Thuận thứ 3 (1518), đời Lê Chiêu Thống]. Thi Đình trúng Bảng nhãn. Làm quan đến chức Hàn lâm viện thị thư. Năm 27 tuổi theo vua [vào Thanh Hoa], tuẫn tiết. Đến thời Lê Trung hưng được gia phong Đại Vương, phong Thượng đẳng thần. Từ thi Hương đến thi Hội, ông đều đỗ đầu. Ông là con của Lại bộ Tả thị lang Nguyễn Doãn Cung”.

Như vậy, giữa ông và Nguyễn Doãn Cung còn là mối quan hệ cha con, hai người cùng đỗ Tiến sĩ, cùng làm quan giữ khí tiết trong triều…

Cũng căn cứ vào văn bia, ta thấy hội Tư văn của xã Xuân Lũng ra đời từ khá sớm, xuất hiện vào đầu thế kỷ 18, tồn tại cho đến những năm đầu của thế kỷ 20, với tên gọi mới là hội Văn thân. Theo cơ cấu làng xã cổ truyền của người Việt, đặc biệt với các làng văn hiến, vai trò của hội Tư văn đã được khẳng định, bởi họ là người đứng ra lo việc tế thờ các bậc tiên hiền và duy trì các hoạt động về văn hóa giáo dục ở địa phương. Điều đáng chú ý hơn phải kể đến quan điểm ghi tên người đỗ đạt của hội Tư văn ở đây: họ không chỉ chú trọng khắc tên người đỗ đại khoa, trung khoa, tiểu khoa như nhiều địa phương khác từng làm, mà mở rộng đến các đối tượng khác, như các vị Xã trưởng, Viên tử, miễn sai…Tức những người được thừa hưởng từ nền giáo dục Nho học. Còn những người khác, vì lý do nào đó chưa được khắc vào bia, nhưng có nguyện vọng, vẫn được hội Tư văn của xã đáp ứng, bằng cách ghi thành mục “Vọng nhập”, đặt cuối bia (No 18720). Sự phân biệt này chắc chắn có tác dụng khuyến khích học tập. Rất có thể nhờ đó mà đến nay làng Dòng vẫn phát huy được tinh thần hiếu học, ngày càng có nhiều người đỗ đạt với học hàm học vị cao(7).

Tóm lại, với 3 văn bia ở văn chỉ xã Xuân Lũng đã góp phần bổ sung tiểu sử cho một số nhà khoa bảng Việt Nam; đồng thời cung cấp cho ta một danh mục về các vị khoa trường ở một xã thuộc vùng trung du Bắc Bộ. Đây là một minh chứng để nói rằng, đất Phú Thọ cũng là một trong những nơi sản sinh nhiều nhân tài, đóng góp vào sự phát triển chung của nền văn hóa dân tộc.

Dưới đây, để bạn đọc có tư liệu tham khảo, chúng tôi xin công bố một số các vị khoa mục của xã Xuân Lũng, trong 205 vị được khắc trên 3 tấm bia nói trên.

STT

Họ và tên

Khoa thi

Thứ bậc

hoặc quan chức

(1)

(2)

(3)

(4)

1

Bùi Tư Thuận

 

Cử nhân

2

Bùi Ứng Đẩu

1400

Thái học sinh

 

3

Dương Đạo

 

Giám sinh

4

Đào Công Giám

 

Sinh đồ

5

Đào Danh Hằng

 

Sinh đồ

6

Đào Gia Hội

 

Sinh đồ

7

Đào Huy Cơ

 

Sinh đồ

8

Đào Huy Cơ

 

Giám sinh

9

Đào Kim Giám

 

Quan viên tử

10

Đào Vinh Chinh

 

Sinh đồ

11

Đào Vinh Đạt

 

Quan viên tử

.......      

14 người xin được khắc vào bia (vọng nhập) gồm Cựu chánh tổng Nguyễn Huy Giai, Cựu chánh tổng Nguyễn Trinh Cát, Nguyễn Văn Cấp (đỗ nhất trường, Trú phòng), Nguyễn Văn Vịnh, Nguyễn Liên, Nguyễn Hậu, Nguyễn Văn Hoán, Đặng Hữu Dụ, Nguyễn Xuân Dương (đỗ nhị trường), Nguyễn Khắc Toản, Thưởng thụ Chánh đội trưởng Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Thế Trường, Cựu phó lý Nguyễn Hứa, Nguyễn Thế Trung.

Chú thích:

(1) Xem Phượng Dực đăng khoa lục. Nguyễn Tá Nhi sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. Nxb. KHXH, H.1995.

(2) “Mùa thu, tháng 8, Quý Ly mở khoa thi Thái học sinh. Lấy đỗ bọn Lưu Thúc Kiệm 20 người (…). Đầu đề bài phú là “Linh kim tàng”. Các học trò xin giảng nghĩa đề thi. Quan trường hỏi: “Có lệ cũ như vậy không?” Duy có Bùi Ứng Đẩu trả lời rằng triều Tống có Tôn Hà Khoa đã hỏi đề thi (…)Ứng Đẩu ngươi Sơn Vi Hoàng Văn Lâu dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính, Nxb KHXH, H.1993, T2, tr.200.

(3) “Người Minh lùng tìm những người ẩn dật ở rừng núi, người có tài có đức, thông minh chính trực (…) lục tục đưa dần bản thần họ về Kim Lăng, trao cho quan chức, rồi cho về nước làm quan phủ, châu, huyện. Những người có tiếng tăm một chút đều hưởng ứng. Duy có Bùi Ứng Đẩu từ chối”. Sđd. tr.220.

(4) “Mùa đông, tháng 10, ngày 19, sai bọn bồi thần Nguyễn Khắc Cung, Bùi Xương Trạch, Nguyễn Hán Đình sang tuế cống nhà Minh” Sđd, tr.506.

(5) “Ngày Canh Tý 15, nhà Minh sai Hành nhân ty hành nhân Từ Ngọc sang dụ tế Thánh Tông Hoàng đế (…). Trước đó, ngày mồng 9 tháng ấy, vua sai Binh bộ Thượng thư Cống Xuyên bá Lê Năng Nhượng, Thiếu bảo Trịnh Công Đán, Hình bộ Tả thị lang Nguyễn Khắc Cung (…) sang trạm Thì Cầu” Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long dịch và chú thích, Hà Văn Tấn hiệu đính. Sđd, T3, tr.21.

(6) Xem Kẻ Dòng nội truyện. Nguyễn Văn Toại. Nxb Văn Hoá – Thông tin, H. 1994, tr.70.

(7) Theo thống kê của Nguyễn Văn Toại, tính từ năm 1960 đến năm 1993, làng Dòng có 17 người bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ và Phó tiến sĩ, trong đó có 2 người là Giáo sư, 3 người là Phó giáo sư. Sđd, tr.255-256.

Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.290-303

(Theo NGUYỄN HỮU MÙI-Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Bình luận

Tin tức mới

Đăng ký nhận tin tức qua Email

Lịch vạn niên
Lượt truy cập
  • 10
  • 2415
  • 1,537,371